Trong chương trình in sẵn của cuộc tuần hành ở Washington chiều 28/8/1963, phần phát biểu của ông chỉ xếp thứ mười sáu. Mác-tin Lu-thơ Kinh (Martin Luther King Jr., 1929 – 1968) là mục sư Báp-tít người Mỹ gốc Phi, người lãnh đạo phong trào đòi quyền công dân cho người da đen bằng con đường bất bạo động, đoạt giải Nobel Hòa bình năm 1964. Bài diễn văn ông đọc chiều hôm ấy trước Đài tưởng niệm Lincoln, I Have a Dream, được sách Ngữ văn Việt Nam dịch là Tôi có một ước mơ hoặc Tôi có một giấc mơ. Ông không phải nhà văn; văn bản của ông được học như một mẫu mực của văn nghị luận.
Từ Michael King đến Martin Luther King

| Tên trong SGK | Mác-tin Lu-thơ Kinh |
| Tên tiếng Anh | Martin Luther King Jr.; tên khai sinh Michael King |
| Năm sinh – năm mất | 15/1/1929 – 4/4/1968 |
| Quê (nơi sinh) | Atlanta, bang Georgia, Hoa Kỳ |
| Vai trò | Mục sư Báp-tít, nhà hoạt động dân quyền, chủ tịch Hội nghị Lãnh đạo Kitô giáo miền Nam (SCLC) |
| Tác phẩm, văn bản tiêu biểu | Thư từ nhà tù Birmingham (16/4/1963); diễn văn I Have a Dream (28/8/1963) |
| Giải thưởng | Nobel Hòa bình (1964); Huân chương Tự do Tổng thống (truy tặng, 1977); Huân chương Vàng Quốc hội Mỹ (truy tặng, 2004) |
| Trong SGK | Ngữ văn 11 Kết nối tri thức; Ngữ văn 11 Cánh diều; Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo (đọc mở rộng) |
Ông sinh ngày 15/1/1929 ở Atlanta, trong một gia đình mục sư; tên khai sinh là Michael King. Năm 1934, sau một chuyến đi châu Âu có ghé nước Đức, người cha đổi tên mình thành Martin Luther King, để tưởng nhớ nhà cải cách tôn giáo Martin Luther, và đổi tên con trai thành Martin Luther King Jr. Theo trang tiểu sử của Quỹ Nobel, ông học ở các trường công lập dành riêng cho người da đen tại Georgia và tốt nghiệp trung học năm mười lăm tuổi.
Năm 1948, ông tốt nghiệp cử nhân ở Morehouse College; năm 1951 tốt nghiệp chủng viện thần học Crozer; năm 1955 nhận bằng tiến sĩ thần học của Đại học Boston. Ở Boston ông gặp Coretta Scott, hai người cưới nhau năm 1953 và có bốn người con. Năm 1954, ông nhận chức mục sư nhà thờ Báp-tít Dexter Avenue ở Montgomery, bang Alabama, thành phố mà một năm sau sẽ đưa tên ông ra khắp nước Mỹ.
Hơn một năm không đi xe buýt ở Montgomery
Ngày 1/12/1955, bà Rosa Parks, một phụ nữ da đen, bị bắt vì không chịu nhường ghế cho người da trắng trên xe buýt ở Montgomery. Cộng đồng da đen thành phố quyết định tẩy chay hệ thống xe buýt, lập Hội Cải thiện Montgomery và bầu vị mục sư hai mươi sáu tuổi làm chủ tịch. Cuộc tẩy chay kéo dài từ 5/12/1955 đến 20/12/1956, khoảng 380 ngày (Quỹ Nobel ghi 382, Trung tâm King ghi 381). Trong thời gian ấy ông bị bắt, nhà ông bị ném bom. Cuộc tẩy chay chỉ kết thúc khi Tòa án Tối cao Mỹ phán quyết việc phân biệt chỗ ngồi trên xe buýt là vi hiến.
Từ Montgomery, ông thành người phát ngôn của cả một phong trào. Năm 1957, ông được bầu làm chủ tịch Hội nghị Lãnh đạo Kitô giáo miền Nam (SCLC), tổ chức vừa thành lập để điều phối các cuộc đấu tranh dân quyền ở các bang miền Nam.
Bất bạo động: lý tưởng Kitô giáo, phương pháp Gandhi
Trang tiểu sử của Quỹ Nobel tóm gọn đường lối của SCLC bằng hai vế: lý tưởng lấy từ Kitô giáo, kỹ thuật hành động lấy từ Gandhi. Bất bạo động ở đây không có nghĩa là ngồi yên. Đó là tuần hành, tẩy chay, ngồi lì ở quầy ăn dành riêng cho người da trắng, chấp nhận bị bắt hàng loạt để buộc chính quyền và dư luận phải nhìn thẳng vào sự bất công. Trong khoảng mười một năm, theo Quỹ Nobel, ông đi hơn sáu triệu dặm, diễn thuyết hơn hai nghìn năm trăm lần và bị bắt hơn hai mươi lần.
Lối đấu tranh ấy cũng quyết định giọng văn của ông. Các bài diễn thuyết của Kinh không kêu gọi thù hận; chúng viện dẫn chính những văn kiện lập quốc của nước Mỹ để đòi nước Mỹ giữ lời. Đó là chìa khóa để đọc Tôi có một ước mơ ở trường phổ thông.
Birmingham, mùa xuân năm 1963
Năm 1963, SCLC mở chiến dịch ở Birmingham, Alabama, một trong những thành phố phân biệt chủng tộc nặng nề nhất. Ngày 12/4/1963 ông bị bắt. Trong phòng giam, ông viết bức thư trả lời tám giáo sĩ ở Birmingham đã công khai chỉ trích chiến dịch; văn bản ghi ngày 16/4/1963, về sau nổi tiếng với tên Thư từ nhà tù Birmingham. Đây là bản luận chiến dài nhất của ông về lý do người da đen không thể chờ thêm nữa.
Trước Đài tưởng niệm Lincoln chiều 28/8/1963
Bốn tháng sau, Cuộc tuần hành vì Việc làm và Tự do tại Washington thu hút khoảng 250.000 người, theo số liệu của Quỹ Nobel và Cơ quan Lưu trữ Quốc gia Mỹ. Năm ấy tròn một trăm năm Tổng thống Lincoln ký Tuyên ngôn Giải phóng nô lệ, và bài diễn văn mở đầu bằng chính sự kiện đó: lời hứa trăm năm trước vẫn chưa được thực hiện. Một hình ảnh trung tâm là tờ “giấy nợ” mà nước Mỹ đã ký với mọi công dân nhưng lại trả cho người da đen bằng một tấm séc không có tiền bảo chứng.
Viện nghiên cứu Martin Luther King của Đại học Stanford cho biết hai tháng trước đó, ở Cobo Hall (Detroit), ông đã nói về giấc mơ trước khoảng 150.000 người. Ở Washington, bản đánh máy đã được phát cho báo chí từ sáng, nhưng ông không chỉ đọc theo bản ấy. Theo lời ông kể sau này, đọc đến giữa bài thì ông rời bản viết sẵn và nói tiếp những câu “Tôi có một giấc mơ” vốn đã dùng nhiều lần. Câu được trích nhiều nhất là lời ước cho bốn đứa con nhỏ:
I have a dream that my four little children will one day live in a nation where they will not be judged by the color of their skin but by the content of their character.
Tạm dịch ý: ông mơ một ngày bốn đứa con mình được sống ở một đất nước không đánh giá con người qua màu da mà qua phẩm cách. Năm 1964, Quốc hội Mỹ thông qua Đạo luật Dân quyền; năm 1965 là Đạo luật Quyền bầu cử. Cuối năm 1963, tạp chí Time chọn ông là Nhân vật của năm.
Giải Nobel Hòa bình năm ba mươi lăm tuổi
Ngày 14/10/1964, ông được báo tin đoạt giải Nobel Hòa bình. Ba mươi lăm tuổi, ông là người trẻ nhất từng nhận giải này tính đến thời điểm ấy. Ông nhận giải ở Oslo ngày 10/12/1964 và tuyên bố dành toàn bộ tiền thưởng, khoảng 54.000 đô la, cho phong trào dân quyền.
Memphis, tháng 4/1968
Những năm cuối, ông mở rộng cuộc đấu tranh sang vấn đề nghèo đói. Đầu tháng 4/1968, ông đến Memphis, bang Tennessee, để ủng hộ công nhân vệ sinh đình công. Chiều 4/4/1968, khi đang đứng ở ban công nhà nghỉ Lorraine, ông bị bắn chết. Kẻ bị kết án là James Earl Ray, người nhận tội năm 1969 rồi về sau phản cung. Ông mất khi mới ba mươi chín tuổi.
Năm 1977, Tổng thống Jimmy Carter truy tặng ông Huân chương Tự do Tổng thống. Năm 1983, Tổng thống Reagan ký luật lập Ngày Martin Luther King, kỷ niệm lần đầu ngày 20/1/1986, vào thứ Hai thứ ba của tháng Giêng hằng năm. Năm 2004, Quốc hội Mỹ trao Huân chương Vàng cho ông và bà Coretta Scott King.

Một bài diễn văn, hai tên gọi trong sách giáo khoa
| Bộ sách | Tên văn bản | Vị trí |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tôi có một ước mơ | Ngữ văn 11, tập một – Bài 3 (Cấu trúc của văn bản nghị luận) |
| Cánh diều | Tôi có một giấc mơ | Ngữ văn 11, tập hai – Bài 9 (Văn bản nghị luận) |
| Chân trời sáng tạo | Tôi có một giấc mơ | Ngữ văn 10, tập hai – Bài 9 (Khát vọng độc lập và tự do), đọc mở rộng |
Bài học trên Văn VN: soạn bài Tôi có một ước mơ (Kết nối tri thức), tác giả – tác phẩm Tôi có một ước mơ và tóm tắt Tôi có một ước mơ, dùng được cho cả bản dịch “Tôi có một giấc mơ” của Cánh diều và Chân trời sáng tạo.
Hai bản dịch khác nhau ở chữ “ước mơ” và “giấc mơ”, nhưng đều là bài I Have a Dream. Phần giới thiệu tác giả trong sách Cánh diều ghi ông đọc bài diễn văn tại Đài Tưởng niệm Lin-côn (Lincoln) ở Oa-sinh-tơn trước khoảng 250 000 người, khớp với các tư liệu của Mỹ. Khi học văn bản như một bài nghị luận, nên để ý ba điểm: luận đề được nêu từ lời hứa của Tuyên ngôn Giải phóng nô lệ; lý lẽ dựa vào chính những văn kiện mà người nghe tôn trọng; và phép lặp cú pháp “Tôi có một giấc mơ” tạo nên sức thuyết phục bằng cảm xúc ở phần cuối.