Ngày 20/6/1987, báo Văn nghệ in một truyện ngắn tên là Tướng về hưu. Người viết là một cán bộ ngành bản đồ, 37 tuổi, gần như vô danh. Nguyễn Huy Thiệp (1950 – 2021) là nhà văn Việt Nam thời kỳ Đổi mới, người được nhiều nhà phê bình xem là bậc thầy truyện ngắn của văn xuôi sau 1975, tác giả Tướng về hưu, Những ngọn gió Hua Tát, Không có vua và Muối của rừng. Năm 2022, một năm sau khi ông mất, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Từ Thái Nguyên đến làng Khương Hạ

| Tên | Nguyễn Huy Thiệp (không dùng bút danh; vở kịch Mổ nhà văn ký tên Thích Thiện Ngân) |
| Năm sinh – năm mất | 29/4/1950 – 20/3/2021 (Tuổi Trẻ và báo Văn Hóa ghi ngày sinh 20/4/1950) |
| Quê quán | Sinh ở Thái Nguyên; quê gốc làng Khương Hạ, xã Khương Đình, huyện Thanh Trì cũ (nay thuộc Hà Nội) |
| Học vấn | Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (tốt nghiệp 1970) |
| Thể loại | Truyện ngắn (sở trường), kịch, tiểu thuyết, tiểu luận |
| Tác phẩm tiêu biểu | Tướng về hưu, Những ngọn gió Hua Tát, Không có vua, Muối của rừng, Những người thợ xẻ, Chảy đi sông ơi, Con gái thủy thần, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội (2006, tiểu luận Giăng lưới bắt chim); Huân chương Văn học Nghệ thuật của Pháp (2007); giải Nonino của Ý (2008); Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (truy tặng 2022) |
| Trong SGK hiện hành | Muối của rừng (Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo; Ngữ văn 12 Kết nối tri thức; Ngữ văn 12 Cánh diều) |
Ông chào đời ở Thái Nguyên khi cuộc kháng chiến chống Pháp còn chưa kết thúc. Trả lời báo Le Monde nhiều năm sau, ông kể mới sinh được mấy ngày thì mẹ đã phải đặt con vào chiếc gùi, địu trên lưng mà chạy giặc. Tuổi thơ của ông là một chuỗi những lần chuyển nhà qua các làng quê trung du và đồng bằng Bắc Bộ: Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc. Nhà nghiên cứu Mai Anh Tuấn, trong bài viết trên tạp chí Tia Sáng, nhắc riêng bến Cốc bên sông Cà Lồ, nơi cậu bé sống với mẹ và ông bà ngoại, ít bạn cùng tuổi và hay tìm đến nhà thờ đọc sách.
Năm 1960, gia đình về định cư hẳn ở làng gốc Khương Hạ, ven Hà Nội. Ông ngoại là người dạy cậu những bài thơ Đường, câu ca dao, nét chữ Hán đầu tiên, nhưng cũng chính ông ngoại ngăn cháu làm thơ. Không được làm thơ, cậu chuyển sang viết những mẩu truyện nhỏ, câu ngắn như lời nói thường. Mai Anh Tuấn cho rằng lối văn tối giản của Nguyễn Huy Thiệp về sau có mầm mống từ chính những trang tập viết ấy.
Mười năm “úp mặt vào núi” ở Tây Bắc
Tốt nghiệp khoa Sử năm 1970, ông được phân công lên dạy học ở miền núi Tây Bắc. Trong một cuộc phỏng vấn với nhà báo Đức Katharina Borchardt được Wikipedia tiếng Việt dẫn lại, ông nói mình “bị” đưa lên đó vì lý lịch gia đình không được xếp loại tốt. Mười năm ở vùng cao (Thư viện Quốc gia Pháp ghi tỉnh Sơn La) về sau được chính ông gọi là thời gian “úp mặt vào núi đọc sách”, theo lời báo Nhân Dân dẫn lại.
Đó là mười năm đọc Tư Mã Thiên, chư tử Trung Hoa, tiểu thuyết Nga và viết trong im lặng. Một số truyện về sau gom vào tập Những ngọn gió Hua Tát được ông viết từ năm 21 tuổi. Rừng núi, bản làng, những người đi săn và những chuyện kể của người Thái trở thành vốn liếng cho cả một mảng truyện. Năm 1980 ông về Hà Nội, làm ở Bộ Giáo dục, rồi chuyển sang Công ty Kỹ thuật trắc địa bản đồ thuộc Cục Bản đồ.
Tháng 6/1987: Tướng về hưu và “hiện tượng Nguyễn Huy Thiệp”
Tháng 5/1986, báo Văn nghệ in hai truyện ngắn đầu tiên của ông, Nàng Sinh và Cô Mỵ (Wikipedia tiếng Việt kể thêm Muối của rừng trong cùng đợt). Tháng 9 có thêm Vết trượt. Những truyện ấy được đọc, nhưng chưa ai nói đến một “hiện tượng”.
Mọi thứ đổi khác khi Tướng về hưu ra mắt. Truyện kể về một vị tướng về hưu trở lại sống cùng gia đình người con trai ở Hà Nội, giữa những toan tính rất đời thường mà ông không sao hiểu nổi. Thư viện Quốc gia Pháp, trong bài tưởng niệm năm 2021, gọi truyện ngắn này là dấu hiệu nhận diện của văn học Việt Nam thời hậu Đổi mới. Năm 1988 truyện được dựng thành phim cùng tên.
Từ 1987 đến đầu thập niên 1990 là những năm sung sức nhất và cũng nhiều sóng gió nhất của ông. Khen và chê đến cùng lúc, có khi trên cùng một tờ báo. Danh mục trên Wikipedia ghi năm 1989 đã có cuốn Tác phẩm và dư luận (tạp chí Sông Hương và Nhà xuất bản Trẻ), gom cả truyện lẫn những bài tranh luận quanh truyện của ông, một chuyện hiếm thấy với người mới in được vài năm.
Ngay sau khi ông mất, nhà phê bình Huỳnh Như Phương viết trên Tuổi Trẻ rằng xét riêng thể truyện ngắn có thể đặt Nguyễn Huy Thiệp cạnh Nam Cao; trong cùng bài, ông xếp Nguyễn Huy Thiệp với Vũ Trọng Phụng vào hàng những người viết văn xuôi có số phận lạ lùng nhất thế kỷ 20. Về bối cảnh văn học những năm ấy, bạn đọc có thể xem thêm bài Nguyễn Huy Thiệp và bước ngoặt của văn học Việt Nam sau 1975.
Làng quê, rừng núi, phố phường: ba vùng truyện
Báo Nhân Dân, trong bài tưởng niệm tháng 3/2021, chia truyện ngắn của ông thành ba mảng đề tài. Cách chia này khá tiện để người mới đọc tìm đường:
| Mảng | Truyện tiêu biểu (năm) | Ghi chú |
|---|---|---|
| Nông thôn Bắc Bộ | Chảy đi sông ơi (1985), Những bài học nông thôn (1988), Thương nhớ đồng quê (1992), Chăn trâu cắt cỏ (1996), Chú Hoạt tôi (2001) | Thương nhớ đồng quê thành phim năm 1995 |
| Rừng núi Tây Bắc | Những ngọn gió Hua Tát (1971 – 1986), Muối của rừng (1986), Những người thợ xẻ (1988) | Những người thợ xẻ thành phim năm 1998 |
| Đời sống thị dân | Huyền thoại phố phường (1983), Tướng về hưu (1987), Không có vua (1987) | Tướng về hưu thành phim năm 1988 |
Chất làm nên giọng Nguyễn Huy Thiệp thì nhiều người đã tả: câu văn rất ngắn, đối thoại gọn và gắt, gọi thẳng tên sự vật, xen những câu như châm ngôn. Nhà văn Nguyễn Văn Thọ, bạn văn lâu năm của ông, viết trên VnExpress rằng che tên tác giả đi người ta vẫn nhận ra truyện của ông. Cái thực và cái huyền hoặc thường đi cạnh nhau: một ông giáo làng, một cô gái thủy thần, một con khỉ trong rừng xuân đều có thể bước vào cùng một trang.

Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết: khi người xưa bước xuống bệ
Năm 1988, ông in ba truyện ngắn mượn bối cảnh lịch sử cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19: Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết. Trong đó xuất hiện những nhân vật ai cũng biết như Quang Trung, Gia Long, Nguyễn Du, nhưng không đặt trên bệ thờ. Họ có lúc nhỏ nhen, có lúc khó hiểu, được kể qua nhiều điểm nhìn chọi nhau.
Bộ ba lập tức gây tranh cãi dữ dội. Thư viện Quốc gia Pháp tóm lại rằng ông bị chỉ trích là xúc phạm danh dự dân tộc, trong khi một số nhà phê bình lại đánh giá cao sự táo bạo của cách viết. Cũng theo nguồn này, nhiều cây bút trẻ về sau lấy loạt truyện ấy làm mẫu để viết về lịch sử theo cách khác. Ông còn viết thêm những truyện về các danh nhân văn chương như Tú Xương, Nguyễn Bính, Đề Thám, nhưng không truyện nào gây bão như bộ ba năm 1988.
Muối của rừng: một truyện ngắn, ba bộ sách giáo khoa
Trong chương trình Ngữ văn 2018, học sinh gặp Nguyễn Huy Thiệp qua một truyện duy nhất là Muối của rừng, nhưng truyện này có mặt ở cả ba bộ sách:
| Sách – bài học | Vị trí | Đọc thêm trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 6 (Sống với biển rừng bao la) | Văn bản đọc chính | Soạn bài Muối của rừng |
| Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 4 (Yếu tố kì ảo trong truyện kể) | Văn bản đọc chính | Muối của rừng: tác giả – tác phẩm |
| Ngữ văn 12 Cánh diều, tập 1 – Bài 1 (Truyện truyền kì và truyện ngắn hiện đại) | Văn bản đọc chính | Tóm tắt Muối của rừng |
Truyện kể ông Diểu, một người đàn ông sáu mươi tuổi, vác khẩu súng hai nòng con trai gửi về vào rừng xuân săn khỉ. Ông bắn trúng con khỉ đực; con khỉ cái liều mình quay lại cứu chồng, con khỉ con cướp súng rồi rơi xuống vực. Chuyến đi săn biến thành chuyến đi cứu: ông băng bó cho con khỉ bị thương, bế nó xuống núi rồi cuối cùng thả nó đi. Trên đường về, ông gặp hoa tử huyền, thứ hoa hiếm hoi mà người ta gọi là “muối của rừng”.

Truyện ngắn, ít nhân vật, nhưng gom được gần đủ những gì làm nên Nguyễn Huy Thiệp: rừng Tây Bắc, giọng kể điềm tĩnh, yếu tố kỳ ảo, câu hỏi về thiện và ác trong con người. Muốn có bài văn mẫu, học sinh có thể xem bài phân tích Muối của rừng.
Sau 1992: quán ăn, sân khấu và Tuổi 20 yêu dấu
Tháng 3/1992, ông xin thôi việc ở cơ quan nhà nước. Mai Anh Tuấn viết rằng ông chuyển sang kinh doanh nhà hàng; Nguyễn Văn Thọ kể bạn mình “hết đi buôn giấy lậu lại mở quán ăn” và đến cuối đời vẫn chật vật chuyện tiền nong dù sách in khắp nơi. Cũng từ đầu thập niên 1990, truyện của ông được dịch và in ở Pháp, Mỹ, Ý, Thụy Điển. Thư viện Quốc gia Pháp ghi ông là nhà văn Việt Nam đương đại đầu tiên được xuất bản tại Pháp sau chiến tranh Đông Dương.
Ông viết kịch, viết tiểu luận và thử sức với tiểu thuyết. Tiểu Long Nữ (1996) là cuốn tiểu thuyết đầu tiên được in chính thức. Tuổi 20 yêu dấu ra bản tiếng Pháp năm 2005, còn bản tiếng Việt, theo Wikipedia, phải đến năm 2018 mới phát hành trong nước. Tập tiểu luận Giăng lưới bắt chim nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội năm 2006. Năm 2004, bài tiểu luận Trò chuyện với hoa thủy tiên và những nhầm lẫn của nhà văn của ông lại khơi lên một đợt tranh luận kéo dài trên báo chí.
Tổng cộng, theo thống kê báo Văn Hóa đưa khi ông mất, ông để lại khoảng 50 truyện ngắn, 10 vở kịch và 4 tiểu thuyết. Huỳnh Như Phương tiếc rằng kịch của ông ít được dựng nên công chúng còn xa lạ với mảng này.
Những giải thưởng đến muộn
Ở nước ngoài, ông được Pháp trao Huân chương Văn học Nghệ thuật năm 2007 và nhận giải Nonino của Ý năm 2008. Trong nước, ông gần như không có giải lớn nào khi còn sống. Nhà văn Nguyễn Bình Phương, khi ấy là phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, từng nói với Tuổi Trẻ rằng Hội nợ Nguyễn Huy Thiệp vì chưa trao cho ông một giải thưởng nào.
Từ tháng 3/2020, ông mắc bệnh nặng, mọi sinh hoạt phải nhờ người nhà, và sức khỏe sa sút thêm sau khi người vợ, bà Phan Thị Trang, qua đời. Chiều 20/3/2021, ông mất tại nhà riêng ở Hà Nội. Cuối năm 2022, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật được truy tặng cho ông với truyện ngắn Tướng về hưu và tập Những ngọn gió Hua Tát; theo Tuổi Trẻ, hồ sơ được hội đồng cả ba cấp đồng thuận rất cao.
Đặt ông cạnh những cây bút cùng thời như Nguyễn Minh Châu, người mở lối cho văn xuôi sau chiến tranh, hay Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, ta thấy rõ hơn chỗ đứng riêng của Nguyễn Huy Thiệp: ông không viết về chiến tranh, mà viết về con người thời hậu chiến bằng thứ văn ngắn gọn, lạnh, và thỉnh thoảng rất dịu dàng.