Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương được học ở hai bộ sách: Bài 3 “Hồn nước nằm trong tiếng mẹ cha” sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức và Bài 2 “Thơ Đường luật” sách Ngữ văn 10 Cánh diều. Điều học sinh hay nhầm là hai sách cùng đặt tên “Tự tình (bài 2)” nhưng in hai bài thơ khác nhau trong chùm Tự tình ba bài. Bài viết dưới đây tổng hợp văn bản, thông tin tác giả, hoàn cảnh, thể loại, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy cho cả hai bản.
Nội dung văn bản Tự tình (bài 2)
Thơ Hồ Xuân Hương thuộc phạm vi tự do, vì vậy dưới đây là toàn văn hai bài thơ theo bản phổ biến (đối chiếu Wikisource, tuyển tập Thơ Hồ Xuân Hương, NXB Văn học).

Tự tình (bài 2) trong Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
Oán hận trông ra khắp mọi chòm.
Mõ thảm không khua mà cũng cốc,
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?
Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
Tài tử văn nhân ai đó tá?
Thân này đâu đã chịu già tom!
Tự tình (bài 2) trong Ngữ văn 10 Cánh diều
Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn.
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,
Mảnh tình san sẻ tí con con!
Vì sao hai sách cùng tên mà khác bài?
Chùm Tự tình gồm ba bài thất ngôn bát cú, lưu truyền qua nhiều bản chép tay nên thứ tự đánh số không thống nhất. Trong nhiều tuyển tập và trên Wikisource, bài “Tiếng gà văng vẳng…” được xếp là bài I, bài “Đêm khuya văng vẳng…” là bài II – đây cũng là bài “Tự tình (bài II)” quen thuộc của SGK Ngữ văn 11 chương trình cũ. Sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức theo một cách sắp xếp khác nên gọi bài “Tiếng gà…” là bài 2. Khi làm bài, em chỉ cần xác định đúng câu thơ mở đầu của văn bản mình đang học.
Thông tin tác giả Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương chưa được xác định chắc chắn năm sinh, năm mất; nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bà sống vào khoảng cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX. Quê gốc của bà ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nhưng bà lớn lên và sinh sống chủ yếu ở Thăng Long, trong ngôi nhà gần Hồ Tây gọi là Cổ Nguyệt đường. Tháng 11/2021, Đại hội đồng UNESCO đưa kỉ niệm 250 năm năm sinh của Hồ Xuân Hương (năm 2022) vào danh sách các sự kiện kỉ niệm của tổ chức này.
Cuộc đời Hồ Xuân Hương nhiều éo le, đặc biệt là đường tình duyên: hai lần lấy chồng đều làm lẽ (lần đầu với ông Tổng Cóc, sau đó với ông Phủ Vĩnh Tường) và cả hai cuộc hôn nhân đều ngắn ngủi. Bà là người có học, giao du rộng với các văn nhân đương thời, từng đi nhiều nơi và để lại dấu ấn trong thơ về phong cảnh. Chi tiết hơn có ở bài tóm tắt tiểu sử Hồ Xuân Hương.
Sự nghiệp của bà gồm tập Lưu Hương kí (phát hiện năm 1964, có cả thơ chữ Hán và chữ Nôm) và khoảng vài chục bài thơ Nôm truyền tụng như Bánh trôi nước, Mời trầu, Tự tình, Đánh cờ, Quả mít… Thơ bà viết nhiều về người phụ nữ: trân trọng vẻ đẹp, cảm thông với thân phận và mạnh mẽ đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho họ.
Về phong cách, thơ Hồ Xuân Hương vừa trào phúng vừa trữ tình, đậm chất dân gian: ngôn ngữ thuần Việt, giàu thành ngữ, từ láy, cách gieo vần táo bạo, hình ảnh sinh động và giọng điệu cá tính. Xuân Diệu gọi bà là “Bà chúa thơ Nôm” (xem bài Hồ Xuân Hương được mệnh danh là gì và phong cách sáng tác của Hồ Xuân Hương).
Thông tin tác phẩm Tự tình (bài 2)
Các mục dưới đây trình bày chung cho chùm thơ, phần bố cục và giá trị tách riêng từng bài để em dễ đối chiếu với sách mình học.
Tự tình (bài 2) thuộc chùm thơ nào?
Cả hai bài đều nằm trong chùm ba bài thơ Nôm Tự tình của Hồ Xuân Hương. Đây là những bài thơ trữ tình hiếm hoi trong văn học trung đại mà người phụ nữ trực tiếp nói về nỗi lòng của chính mình. Nhà thơ Xuân Diệu từng nhận xét ba bài thơ khác nhau ở vần và giọng điệu: một bài vần “ênh” chông chênh, một bài vần “om” oán hận (bài học ở lớp 9) và một bài vần “on” mong đợi (bài học ở lớp 10).
Hoàn cảnh sáng tác
Chưa có tài liệu ghi chính xác thời điểm ra đời của chùm thơ. Các nhà nghiên cứu thường gắn chùm Tự tình với những năm tháng tình duyên lận đận của Hồ Xuân Hương – khi bà đã qua tuổi xuân thì, phải chịu cảnh làm lẽ, cô đơn. Cả hai bài đều mở ra từ một đêm thao thức không ngủ, nghe âm thanh vọng lại từ xa (tiếng gà ở bài lớp 9, tiếng trống canh ở bài lớp 10).
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: thơ thất ngôn bát cú Đường luật viết bằng chữ Nôm (8 câu, mỗi câu 7 chữ, một vần, đối ở hai câu thực và hai câu luận).
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm, kết hợp miêu tả.
- Nhân vật trữ tình: người phụ nữ lỡ làng duyên phận – cũng là chính tác giả.
Bố cục: Tự tình (bài 2) có mấy phần?
Cả hai bài đều chia 4 phần theo kết cấu đề – thực – luận – kết:
Bài “Tiếng gà văng vẳng…” (Ngữ văn 9 KNTT):
- Phần 1 – hai câu đề: nỗi oán hận của người thức trắng đêm khi nghe tiếng gà gáy sáng.
- Phần 2 – hai câu thực: nỗi sầu thảm vang lên như tiếng mõ, tiếng chuông không ai gõ.
- Phần 3 – hai câu luận: buồn rầu rồi giận vì duyên phận “mõm mòm”.
- Phần 4 – hai câu kết: tiếng gọi tri âm và lời khẳng định không chịu “già tom”.
Bài “Đêm khuya văng vẳng…” (Ngữ văn 10 Cánh diều):
- Phần 1 – hai câu đề: nỗi cô đơn, bẽ bàng của “cái hồng nhan” giữa đêm khuya.
- Phần 2 – hai câu thực: mượn rượu, ngắm trăng mà càng thấm cảnh tuổi xuân trôi, hạnh phúc chưa tròn.
- Phần 3 – hai câu luận: rêu, đá vùng lên – sự phẫn uất, phản kháng.
- Phần 4 – hai câu kết: ngán ngẩm vì xuân qua, “mảnh tình” phải chia sẻ – bi kịch làm lẽ.
Giá trị nội dung
- Bài lớp 9: diễn tả nỗi buồn, nỗi giận trước duyên phận lỡ làng; khép lại bằng thái độ cứng cỏi, không cam chịu tuổi già và sự hẩm hiu, thể hiện khát vọng được sống, được yêu.
- Bài lớp 10: thể hiện tâm trạng vừa đau buồn, vừa phẫn uất trước cảnh làm lẽ; gắng gượng vươn lên nhưng vẫn rơi vào ngao ngán, qua đó nói lên khát vọng hạnh phúc trọn vẹn.
- Chung cho cả chùm thơ: tiếng nói cảm thông với thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến và đề cao quyền sống, quyền hạnh phúc của họ – giá trị nhân đạo sâu sắc.
Giá trị nghệ thuật
- Việt hóa thể thơ Đường luật: dùng chữ Nôm, từ ngữ thuần Việt, giản dị mà giàu sức gợi.
- Gieo vần táo bạo, khó (“om” ở bài lớp 9, “on” ở bài lớp 10) mà vẫn tự nhiên, góp phần tạo giọng điệu.
- Dùng nhiều từ láy, từ mô phỏng âm thanh, từ ngữ dân dã có cá tính: “mõm mòm”, “già tom”, “văng vẳng”, “tí con con”.
- Đảo ngữ, đối, câu hỏi tu từ và động từ mạnh (“xiên ngang”, “đâm toạc”) làm nổi bật tâm trạng uất ức, phản kháng.
- Lấy động tả tĩnh (tiếng gà, tiếng trống canh giữa đêm) để khắc họa sự cô đơn.
Ý nghĩa nhan đề Tự tình
“Tự tình” nghĩa là tự mình bày tỏ tình cảm, nỗi lòng. Nhan đề cho thấy đây là tiếng nói trực tiếp của người phụ nữ về chính thân phận mình – một điều táo bạo trong văn học trung đại, khi phụ nữ thường ít được cất tiếng. Nhan đề cũng báo trước giọng thơ tâm tình, vừa buồn tủi vừa bộc trực.
Sơ đồ tư duy Tự tình (bài 2)
Sơ đồ dưới đây tóm tắt 6 nội dung cần nhớ, em có thể dùng khi ôn tập nhanh trước giờ kiểm tra.

Lời kết
Dù là bài “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom” (Ngữ văn 9) hay “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn” (Ngữ văn 10), Tự tình đều là tiếng lòng chân thật của Hồ Xuân Hương về duyên phận và khát vọng hạnh phúc. Nắm chắc văn bản đúng sách mình học, bố cục đề – thực – luận – kết và các nét nghệ thuật đặc sắc sẽ giúp em làm tốt phần đọc hiểu lẫn bài văn phân tích.
Xem thêm:
- Soạn bài Tự tình – Ngữ văn 10 Cánh diều
- Phân tích bài thơ Tự tình (bài II) “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn”
- Tuyển tập thơ Hồ Xuân Hương
- Kim – Kiều gặp gỡ (Nguyễn Du) – tác giả, tác phẩm, cùng Bài 3 Ngữ văn 9
- Mở bài Tự tình (bài 2) hay nhất – 14 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao
- Kết bài Tự tình (bài 2) hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, mở rộng, theo đề