Mắc mưu Thị Hến là văn bản đọc thứ hai của Bài 3 Kịch bản chèo và tuồng trong sách Ngữ văn 10 Cánh diều, tập một. Cùng lớp tuồng này cũng có trong sách Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo (Bài 5, văn bản đọc mở rộng) với nhan đề Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu mắc lỡm Thị Hến. Bài viết tổng hợp những gì em cần nắm: diễn biến đoạn trích, tác giả dân gian và đặc điểm tuồng đồ, xuất xứ, nhân vật, cách chia đoạn, những điểm đặc sắc về nội dung, nghệ thuật kèm sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Mắc mưu Thị Hến
Đoạn trích là một cảnh tuồng liền mạch diễn ra trong nhà Thị Hến vào một buổi tối. Dưới đây là phần lược thuật theo lượt nhân vật xuất hiện, kèm những câu thoại tiêu biểu; lời giải câu hỏi SGK em xem trong bài soạn cùng tác phẩm.

Mở lớp (chỉ có ở bản Chân trời sáng tạo). Sách Chân trời sáng tạo in thêm phần lược dẫn và lời Thị Hến nói một mình: nàng đã sai người đi mời, đang chờ “khách” tới, vừa kể chuyện ông huyện, thầy đề bị vợ quản chặt, vừa than mình muốn thờ chồng cho trọn mà cứ bị quấy phá. Sách Cánh diều lược phần này, đánh dấu […] và bắt đầu từ lúc Thầy Nghêu tới.
Thầy Nghêu đến trước. Đêm tối, Nghêu lần mò tới gọi cửa. Thị Hến chào mời trà nước, ra vẻ e ngại “Sợ nỗi thế gian đàm tiếu”. Nghêu liền tỏ ý bỏ tu: “Kệ kinh chuông mõ trả cho chùa”, về làm ăn với bà góa. Đúng lúc ấy có tiếng Đề Hầu gọi cửa. Nghêu cuống cuồng xin chỗ trốn, Hến bảo lão chui xuống dưới phản ngựa.
Đề Hầu bị gài lời. Đề Hầu vào, kể ơn đã giúp Hến hôm xử kiện và trách nàng đã kết duyên với ông Huyện. Hến khéo phân trần, mời rượu trà, rồi hỏi tu mà phá giới thì tội nặng hay nhẹ. Đề Hầu lên giọng: “Hễ phá giới tức hành trảm quyết!” – Nghêu dưới gầm phản nghe rõ mồn một.
Huyện Trìa tới. Quan huyện đứng ngoài cửa gọi to. Đề Hầu hồn vía lên mây, than “Chắc hẳn thầy Đề mang khổ” rồi tìm chỗ nấp. Huyện Trìa vào, kể lể việc thuế má, án từ bận rộn, đường tối khó đi, dỗ Hến đừng giận hờn. Hến than phận lẽ mọn, rồi cũng hỏi quan về tội thầy tu đến nhà ve bà góa. Quan phán nhẹ tênh: “Phàm tu hành mà đã xuất gia, / Có phá giới đánh đòn phát lạc!”.
Lần lượt lộ diện. Nghêu bò từ gầm giường ra, tâng bốc quan rồi tố Đề Hầu đang ngồi trong thúng là phường dâm ô, phạm tội đáng chết. Đề Hầu đành lồm cồm bò ra, đổ hết cho “mụ Hến” và “lão thầy tu”, lại móc máy rằng cả quan lẫn đề lại đều có mặt đông đủ. Huyện Trìa mắng hai kẻ dưới quyền, đuổi Nghêu về, bắt Đề Hầu cõng mình về nhà, dặn mọi người phải biết nén lòng, chớ ham “của lạ”.
Thị Hến hả hê. Còn lại một mình, Hến reo “Tâm khoái dã! Tâm khoái dã!”: kế đã thành, thầy tu và quan huyện hết đường lui tới, nàng được yên ổn “Giữ tiết hạnh một đường cho toại”.
Tác giả dân gian và đặc điểm tuồng đồ
Mắc mưu Thị Hến không có tác giả cụ thể. Nghêu, Sò, Ốc, Hến là vở tuồng khuyết danh do nghệ nhân dân gian sáng tạo, lưu truyền qua biểu diễn nên tồn tại nhiều dị bản, mỗi bản lệch nhau ở vài nhân vật và đoạn kết. Khi làm bài, em ghi tác giả là tác giả dân gian hoặc khuyết danh. Bản in trong sách Cánh diều và Chân trời sáng tạo lấy từ Tổng tập Văn học Việt Nam; còn sách Kết nối tri thức trích cảnh Huyện đường từ bản chỉnh lí của Hoàng Châu Ký.
Tuồng (còn gọi là hát bội, hát bộ) là một môn sân khấu cổ truyền kết hợp hát, nói lối, múa và âm nhạc. Tuồng thường được chia thành tuồng thầy (tuồng pho) với âm hưởng bi hùng, đề tài trung – nịnh, nước nhà, và tuồng đồ (tuồng hài) lấy chuyện sinh hoạt ở làng xã, nhân vật là người bình dân hoặc chức sắc địa phương, dùng tiếng cười để giễu cợt những điều chướng tai gai mắt.
Nghêu, Sò, Ốc, Hến được xem là một trong những vở tuồng đồ đặc sắc nhất. Tên nhân vật là tên các loài nhuyễn thể nhỏ ven biển như nghêu, sò, ốc, hến, trìa, hàu – cách gọi dân dã đã ngầm hạ thấp những kẻ có chức có quyền. Lời thoại phần lớn là văn vần ngắn, nhịp nhanh, xen những tiếng đệm đặt trong ngoặc đơn để diễn viên nhấn giọng, cùng nhiều từ địa phương miền Trung như mỗ, min, nường, chừ.
Thông tin tác phẩm Mắc mưu Thị Hến
Các mục dưới đây trả lời những câu hỏi học sinh hay tìm khi chuẩn bị bài.
Mắc mưu Thị Hến được trích từ đâu?
Đoạn trích lấy từ vở Nghêu, Sò, Ốc, Hến. Bản in trong sách dựa theo Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 12, Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, 2000, trang 544 – 548. Tên gọi đoạn trích là do nhóm soạn sách đặt, nên hai bộ sách dùng hai nhan đề khác nhau cho cùng một lớp tuồng.
Vị trí đoạn trích và so sánh hai bộ sách
Đoạn trích thuộc lớp XIX – lớp khép lại vở tuồng, diễn ra sau cảnh xử án ở huyện đường (lớp XIII, học trong bài Huyện Trìa xử án sách Chân trời sáng tạo).
- Bản Cánh diều (nhan đề Mắc mưu Thị Hến): lược phần mở lớp, bắt đầu từ lời Thầy Nghêu đi trong đêm tối; có câu hỏi trong khi đọc ở lề sách.
- Bản Chân trời sáng tạo (nhan đề Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu mắc lỡm Thị Hến): có lời lược dẫn và đoạn Thị Hến nói một mình ở đầu lớp; từ lúc Nghêu đến trở đi, lời thoại giống bản Cánh diều.
Vì vậy, kiến thức về tác phẩm trong bài này dùng chung cho cả hai bộ sách; riêng câu hỏi SGK mỗi bộ khác nhau.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: tuồng đồ (tuồng hài) – kịch bản sân khấu dân gian.
- Phương thức biểu đạt chính: kể (tự sự), đan xen biểu cảm, thể hiện hoàn toàn qua lời thoại và chỉ dẫn sân khấu.
- Lời thoại gồm đối thoại (Hến với từng người khách), độc thoại (lời Hến ở cuối lớp), lời nói với người ngoài cửa; chỉ dẫn sân khấu ghi trong ngoặc đơn, ví dụ “Tiếng Đề Hầu kêu cửa”, “Lồm cồm bò ra”, “Hạ”.
Các nhân vật trong đoạn trích
- Thị Hến: người đàn bà góa, nhân vật trung tâm, người bày mưu; thông minh, khéo ăn nói, muốn được yên thân.
- Thầy Nghêu: thầy tu phá giới, đạo đức giả; hèn nhát khi gặp người có quyền, xun xoe nịnh quan và tố người khác.
- Đề Hầu: viên đề lại; tự cho mình có công với Hến, hống hách với kẻ dưới, khiếp sợ người trên.
- Huyện Trìa: quan huyện háo sắc, coi việc công nhẹ hơn việc đi ve vãn; bị bắt gặp vẫn giữ thói hách dịch.
Bố cục Mắc mưu Thị Hến có mấy phần?
Các tài liệu phổ biến chia đoạn trích (bản Cánh diều) thành 4 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “Sẽ bày tình tự”): Thầy Nghêu đến nhà Thị Hến, nghe tiếng Đề Hầu thì chui xuống gầm phản.
- Phần 2 (tiếp đến “Hễ phá giới tức hành trảm quyết!”): Thị Hến tiếp Đề Hầu và gài để hắn phán tội thầy tu.
- Phần 3 (tiếp đến lời Huyện Trìa răn đừng ham “của lạ”): Huyện Trìa đến; Nghêu, Đề Hầu lần lượt lộ diện, tố nhau; quan mắng mỏ rồi ra về.
- Phần 4 (còn lại): Thị Hến vui mừng vì kế đã thành.
Với bản Chân trời sáng tạo, em thêm một phần mở đầu: lời Thị Hến nói một mình trước khi Nghêu tới.
Tóm tắt văn bản Mắc mưu Thị Hến
Thị Hến cùng lúc mời ba kẻ đang ve vãn mình – thầy tu Nghêu, Đề Hầu, Huyện Trìa – sang nhà trong một tối. Nghêu đến trước, nghe Đề Hầu gọi cửa thì trốn xuống gầm phản. Hến tiếp Đề Hầu, hỏi tội thầy tu phá giới, hắn bảo phải chém. Huyện Trìa tới, Đề Hầu trốn vào thúng; quan lại phán tội ấy chỉ bị đánh đòn. Nghêu bò ra nịnh quan, tố Đề Hầu; Đề Hầu bò ra nhận lỗi và đổ cho Hến. Quan mắng hai kẻ dưới, bắt Đề Hầu cõng mình về. Thị Hến hả hê vì từ nay được yên thân.
Giá trị nội dung
- Phơi bày bộ mặt đạo đức giả, háo sắc, hèn nhát của những kẻ có chức sắc, có quyền thế ở làng xã xưa: thầy tu không giữ giới, đề lại và quan huyện bỏ phép nước để đi ve vãn đàn bà góa.
- Châm biếm sự tùy tiện của luật lệ trong tay bọn quan lại: cùng một tội mà kẻ bảo chém, kẻ bảo đánh đòn, tùy lợi ích của người nói.
- Ca ngợi trí khôn và sự gan góc của người đàn bà bình dân: Thị Hến dùng mưu để tự bảo vệ mình, buộc kẻ quyền thế phải bẽ mặt.
Giá trị nghệ thuật
- Tình huống kịch độc đáo, được đẩy lên theo bậc thang quyền lực: kẻ đến sau có quyền hơn kẻ đến trước, người trước phải trốn người sau.
- Để nhân vật tự hiện ra qua lời thoại, cử chỉ; nhân vật tự bộc lộ bản chất mà không cần lời bình.
- Chỉ dẫn sân khấu ngắn gọn mà giàu sức gây cười; nhiều tiếng đệm thể hiện cảm xúc.
- Ngôn ngữ dân gian giàu màu sắc địa phương, dùng thành ngữ, chêm chữ Hán để giễu sự học đòi của quan lại; lời thoại văn vần nhịp nhanh.
Ý nghĩa nhan đề Mắc mưu Thị Hến
Nhan đề nêu kết cục và nhân vật trung tâm: cả ba kẻ đến nhà đều “mắc mưu” một người đàn bà góa. Cụm từ ngầm đảo ngược thế mạnh – yếu: người có chức, có quyền thì sập bẫy, còn người bị coi thường lại là người chiến thắng. Nhan đề bên sách Chân trời sáng tạo dùng chữ “mắc lỡm” (bị lừa cho một vố) và kể tên cả ba nhân vật, nhấn mạnh hơn vào sự bẽ mặt của họ.
Sơ đồ tư duy Mắc mưu Thị Hến

Lời kết
Mắc mưu Thị Hến là màn kết đầy hả hê của vở tuồng đồ Nghêu, Sò, Ốc, Hến: chỉ trong một đêm, ba kẻ quyền thế tự lột mặt nạ của nhau trước một người đàn bà góa. Khi ôn tập, em cần nhớ xuất xứ (lớp XIX, Tổng tập Văn học Việt Nam tập 12), tình huống kịch, vai trò chỉ dẫn sân khấu và cách tác giả dân gian nhìn từng nhân vật.
Xem thêm: