Soạn bài Cảm xúc mùa thu (Thu hứng – bài 1) của Đỗ Phủ theo sách Ngữ văn 10 Cánh diều tập 1, Bài 2 – Thơ Đường luật. Bài soạn trả lời phần Chuẩn bị (trang 45), 3 câu hỏi trong khi đọc (trang 46) và 6 câu hỏi sau khi đọc (trang 47), có đối chiếu phiên âm – dịch nghĩa – dịch thơ để em hiểu đúng một kiệt tác của thơ Đường.
Bài thơ này cũng được học trong sách Kết nối tri thức với nhan đề Thu hứng; nếu em học bộ sách đó, xem soạn bài Thu hứng – Ngữ văn 10 Kết nối tri thức.
Chuẩn bị đọc bài thơ Cảm xúc mùa thu (trang 45)
Phần Chuẩn bị yêu cầu em xem lại Kiến thức ngữ văn về thơ Đường luật, chú ý cách đọc thơ chữ Hán (đọc kĩ dịch nghĩa trước khi đọc dịch thơ) và tìm hiểu thông tin về Đỗ Phủ.

Những điều cần chú ý khi đọc thơ Đường luật
- Thể loại: thất ngôn bát cú (8 câu, mỗi câu 7 chữ) hoặc thất ngôn tứ tuyệt (4 câu); có luật bằng – trắc, niêm, vần (thường vần bằng, gieo ở cuối câu 1, 2, 4, 6, 8) và phép đối ở hai cặp câu giữa.
- Bố cục: bài bát cú thường chia đề – thực – luận – kết (mỗi phần hai câu) hoặc chia hai phần: bốn câu đầu – bốn câu cuối.
- Văn tự: bài thơ viết bằng chữ Hán; SGK in phiên âm, dịch nghĩa và dịch thơ. Bản dịch thơ dễ nhớ nhưng có chỗ chưa sát, nên cần đọc dịch nghĩa để hiểu đúng ý từng chữ.
- Đề tài, chủ đề, không gian, thời gian: xác định cảnh gì, ở đâu, lúc nào, và cảnh ấy gợi tâm trạng gì của nhà thơ; chú ý mối liên hệ giữa các câu (cảnh – tình).
Thông tin về đại thi hào Đỗ Phủ
- Đỗ Phủ (712–770), tự Tử Mĩ, hiệu Thiếu Lăng, sinh ở huyện Củng, tỉnh Hà Nam (Trung Quốc), trong một gia đình có truyền thống Nho học và thơ ca.
- Cuộc đời gắn với biến cố loạn An Lộc Sơn – Sử Tư Minh (755–763): ông nếm trải cảnh chiến tranh, đói nghèo, lưu lạc nhiều nơi và mất trên một con thuyền nơi đất khách.
- Là nhà thơ hiện thực vĩ đại đời Đường, được gọi là “Thi thánh”; thơ ông phản ánh chân thực xã hội nên được xem là “thi sử” (lịch sử bằng thơ). Hiện còn khoảng 1.400–1.500 bài; ông đặc biệt sở trường thể luật thi.
- Thu hứng là chùm 8 bài thất ngôn bát cú viết năm 766 ở Quỳ Châu; bài được học là bài thứ nhất, ở Việt Nam quen gọi là Cảm xúc mùa thu.
Văn bản bài thơ Cảm xúc mùa thu (Thu hứng – bài 1)
Dưới đây là văn bản bài thơ để em đối chiếu khi trả lời. Phần dịch nghĩa do Văn VN biên soạn sát nghĩa từng chữ; bản dịch thơ của Nguyễn Công Trứ là bản quen thuộc trong sách giáo khoa.
Nguyên tác chữ Hán
秋興其一
玉露凋傷楓樹林,
巫山巫峽氣蕭森。
江間波浪兼天湧,
塞上風雲接地陰。
叢菊兩開他日淚,
孤舟一繫故園心。
寒衣處處催刀尺,
白帝城高急暮砧。
Phiên âm
Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,
Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm.
Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng,
Tái thượng phong vân tiếp địa âm.
Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ,
Cô chu nhất hệ cố viên tâm.
Hàn y xứ xứ thôi đao xích,
Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.
Dịch nghĩa
Sương móc trắng như ngọc làm tàn úa cả rừng cây phong,
Núi Vu, kẽm Vu hơi thu hiu hắt, âm u.
Giữa lòng sông, sóng tung trào như vọt lên tận trời,
Trên cửa ải, gió mây sà xuống sát mặt đất u ám.
Khóm cúc hai lần nở hoa, khơi lại giọt lệ những ngày qua,
Con thuyền lẻ loi buộc chặt một tấm lòng nhớ vườn cũ.
Khắp nơi rộn ràng dao thước may áo rét,
Thành Bạch Đế cao, tiếng chày đập vải buổi chiều nghe dồn dập.
Dịch thơ (bản dịch của Nguyễn Công Trứ, dùng trong SGK)
Lác đác rừng phong hạt móc sa,
Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa.
Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm,
Mặt đất mây đùn cửa ải xa.
Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,
Con thuyền buộc chặt mối tình nhà.
Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước,
Thành Bạch, chày vang bóng ác tà.
Câu hỏi trong khi đọc Cảm xúc mùa thu (trang 46)
Ba câu hỏi đặt ở ô bên lề giúp em theo dõi mạch bài thơ: cảnh thu ở bốn câu đầu, con người và hoạt động ở bốn câu sau, và chất lượng bản dịch.
Câu 1: Chú ý các chi tiết miêu tả mùa thu (trang 46)
Trả lời:
- Sương móc trắng dày (“ngọc lộ”) làm tàn úa, tiêu điều cả rừng phong – loài cây gắn với mùa thu.
- Núi Vu, kẽm Vu chìm trong hơi thu “tiêu sâm” (hiu hắt, âm u).
- Sóng giữa lòng sông tung trào như vọt lên tận trời; gió mây nơi cửa ải sà xuống sát đất, u ám.
- Khóm cúc nở hoa lần thứ hai – loài hoa đặc trưng của mùa thu; cuối bài là cảnh may áo rét, tiếng chày đập vải lúc chiều tà báo mùa đông sắp tới.
Các chi tiết cho thấy một mùa thu vừa hùng vĩ vừa ảm đạm, lạnh lẽo, rất khác vẻ trong trẻo, êm đềm thường thấy.
Câu 2: Hình ảnh và hoạt động ở bốn câu kết (trang 46)
Hình ảnh và hoạt động gì được nhắc tới ở bốn câu kết?
Trả lời:
- Hình ảnh: khóm cúc đã hai lần nở hoa; con thuyền lẻ loi được buộc lại; thành Bạch Đế cao trong buổi chiều.
- Hoạt động: nhà thơ rơi lệ khi thấy hoa cúc nở; buộc thuyền mà lòng hướng về vườn cũ; khắp nơi người ta hối hả cắt may áo rét (“thôi đao xích” – giục dao thước); tiếng chày đập vải dồn dập lúc chiều muộn.
Bốn câu cuối chuyển từ cảnh sang tình: mọi hình ảnh, âm thanh đều khơi gợi nỗi nhớ quê và thân phận tha hương của nhà thơ.
Câu 3: Đối chiếu dịch thơ với dịch nghĩa (trang 46)
Đối chiếu các câu trong phần dịch thơ với phần dịch nghĩa để có nhận xét bước đầu về bài thơ dịch.
Trả lời:
Bản dịch của Nguyễn Công Trứ dùng thể thất ngôn bát cú, giữ được vần bằng, giọng buồn và bố cục của nguyên tác, lời thơ mượt mà, dễ thuộc. Tuy vậy, một số chỗ chưa chuyển tải hết sắc thái của nguyên văn:
| Câu | Nguyên văn / dịch nghĩa | Dịch thơ | Nhận xét |
|---|---|---|---|
| 1 | “điêu thương” – làm tàn úa, tổn thương | “Lác đác rừng phong hạt móc sa” | Chỉ tả sương rơi, làm mất sức tàn phá dữ dội của sương móc đối với rừng phong. |
| 2 | “Vu sơn, Vu giáp”, “tiêu sâm” | “Ngàn non hiu hắt, khí thu lòa” | Mất hai địa danh cụ thể; “lòa” chưa diễn tả được vẻ hiu hắt, thê lương của hơi thu. |
| 3 | “kiêm thiên dũng” – vọt lên tận trời | “Lưng trời sóng rợn lòng sông thẳm” | Thêm chữ “thẳm”, làm giảm thế sóng trào dâng. |
| 5 | “lưỡng khai” – nở hai lần; “tha nhật lệ” | “Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ” | Mất chữ “lưỡng khai” – dấu mốc hai mùa thu xa quê. |
| 6 | “cô chu” – con thuyền lẻ loi | “Con thuyền buộc chặt mối tình nhà” | Mất chữ “cô”, nỗi cô đơn của người lữ khách nhạt đi. |
⇒ Nhận xét bước đầu: bản dịch thơ khá hay, giữ được hồn bài thơ nhưng không thể thay thế nguyên tác; khi phân tích cần dựa vào phiên âm và dịch nghĩa.
Trả lời câu hỏi sau khi đọc Cảm xúc mùa thu (trang 47)
Sáu câu hỏi cuối bài đi từ hoàn cảnh, thể loại đến phân tích cảnh thu, tình thu và yêu cầu viết đoạn văn.
Câu 1: Hoàn cảnh ra đời của bài thơ (trang 47)
Từ những thông tin tìm hiểu được, hãy trình bày hoàn cảnh ra đời của bài thơ.
Trả lời:
- Bài thơ ra đời năm 766, khi Đỗ Phủ đang sống ở Quỳ Châu, vùng núi sông hiểm trở bên Trường Giang (khu vực Tam Hiệp). Lúc ấy, loạn An Lộc Sơn – Sử Tư Minh tuy đã dẹp nhưng đất nước vẫn chưa yên, triều đình suy yếu, nhiều nơi còn binh lửa.
- Nhà thơ đã già, nhiều bệnh, cùng gia đình phiêu bạt đã nhiều năm; ông rời Thành Đô năm 765, định xuôi về quê nhưng chưa về được, phải dừng chân ở Quỳ Châu.
- Trong hoàn cảnh ấy, Đỗ Phủ viết chùm Thu hứng gồm 8 bài thất ngôn bát cú; Cảm xúc mùa thu là bài thứ nhất, mở đầu cho cả chùm thơ.
Câu 2: Đề tài, thể loại và bố cục của bài thơ (trang 47)
Xác định đề tài, thể loại và bố cục của bài thơ Thu hứng (Bài 1).
Trả lời:
- Đề tài: mùa thu – cảnh thu nơi đất khách và cảm xúc của người xa quê.
- Thể loại: thất ngôn bát cú Đường luật (8 câu, 7 chữ), luật trắc (chữ thứ hai câu 1 – “lộ” – là thanh trắc), vần bằng độc vận gieo ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8: lâm – sâm – âm – tâm – châm; hai cặp câu 3–4 và 5–6 đối nhau chỉnh.
- Bố cục: có hai cách chia.
- Hai phần: bốn câu đầu – cảnh thu; bốn câu cuối – tình thu.
- Bốn phần: đề (câu 1–2), thực (câu 3–4), luận (câu 5–6), kết (câu 7–8).
Câu 3: Cảnh thu ở hai câu đề, hai câu thực và vị trí quan sát (trang 47)
Cảnh thu trong hai câu đề và hai câu thực của bài thơ có gì đặc biệt so với cảnh thu thông thường mà em được biết? Để có thể miêu tả được quang cảnh đó, nhà thơ phải quan sát từ những vị trí nào?
Trả lời:
a. Nét đặc biệt của cảnh thu
- Mùa thu thường gợi vẻ thanh sơ, êm dịu: trời xanh, gió nhẹ, lá vàng rơi. Còn ở đây, cảnh thu tiêu điều và dữ dội: sương móc “điêu thương” làm tàn úa rừng phong; núi Vu, kẽm Vu chìm trong hơi thu “tiêu sâm” hiu hắt, âm u.
- Hai câu thực mở ra không gian vừa hùng vĩ vừa chao đảo: sóng dưới sông vọt lên tận trời, mây trên ải sà xuống sát đất. Phép đối và sự vận động ngược chiều (thấp lên cao, cao xuống thấp) khiến trời đất như đảo lộn, ngột ngạt.
- Cảnh mang đậm dấu ấn vùng Quỳ Châu hiểm trở và cũng gợi hình ảnh xã hội loạn lạc, bất an; đằng sau cảnh là tâm trạng buồn lo, u uất của nhà thơ.
b. Vị trí quan sát
- Nhà thơ đứng ở điểm nhìn cao (vùng núi, thành Bạch Đế cao) phóng tầm mắt bao quát rừng phong, núi Vu, kẽm Vu.
- Từ đó, ông nhìn xuống lòng sông sâu (sóng tung trào) và nhìn ra xa nơi cửa ải (gió mây sà xuống mặt đất).
- Điểm nhìn di chuyển từ cao xuống thấp, từ gần ra xa, giúp bức tranh có đủ chiều cao, chiều sâu và chiều rộng.
Câu 4: Hình ảnh thể hiện nỗi lòng ở bốn câu cuối (trang 47)
Nỗi lòng của chủ thể trữ tình được thể hiện qua những hình ảnh nào trong bốn câu thơ cuối? Hình ảnh nào ấn tượng nhất? Vì sao?
Trả lời:
- Khóm cúc hai lần nở (“tùng cúc lưỡng khai”): hai mùa thu nhà thơ sống xa quê; hoa nở mà người rơi lệ, giọt lệ “ngày trước” nay lại tuôn – nỗi buồn kéo dài từ quá khứ đến hiện tại.
- Con thuyền lẻ loi được buộc (“cô chu nhất hệ”): thuyền là phương tiện mong đưa ông về quê nhưng lại bị buộc chặt một chỗ; sợi dây buộc thuyền cũng buộc chặt tấm lòng hướng về “cố viên” (vườn cũ, quê nhà).
- Cảnh may áo rét, tiếng dao thước khắp nơi: người ta chuẩn bị cho mùa đông, còn nhà thơ vẫn là kẻ lữ thứ.
- Tiếng chày đập vải dồn dập trên thành Bạch Đế lúc chiều: âm thanh của đời sống mà cũng là tiếng lòng thổn thức, giục giã nỗi nhớ nhà.
Hình ảnh ấn tượng nhất: em ấn tượng nhất với hình ảnh “cô chu nhất hệ cố viên tâm”. Chỉ bảy chữ mà chứa cả thân phận và tâm trạng: con thuyền lẻ loi là hình bóng người lưu lạc; chữ “hệ” (buộc) vừa là buộc thuyền vào bến, vừa là buộc lòng vào quê. Thuyền đứng yên còn lòng thì hướng mãi về nơi xa, tạo nên nghịch lí đầy xót xa của kẻ muốn về mà không về được.
Câu 5: Tâm sự Đỗ Phủ gửi gắm trong bài thơ (trang 47)
Theo em, viết về mùa thu nhưng Đỗ Phủ đã gửi gắm trong bài thơ tâm sự gì?
Trả lời:
- Nỗi nhớ quê hương da diết của người sống cảnh tha hương đã hai mùa thu, mong trở về mà chưa thể.
- Nỗi lo cho vận nước: cảnh thu u ám, trời đất chao đảo gợi thời cuộc loạn lạc, bất an; “vườn cũ” không chỉ là nhà riêng mà còn gợi về kinh đô, đất nước đang điêu linh.
- Nỗi xót xa cho thân phận: tuổi già, bệnh tật, lẻ loi như “cô chu” trôi dạt.
Qua đó, bài thơ cho thấy tấm lòng yêu nước, thương đời sâu nặng của Đỗ Phủ – một nhà thơ luôn gắn nỗi buồn riêng với nỗi đau chung.
Câu 6: Viết đoạn văn về tình cảm của Đỗ Phủ với quê hương (trang 47)
Hãy viết một đoạn văn (khoảng 8–10 dòng) để làm rõ tình cảm của Đỗ Phủ với quê hương được thể hiện trong bài thơ Cảm xúc mùa thu.
Trả lời (đoạn văn tham khảo):
Tình cảm của Đỗ Phủ với quê hương trong Cảm xúc mùa thu là một nỗi nhớ âm thầm mà day dứt. Ngay cảnh thu tiêu điều ở Quỳ Châu đã nhuốm màu tâm trạng của người lữ thứ, nhưng nỗi nhớ quê bộc lộ rõ nhất ở hai câu luận. Khóm cúc nở đến lần thứ hai nhắc nhà thơ rằng ông đã xa nhà hai mùa thu, và giọt lệ ngày trước lại tuôn rơi. Con thuyền lẻ loi buộc ở bến sông tưởng là phương tiện đưa ông về, hóa ra chỉ buộc chặt thêm “tấm lòng vườn cũ”. Đến hai câu kết, tiếng dao thước may áo rét và tiếng chày đập vải chiều trên thành Bạch Đế vang lên dồn dập như giục giã, khiến nỗi nhớ càng cồn cào. Nhớ quê của Đỗ Phủ cũng là nhớ một đất nước thanh bình đã mất, nên tình quê hòa làm một với tình yêu nước sâu nặng.
Kết luận
Soạn bài Cảm xúc mùa thu Cánh diều cần nắm chắc hoàn cảnh ra đời, đặc điểm thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật, bức tranh thu tiêu điều – dữ dội ở bốn câu đầu và nỗi nhớ quê, lo nước ở bốn câu cuối. Khi phân tích, em nên dựa vào phiên âm, dịch nghĩa để thấy giá trị của những chữ “điêu thương”, “lưỡng khai”, “cô chu”, “nhất hệ” mà bản dịch thơ chưa chuyển tải hết.
Xem thêm:
- Cảm xúc mùa thu: tác giả Đỗ Phủ, hoàn cảnh sáng tác, bố cục
- Soạn bài Thu hứng – Ngữ văn 10 Kết nối tri thức
- Soạn bài Tự tình (bài 2) – văn bản cùng Bài 2 Cánh diều
- Thơ thất ngôn bát cú Đường luật: đặc điểm và bài thơ tiêu biểu
- Tác giả Đỗ Phủ: Thi thánh đời Đường và chùm tám bài Thu hứng