Kết bài Tự tình là đoạn khép lại bài nghị luận về bài thơ Tự tình (bài 2) của Hồ Xuân Hương, văn bản học ở Bài 3 sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (tập 1) và Bài 2 sách Ngữ văn 10 Cánh diều (tập 1). Một kết bài tốt cần đánh giá được nỗi đau thân phận, bản lĩnh không cam chịu và tài dùng tiếng Việt của nữ sĩ, rồi để lại suy nghĩ riêng của người viết. Bài gồm 13 mẫu kết bài Tự tình 2 đã viết hoàn chỉnh: ngắn gọn, tổng kết, mở rộng và theo dạng đề.

Cách viết kết bài Tự tình
- Nhắc lại tên Tự tình (bài 2) và Hồ Xuân Hương, khái quát vấn đề vừa phân tích trong một hai câu, không diễn xuôi lại bài thơ.
- Đánh giá cả hai mặt: nội dung (nỗi cô đơn, phẫn uất, khát vọng hạnh phúc) và nghệ thuật (từ Nôm giàu sức gợi, đảo ngữ, phép đối, hình ảnh rêu và đá).
- Đề chỉ hỏi bốn câu đầu hay bốn câu cuối thì khép đúng vào phần đó trước, sau mới nói rộng ra cả bài.
- Phần liên hệ nên cụ thể, chẳng hạn quyền được yêu thương, được bình đẳng của người phụ nữ hôm nay, hay cách mỗi người đối diện với nghịch cảnh.
Kết bài Tự tình ngắn gọn, tổng kết
Mẫu 1 – ngắn gọn
Chỉ tám câu thơ Nôm, Tự tình (bài 2) đã gói trọn nỗi buồn tủi, sự phẫn uất và khát vọng được yêu thương của Hồ Xuân Hương. Bài thơ buồn nhưng không yếu đuối, bởi phía sau những lời than vẫn là một cá tính không chịu khuất phục trước số phận.
Mẫu 2 – tóm lược giá trị nội dung và nghệ thuật
Qua Tự tình (bài 2), Hồ Xuân Hương đã ghi lại hành trình tâm trạng của một người phụ nữ trong một đêm thao thức: từ cô đơn, bẽ bàng đến phẫn uất muốn vùng lên, rồi cuối cùng là ngán ngẩm trước duyên phận nhỏ nhoi. Về nghệ thuật, bài thơ cho thấy tài dùng từ Nôm độc đáo của nữ sĩ với những chữ “trơ”, “xiên ngang”, “đâm toạc”, cùng phép đảo ngữ và lối nói giàu sức gợi như “tí con con”. Nội dung và hình thức hòa làm một, khiến tác phẩm vừa là tiếng thở dài của một thân phận, vừa là tiếng nói khẳng định khát vọng sống của người phụ nữ.
Mẫu 3 – khẳng định vị trí của bài thơ
Trong chùm ba bài Tự tình, bài thứ hai thường được xem là bài hay và giàu cảm xúc hơn cả, và cũng là văn bản quen thuộc trong sách Ngữ văn qua nhiều thế hệ học trò. Hơn hai trăm năm đã trôi qua, nỗi lòng của Hồ Xuân Hương trong Tự tình (bài 2) vẫn khiến người đọc rung động, bởi bà nói về thân phận mình bằng một giọng thật, không tô vẽ. Bài thơ góp phần làm nên chỗ đứng riêng của nữ sĩ trong văn học trung đại: một nhà thơ dám nói thẳng nỗi đau của người phụ nữ và đòi cho họ quyền được hạnh phúc.
Mẫu 4 – khẳng định bản lĩnh Hồ Xuân Hương
Đọc kĩ Tự tình (bài 2), ta nhận ra nỗi buồn của Hồ Xuân Hương không phải nỗi buồn cam chịu. Bà buồn vì cô đơn, vì tuổi xuân trôi qua vô ích, nhưng bà cũng giận, cũng muốn phá tung những gì đang trói buộc mình, như rêu cứ xiên lên mặt đất, như đá cứ nhọn hoắt đâm lên mây. Dù cuối bài, khát vọng ấy vẫn va phải thực tế phũ phàng, hình ảnh còn đọng lại trong người đọc vẫn là một người phụ nữ cứng cỏi, không chịu để số phận định đoạt hoàn toàn. Đó chính là điều làm nên sức sống lâu bền của bài thơ.
Mẫu 5 – từ tài năng dùng tiếng Việt
Tự tình (bài 2) còn cho thấy rõ Hồ Xuân Hương dùng tiếng Việt tài tình đến mức nào. Bà vẫn giữ đủ niêm luật chặt chẽ của thơ Đường, nhưng lại đưa vào đó những từ thuần Việt rất đời thường như “văng vẳng”, “trơ”, “tí con con”, cùng những động từ mạnh và phép đảo ngữ khiến câu thơ như có sức cựa quậy. Khuôn thơ vay mượn từ Trung Hoa vì thế mang một hồn vía rất Việt Nam. Danh xưng “Bà chúa thơ Nôm” mà Xuân Diệu dành cho nữ sĩ, đọc xong bài thơ này, càng thấy xứng đáng.
Kết bài Tự tình có liên hệ, mở rộng
Mẫu 6 – liên hệ bản thân
Gấp lại trang thơ Tự tình (bài 2), em vẫn còn nghe như có tiếng trống canh trong đêm và hình dung một người phụ nữ ngồi lặng giữa căn phòng trống. Hồ Xuân Hương đã sống trong một thời mà người đàn bà gần như không được tự quyết hạnh phúc của mình. Hiểu được nỗi đau ấy, em càng biết quý những điều mình đang có: được đi học, được tự chọn con đường và người mình thương. Bài thơ cũng nhắc em rằng gặp nghịch cảnh thì có thể buồn, nhưng đừng để nỗi buồn làm mình gục ngã.
Mẫu 7 – liên hệ cuộc sống hôm nay
Ngày nay, chế độ đa thê đã bị pháp luật xóa bỏ, phụ nữ được học hành, làm việc và tự quyết định hôn nhân của mình. Nhưng đọc Tự tình (bài 2), ta vẫn thấy những câu hỏi Hồ Xuân Hương đặt ra chưa hề cũ: quyền được yêu thương trọn vẹn, quyền được tôn trọng như một con người đầy đủ. Ở đâu đó vẫn còn những người phụ nữ chịu thiệt thòi trong gia đình, vẫn phải nén nỗi buồn để giữ yên ấm. Vì thế, bài thơ ra đời hơn hai thế kỉ trước vẫn còn nguyên giá trị nhân văn, nhắc mỗi người chung tay vun đắp một xã hội thật sự bình đẳng.
Mẫu 8 – mở rộng sang Truyện Kiều của Nguyễn Du
Cùng thời với Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du cũng dành những trang thơ xót xa nhất cho người phụ nữ tài hoa bạc mệnh qua nhân vật Thúy Kiều. Nhưng Nguyễn Du là người đứng ngoài mà thương cảm, còn Hồ Xuân Hương là người trong cuộc tự nói về mình. Chính vì thế, nỗi đau trong Tự tình (bài 2) có một sức nặng riêng: nó không được kể lại qua một nhân vật, mà được thốt lên trực tiếp từ đáy lòng người viết. Hai tiếng nói ấy, một của người ngoài cuộc, một của người trong cuộc, cùng góp phần làm nên dòng cảm hứng nhân đạo sâu sắc của văn học giai đoạn này.
Mẫu 9 – mở rộng sang Bánh trôi nước
Nếu Bánh trôi nước là lời khẳng định phẩm giá của người phụ nữ qua hình ảnh chiếc bánh nhỏ, thì Tự tình (bài 2) là lời bộc bạch nỗi đau của chính người phụ nữ ấy khi một mình đối diện với đêm khuya. Một bài kín đáo mà kiêu hãnh, một bài chua xót mà phẫn uất, nhưng cả hai đều cho thấy Hồ Xuân Hương chưa bao giờ quay lưng với những người đàn bà thiệt thòi. Đọc chúng cạnh nhau, ta hiểu vì sao thơ bà vẫn được yêu mến đến hôm nay: đó là tiếng nói của một người thấu hiểu nỗi khổ của giới mình hơn ai hết.
Mẫu 10 – trở lại hai câu thơ kết
Tự tình (bài 2) khép lại bằng hai câu thơ khiến người đọc khó quên: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, / Mảnh tình san sẻ tí con con!”. Xuân của đất trời đi rồi lại đến, còn tuổi xuân của con người thì chỉ trôi đi; tình yêu đã nhỏ lại còn phải chia ra từng chút. Hồ Xuân Hương không kêu than ầm ĩ, chỉ dùng một chữ “ngán” mà nói hết nỗi mỏi mệt sau bao lần hi vọng. Đó là cái kết buồn của bài thơ, nhưng cũng là lời tố cáo nhẹ nhàng mà thấm thía đối với chế độ đã đẩy người phụ nữ vào cảnh lẽ mọn.
Kết bài Tự tình theo từng dạng đề
Mẫu 11 – đề phân tích bốn câu thơ đầu
Chỉ bốn câu thơ mở đầu, Hồ Xuân Hương đã dựng nên một không gian đêm khuya vắng lặng và đặt vào đó một con người cô đơn đến tận cùng. Tiếng trống dồn dập, chén rượu say rồi tỉnh, vầng trăng xế mà chưa tròn, tất cả đều nói về một thân phận dở dang. Phần đề và phần thực của Tự tình (bài 2) vì thế không chỉ tả cảnh, mà còn chạm đúng vào nỗi bẽ bàng sâu kín nhất của người phụ nữ. Từ đây, mạch cảm xúc của bài thơ sẽ chuyển sang sự phẫn uất mạnh mẽ ở những câu tiếp theo.
Mẫu 12 – đề phân tích bốn câu thơ cuối
Bốn câu thơ cuối Tự tình (bài 2) là đoạn có nhiều biến động nhất trong tâm trạng của Hồ Xuân Hương. Rêu xiên ngang mặt đất, đá đâm toạc chân mây là hình ảnh của một sức sống bị dồn nén đang muốn bật lên, muốn chống lại số phận. Nhưng hai câu kết lại đưa người đọc về với thực tại: thời gian vẫn trôi, duyên phận vẫn nhỏ nhoi. Sự chuyển động từ phẫn uất đến chán chường ấy cho thấy rõ bi kịch của người đàn bà xưa, đồng thời khẳng định tài dựng hình ảnh và cách dùng những động từ giàu sức nặng của nữ sĩ.
Kết bài Tự tình nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 13 – khép lại bằng suy ngẫm về quyền được hạnh phúc
Có những bài thơ đọc xong ta nhớ một hình ảnh, có những bài thơ ta nhớ một con người. Tự tình (bài 2) thuộc loại thứ hai. Sau tám câu thơ, hiện lên trước mắt người đọc là chân dung một người phụ nữ tài hoa, giàu sức sống, từng khao khát được yêu thương trọn vẹn mà rốt cuộc chỉ nhận về một mảnh tình bé nhỏ. Nhưng Hồ Xuân Hương không biến nỗi đau thành lời cầu xin. Bà nói về mình với sự tự trọng, có lúc mỉa mai chính mình, có lúc giận dữ với cả đất trời. Chính thái độ ấy làm cho bài thơ vượt khỏi một tiếng than thân thông thường để trở thành tiếng nói ý thức về quyền sống của con người cá nhân. Hơn hai thế kỉ sau, đọc lại Tự tình, ta vẫn thấy ở đó một lời nhắc: hạnh phúc là điều chính đáng, và không ai đáng phải đem nó ra chia mãi cho đến khi chỉ còn “tí con con”.
Nên chọn mẫu kết bài Tự tình nào?
Kết bài Tự tình (bài 2) cần khép lại đúng vấn đề đã phân tích, khẳng định được giá trị nhân đạo và tài năng ngôn ngữ của Hồ Xuân Hương. Khi làm bài kiểm tra lớp 9, lớp 10, em có thể dùng mẫu ngắn gọn hoặc mẫu tổng kết; khi viết bài dài hay thi học sinh giỏi, hãy chọn mẫu có liên hệ, mở rộng để thể hiện suy nghĩ riêng. Mỗi mẫu chỉ là gợi ý, em nên viết lại bằng lời văn của mình cho thật tự nhiên.
Xem thêm:
- Phân tích Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương
- Soạn bài Tự tình (bài 2) – Ngữ văn 9 Kết nối tri thức
- Soạn bài Tự tình (trang 47, 48) – Ngữ văn 10 Cánh diều
- Tự tình (bài 2) – Hồ Xuân Hương: tác giả, bố cục, nội dung
- Tóm tắt tiểu sử Hồ Xuân Hương
- Mở bài Tự tình (bài 2) hay nhất – 14 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao