Soạn bài Nước biển dâng: bài toán khó cần giải trong thế kỉ XXI giúp em hoàn thành phần chuẩn bị, mười câu hỏi đọc hiểu bên lề và sáu câu hỏi cuối bài ở trang 64 – 68, Bài 3 (Văn bản thông tin), sách Ngữ văn 8 Cánh diều tập một. Đây là văn bản thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên, đọc cùng bài Sao băng; lời giải dưới đây bám sát số liệu trong SGK để em dễ ôn tập.
Tìm hiểu chung về văn bản Nước biển dâng
Văn bản được SGK ghi theo Lưu Quang Hưng, đăng trên trang tiasang.com.vn ngày 25-3-2020. Tác giả là người làm nghiên cứu về biển, trong bài có nhắc tới một khảo sát nhóm ông từng thực hiện tại Đại học Quốc gia Xin-ga-po.

- Thể loại: thuộc nhóm văn bản thông tin, cụ thể là văn bản thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên.
- Phương thức biểu đạt chính: thuyết minh, có kết hợp số liệu, biểu đồ và lập luận.
- Đề tài: mực nước biển dâng cao do khí hậu toàn cầu ấm lên.
Bố cục văn bản
Văn bản có bốn phần, ba phần sau được tác giả đặt đề mục in đậm:
- Sa pô (đoạn mở đầu): giới thiệu vấn đề – nhiều vùng ven biển, trong đó có Đồng bằng sông Cửu Long, đang chịu hệ quả của trái đất ấm lên; thích ứng với nước biển dâng là bài toán khó của thế kỉ.
- Thay đổi mực nước biển và nguyên nhân: vai trò của biển với đời sống; các yếu tố làm mực nước lên xuống (thủy triều, gió, bão, sóng thần); chỗ khác nhau giữa mực nước dâng vì khí hậu với các dao động kia, cùng hai nguyên nhân chính.
- Mực nước biển sẽ dâng bao nhiêu?: dữ liệu đo đạc, đánh giá của IPCC, tốc độ dâng hiện nay và kịch bản đến cuối thế kỉ.
- Lời kết: tóm lại toàn bộ thông tin và khẳng định tìm giải pháp thích ứng là việc loài người phải cùng nhau giải quyết.
Nội dung chính
Văn bản giải thích vì sao mực nước biển thay đổi, chỉ ra rằng mực nước dâng vì biến đổi khí hậu tuy chậm nhưng không thể đảo ngược, đưa ra số liệu dự báo và cảnh báo những thiệt hại lớn mà con người, trong đó có Việt Nam, sẽ phải gánh chịu nếu không chủ động ứng phó.
Soạn bài Nước biển dâng – Chuẩn bị (trang 64)
Trước giờ học, SGK yêu cầu em đọc trước văn bản và chuẩn bị tư liệu cho phần thuyết trình.
Câu 1: Tìm hiểu thêm về Trái Đất nóng lên, biến đổi khí hậu và nước biển dâng (trang 64)
Đọc trước văn bản Nước biển dâng: bài toán khó cần giải trong thế kỉ XXI; tìm hiểu thêm thông tin về hiện tượng Trái Đất nóng lên, biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Trả lời:
Em có thể ghi chép ngắn gọn ba khái niệm có quan hệ nhân – quả với nhau:
- Trái Đất nóng lên: bầu khí quyển và đại dương ấm dần, nhiệt độ bình quân tăng lên, nguyên nhân chủ yếu là lượng khí nhà kính (khí CO2, khí mê-tan…) do con người thải ra từ đốt than, dầu, phá rừng ngày càng nhiều.
- Biến đổi khí hậu: sự thay đổi lâu dài của khí hậu do nhiệt độ tăng, biểu hiện qua nắng nóng kỉ lục, hạn hán, mưa lớn bất thường, bão mạnh hơn, xâm nhập mặn ở các vùng đồng bằng.
- Nước biển dâng: hệ quả trực tiếp của trái đất nóng lên – băng ở hai cực và trên núi cao tan chảy, nước biển ấm lên thì nở ra, làm mực nước trung bình của đại dương cao dần. Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng là hai vùng được cảnh báo chịu ảnh hưởng nặng ở nước ta.
Câu 2: Thu thập hình ảnh, video về tác hại của nước biển dâng (trang 64)
Thu thập những hình ảnh hoặc video clip cho bài thuyết trình về tác hại do nước biển dâng.
Trả lời:
Em nên chọn tư liệu từ nguồn tin cậy (báo chí chính thống, đài truyền hình, trang của các cơ quan khí tượng – môi trường) và xếp theo từng nhóm tác hại để bài thuyết trình mạch lạc:
- Đường phố, nhà cửa ở các thành phố ven biển ngập nước khi triều cường lên.
- Bờ biển, bãi cát bị sạt lở; rừng phòng hộ ven biển bị sóng đánh trơ gốc.
- Ruộng lúa, vườn cây ở miền Tây Nam Bộ chết vì nước mặn tràn vào; người dân phải xếp hàng xin nước ngọt.
- Những đảo thấp trên thế giới có nguy cơ bị nhấn chìm, cư dân phải rời bỏ quê hương.
Mỗi hình ảnh nên kèm một dòng chú thích ngắn: địa điểm, thời gian và nguồn.
Soạn bài Nước biển dâng – Câu hỏi đọc hiểu trong khi đọc (trang 64 – 68)
Các câu hỏi bên lề giúp em theo dõi cách tác giả triển khai thông tin qua từng đoạn.
Câu 1: Nội dung của sa pô giúp em hiểu được gì? (trang 64)
Trả lời:
Đọc sa pô, em biết ngay đề tài và vấn đề chính của văn bản: không riêng Đồng bằng sông Cửu Long mà nhiều vùng ven biển trên thế giới đang chịu hậu quả của trái đất ấm lên, trong đó nước biển dâng là tác động lâu dài, quy mô rộng; làm sao để con người thích ứng hiệu quả là bài toán khó của thế kỉ XXI. Sa pô vì thế như lời đặt vấn đề, định hướng cho người đọc trước khi đi vào phần giải thích.
Câu 2: Chú ý các đề mục in đậm (trang 64)
Trả lời:
Văn bản có ba đề mục in đậm: Thay đổi mực nước biển và nguyên nhân; Mực nước biển sẽ dâng bao nhiêu?; Lời kết. Các đề mục này chia văn bản thành từng khối thông tin rõ ràng, cho người đọc biết mỗi phần nói về điều gì, đi theo trình tự hợp lí: hiện tượng và nguyên nhân → mức độ, dự báo → tổng kết. Nhờ đó, em dễ theo dõi và dễ tìm lại thông tin khi cần.
Câu 3: Các số liệu có vai trò gì? (trang 65)
Trả lời:
Ở đoạn này, tác giả đưa ra nhiều con số: biển tạo ra hơn một nửa lượng oxi, đảm nhận việc chuyên chở 3/4 lượng hàng hóa; khoảng 40% dân số sống gần biển, 600 triệu người ở vùng cao hơn mực nước biển không quá 10 mét; Việt Nam có 28/64 tỉnh, thành phố giáp biển, bờ biển trải dài trên 3000 ki-lô-mét. Các số liệu:
- làm cho thông tin chính xác, khách quan, có sức thuyết phục;
- chứng minh biển gắn bó mật thiết với cuộc sống con người, nhất là với Việt Nam;
- từ đó dẫn tới kết luận: mực nước biển thay đổi dù rất ít cũng tác động lớn tới đời sống.
Câu 4: Thủy triều ảnh hưởng đến mực nước biển thế nào? (trang 65)
Trả lời:
Theo văn bản, thủy triều là yếu tố làm mực nước biển dao động mạnh và diễn ra thường xuyên nhất. Sức hút mà Mặt Trăng, Mặt Trời tạo ra với Trái Đất khiến nước biển và đại dương ngày nào cũng dâng lên rồi rút xuống. Biên độ trung bình khoảng 2 – 3 mét tùy nơi; có chỗ như vịnh Phăn-đi (Ca-na-đa) hay cửa sông Xe-vân (Anh) có thể đạt 15 – 16 mét. Còn trên Biển Đông, ngày nào nước cũng hai lần lên đỉnh và hai lần xuống thấp nhất.
Câu 5: Sự khác nhau giữa nước biển dâng do biến đổi khí hậu và do các nguyên nhân khác (trang 66)
Sự khác nhau của hiện tượng nước biển dâng do biến đổi khí hậu và do các nguyên nhân khác là gì?
Trả lời:
| Tiêu chí | Do thủy triều, gió, bão, sóng thần | Do biến đổi khí hậu |
|---|---|---|
| Mức độ | Biên độ lớn: vài chục xăng-ti-mét đến vài mét, có nơi hơn chục mét | Rất nhỏ, mỗi năm chỉ vài mi-li-mét |
| Nhận biết | Thấy được bằng mắt thường | Phải đo đạc, quan trắc mới biết |
| Diễn biến | Lên rồi lại xuống, lặp lại đều đặn hoặc chỉ tạm thời | Âm thầm, tích lũy dần, sau vài chục năm thành con số lớn |
| Tính chất | Không làm thay đổi đáng kể mực nước trung bình lâu dài | Lượng tăng là vĩnh viễn, không đảo ngược được |
Câu 6: Chú ý câu hỏi nêu vấn đề (trang 66)
Trả lời:
Câu hỏi nêu vấn đề ở đây là câu hỏi tác giả tự đặt ra về mối liên hệ giữa khí hậu biến đổi với chuyện mực nước đại dương cứ cao dần. Câu hỏi chuyển ý từ phần mô tả hiện tượng sang phần giải thích nguyên nhân, khơi gợi sự tò mò của người đọc. Ngay sau đó, tác giả trả lời bằng hai nguyên nhân chính: băng tuyết ở Bắc Cực, Nam Cực, đỉnh núi cao tan nhanh hơn do nhiệt độ tăng; nước biển ấm lên thì giãn nở, thể tích tăng; ngoài ra còn một số nguyên nhân địa vật lí khác.
Câu 7: Tìm hiểu và ghi ra các thông tin đọc được từ hình 1 (trang 67)
Trả lời:
Hình 1 là biểu đồ cho thấy mực nước biển bình quân của cả thế giới thay đổi ra sao qua thời gian. Từ biểu đồ có thể rút ra:
- Từ khoảng năm 1880 đến năm 2000, đường biểu diễn đi lên gần như liên tục, tức là mực nước biển tăng dần qua từng thời kì.
- Tổng mức tăng trong khoảng thời gian đó vào khoảng hơn 0,2 mét (hơn 20 xăng-ti-mét), khớp với nhận định của IPCC được nêu trong văn bản.
- Đoạn cuối của đường biểu diễn dốc hơn đoạn đầu, cho thấy nước biển ngày càng dâng nhanh.
Câu 8: Điểm khác biệt của nước biển dâng trong những năm gần đây là gì? (trang 67)
Trả lời:
Trong quá khứ, mực nước biển lên xuống không đều: có thời thấp hơn bây giờ tới 300 – 400 mét, có thời cao hơn cả chục mét, có lúc dâng chậm lại rồi lại tăng nhanh. Điểm khác biệt của những năm gần đây là mỗi năm nước biển dâng bình quân chừng 3 mi-li-mét, và mức dâng ấy có gia tốc – năm sau tăng nhiều hơn năm trước. Nói cách khác, nước biển không chỉ dâng mà còn dâng ngày càng nhanh.
Câu 9: Nội dung chính của đoạn Lời kết là gì? (trang 67)
Trả lời:
Lời kết tóm tắt lại các ý chính của văn bản: mực nước biển luôn thay đổi trong lịch sử nhưng trước đây tăng rất chậm; từ khi loài người bước vào thời kì công nghiệp hóa, Trái Đất ấm lên khiến nước biển dâng nhanh dần do băng tan, nước giãn nở và hệ thống khí hậu thay đổi; tốc độ hiện nay xấp xỉ 3 mi-li-mét/năm; đến cuối thế kỉ, mực nước có thể cao thêm 35 – 85 xăng-ti-mét, khiến kinh tế thế giới thiệt hại tới nhiều ngàn tỉ đô la Mỹ. Cuối cùng, tác giả nhấn mạnh yêu cầu tìm giải pháp thích ứng.
Câu 10: Câu cuối đoạn Lời kết liên quan gì đến nhan đề văn bản? (trang 68)
Trả lời:
Câu cuối của Lời kết nhắc lại gần như nguyên vẹn ý của nhan đề: tìm cách thích ứng hiệu quả với nước biển dâng là “một trong những bài toán khó nhất” mà cả loài người phải chung tay tìm lời giải ngay trong thế kỉ XXI. Câu văn khép lại văn bản bằng chính vấn đề đã nêu ở nhan đề và sa pô, tạo kết cấu đầu – cuối tương ứng, đồng thời nhấn mạnh tính cấp bách và tinh thần hợp tác toàn cầu.
Soạn bài Nước biển dâng – Câu hỏi sau khi đọc (trang 68)
Sáu câu hỏi cuối bài yêu cầu em khái quát nội dung, nhận diện đặc điểm thể loại và liên hệ thực tế.
Câu 1: Nhan đề đã nêu được nội dung chính nào của văn bản? (trang 68)
Nhan đề Nước biển dâng: bài toán khó cần giải trong thế kỉ XXI đã nêu được nội dung chính nào của văn bản?
Trả lời:
Nhan đề gồm hai vế ngăn cách bằng dấu hai chấm:
- Vế trước “Nước biển dâng” nêu đối tượng được thuyết minh – hiện tượng tự nhiên mà văn bản giải thích.
- Vế sau “bài toán khó cần giải trong thế kỉ XXI” nêu đánh giá của tác giả: đây là thách thức lớn, cấp bách, cần con người tìm lời giải ngay trong thế kỉ này.
Như vậy, nhan đề đã khái quát cả đối tượng lẫn thông điệp chính của văn bản.
Câu 2: Đặc điểm của văn bản thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên (trang 68)
Đặc điểm của văn bản thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên được thể hiện như thế nào ở văn bản này?
Trả lời:
- Mục đích: cung cấp hiểu biết khoa học về chuyện nước biển dâng cao – nó là gì, vì sao xảy ra, diễn biến ra sao, gây hậu quả gì.
- Thông tin khách quan, chính xác: dẫn số liệu đo đạc, đánh giá của IPCC, kết quả nghiên cứu, các mốc thời gian cụ thể.
- Trình tự hợp lí: từ hiện tượng (mực nước luôn thay đổi) đến nguyên nhân (thủy triều, gió, bão, biến đổi khí hậu), rồi tới mức độ, dự báo và tác động.
- Có sa pô, đề mục và phương tiện phi ngôn ngữ: có sa pô mở đầu để đặt vấn đề, ba đề mục in đậm, biểu đồ hình 1.
- Ngôn ngữ khoa học: nhiều thuật ngữ (thủy triều, nhật triều, áp suất khí quyển, giãn nở nhiệt, kịch bản…), câu văn rõ ràng, ít biểu cảm.
Câu 3: Cách trình bày và triển khai thông tin trong văn bản (trang 68)
Chỉ ra cách trình bày (kênh chữ, kênh hình) và cách triển khai ý tưởng, thông tin trong văn bản Nước biển dâng: bài toán khó cần giải trong thế kỉ XXI. Phân tích hiệu quả của cách trình bày và triển khai ấy.
Trả lời:
Cách trình bày:
- Kênh chữ: sa pô in đậm tách riêng ở đầu bài; ba đề mục in đậm chia văn bản thành từng phần; các đoạn văn đi kèm con số, tên địa danh, tên tổ chức khoa học.
- Kênh hình: biểu đồ hình 1 thể hiện mực nước biển tăng dần từ cuối thế kỉ XIX đến năm 2000.
Cách triển khai: theo quan hệ nguyên nhân – kết quả kết hợp với trình tự thời gian. Tác giả đi từ vai trò của biển và các yếu tố làm mực nước lên xuống, so sánh để làm nổi bật nước biển dâng do khí hậu, giải thích nguyên nhân, rồi nêu dữ liệu quá khứ – hiện tại – dự báo tương lai, cuối cùng tổng kết.
Hiệu quả: người đọc nắm được vấn đề ngay từ sa pô, dễ theo dõi nhờ đề mục, hình dung trực quan mức độ dâng của nước biển nhờ biểu đồ; thông tin đi từ dễ hiểu đến phức tạp nên thuyết phục, giúp người đọc nhận ra mức độ nghiêm trọng của hiện tượng.
Câu 4: Vì sao nước biển dâng được coi là bài toán khó? (trang 68)
Dựa vào nội dung văn bản để lí giải: Tại sao hiện tượng “nước biển dâng” lại được coi là “bài toán khó”?
Trả lời:
Dựa vào văn bản, có thể nêu mấy lí do:
- Hiện tượng diễn ra âm thầm, mỗi năm chỉ vài mi-li-mét nên khó nhận ra và dễ bị xem nhẹ, đến khi thấy rõ thì hậu quả đã lớn.
- Lượng nước đã dâng là vĩnh viễn, không thể đảo ngược; tốc độ dâng lại có gia tốc.
- Theo văn bản, kể cả khi con người dừng hẳn việc thải khí nhà kính, nhiệt độ Trái Đất lẫn mực nước biển vẫn còn tăng trong dài hạn.
- Phạm vi ảnh hưởng rất rộng: hàng trăm triệu người sống ở vùng thấp ven biển, nhiều đô thị lớn bị đe dọa, thiệt hại kinh tế lên tới nhiều ngàn tỉ đô la Mỹ.
- Không quốc gia nào giải quyết được một mình; cần sự hợp tác của cả loài người.
Câu 5: Hiện tượng này liên quan gì đến Việt Nam và thế giới? (trang 68)
Hiện tượng được nêu trong văn bản liên quan gì đến Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung? Dẫn ra một số ví dụ trong văn bản cho thấy tác động của hiện tượng này.
Trả lời:
Với Việt Nam: 28/64 tỉnh, thành phố của nước ta nằm ven biển, đường bờ biển trải dài trên 3000 ki-lô-mét, Đồng bằng sông Cửu Long được nhắc ngay ở câu đầu sa pô, Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong danh sách các đô thị bị đe dọa. Vì vậy, nước biển dâng ảnh hưởng trực tiếp tới đất đai, sản xuất và cuộc sống của hàng triệu người Việt.
Với thế giới: khoảng 40% dân số sống gần biển; khi nước biển dâng kết hợp với triều cường, nhiều thành phố đông dân như Niu Oóc, Am-xtéc-đam, Tô-ki-ô, Băng-cốc, Xin-ga-po… sẽ chịu tác động rất lớn.
Ví dụ trong văn bản:
- Từ cuộc cách mạng công nghiệp đầu tiên đến nay, nước biển trên toàn thế giới đã cao thêm hơn 20 xăng-ti-mét.
- Trong trường hợp xấu nhất, mực nước có thể cao hơn bây giờ 86 xăng-ti-mét.
- Theo dự báo, tới khi thế kỉ sau khép lại, nước biển sẽ cao thêm từ 35 đến 85 xăng-ti-mét, kéo theo thiệt hại kinh tế lên tới nhiều ngàn tỉ đô la Mỹ.
Câu 6: Đề xuất góp phần khắc phục hiện tượng nước biển dâng (trang 68)
Em hãy nêu một số đề xuất nhằm góp phần khắc phục hiện tượng “nước biển dâng”.
Trả lời:
Em có thể đề xuất theo hai hướng: hạn chế nguyên nhân và thích ứng với hậu quả.
- Giảm nguyên nhân gây nóng lên toàn cầu: tiết kiệm điện, ưu tiên năng lượng mặt trời, năng lượng gió; đi xe đạp, phương tiện công cộng; hạn chế đồ nhựa dùng một lần; trồng và bảo vệ rừng.
- Thích ứng ở vùng ven biển: phục hồi rừng ngập mặn, rừng phòng hộ; gia cố đê biển, kè sông; xây cống ngăn mặn, trữ nước ngọt cho mùa khô; quy hoạch nhà ở, đô thị tránh vùng trũng thấp.
- Thay đổi cách sản xuất: chuyển sang giống cây chịu mặn, mô hình lúa – tôm, nuôi trồng phù hợp với nước lợ.
- Nâng cao hiểu biết: tuyên truyền trong trường học, cộng đồng; học sinh tham gia các hoạt động như Giờ Trái Đất, nhặt rác bãi biển, phân loại rác tại nguồn.
Kết luận
Qua bài soạn, em thấy văn bản Nước biển dâng: bài toán khó cần giải trong thế kỉ XXI là một mẫu văn bản thuyết minh giải thích hiện tượng tự nhiên tiêu biểu: có sa pô, đề mục rõ ràng, số liệu chính xác, biểu đồ minh họa và trình tự nguyên nhân – kết quả chặt chẽ. Hiểu cách tác giả triển khai thông tin sẽ giúp em làm tốt bài viết thuyết minh giải thích một hiện tượng tự nhiên ở cuối Bài 3, đồng thời có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường.
Xem thêm: