Soạn bài Đổi tên cho xã giúp em hoàn thành bốn câu hỏi chuẩn bị, tám câu hỏi trong khi đọc và sáu câu hỏi cuối bài ở trang 85 – 90, Bài 4 (Hài kịch và truyện cười), sách Ngữ văn 8 Cánh diều tập một. Văn bản là màn đầu tiên của vở hài kịch Bệnh sĩ do Lưu Quang Vũ sáng tác, kể buổi lễ do người đứng đầu xã là ông Toàn Nha tổ chức rình rang để thay tên Cà Hạ bằng Hùng Tâm.
Tìm hiểu chung về văn bản Đổi tên cho xã
Nắm vài thông tin cơ bản dưới đây sẽ giúp em trả lời câu hỏi dễ dàng hơn.

- Tác giả: Lưu Quang Vũ (1948 – 1988), nhà thơ, nhà viết kịch hàng đầu của sân khấu Việt Nam những năm 1980, được Nhà nước truy tặng giải thưởng mang tên Hồ Chí Minh năm 2000.
- Xuất xứ: trích màn đầu tiên của vở kịch Bệnh sĩ. Vở kịch kể về xã nghèo Cà Hạ, nơi ông chủ tịch xã háo danh chỉ lo thay tên đổi biển thay vì lo làm ăn.
- Thể loại: hài kịch (kịch nói).
- Nhân vật: ông Nha (đứng đầu xã), Văn Sửu (người ghi chép, soạn giấy tờ), ông Thình, vợ chồng ông Độp và nhiều xã viên khác.
Soạn bài Đổi tên cho xã – Chuẩn bị (trang 85)
Phần chuẩn bị gợi ý những điều cần chú ý khi đọc một văn bản hài kịch.
Câu 1: Tóm tắt nội dung văn bản
Tóm tắt nội dung văn bản (văn bản kể lại sự việc gì? Sự việc ấy xảy ra trong bối cảnh nào? Cốt truyện có gì đặc biệt?…).
Trả lời:
- Sự việc: buổi lễ ông chủ tịch Toàn Nha công bố tên mới Hùng Tâm thay cho Cà Hạ, đổi tên hợp tác xã và “thăng chức” cho hàng loạt người bằng những chức danh mới kêu như chuông.
- Bối cảnh: trụ sở xã ở phố Cà được trang hoàng cờ quạt, khẩu hiệu, có pháo, trống, loa nhạc ầm ĩ, trong khi xã vẫn nghèo, nghề cũ chỉ là đan sọt, tết thảm, nuôi lợn.
- Cốt truyện đặc biệt: mọi thứ đổi mới chỉ nằm ở cái tên. Người hoạn lợn trở thành chủ nhiệm một “trung tâm”, nghề phụ của xã bị dẹp để chuyển sang làm pháo. Càng long trọng bao nhiêu, cuộc đổi mới càng lộ rõ vẻ rỗng tuếch, buồn cười bấy nhiêu.
Câu 2: Đặc điểm hài kịch thể hiện ở những phương diện nào?
Đặc điểm của hài kịch được thể hiện trong văn bản ở những phương diện nào (xung đột, nhân vật, hành động, lời thoại, thủ pháp trào phúng…)?
Trả lời:
- Xung đột: giữa cái vỏ hào nhoáng (tên gọi, chức danh, nghi lễ) với thực chất nghèo nàn, lạc hậu của xã; giữa ảo tưởng của ông Nha và sự tỉnh táo của vài người như bà Độp, ông Thình.
- Nhân vật: ông Nha háo danh, Văn Sửu xu nịnh, ông Độp ham chức – những người có bề ngoài trịnh trọng nhưng bên trong rỗng tuếch.
- Hành động: đốt pháo, đánh trống, đọc danh sách bổ nhiệm, đặt tên “trung tâm” cho việc hoạn lợn.
- Lời thoại: lời phát biểu dài dòng, sáo rỗng; những câu hỏi ngớ ngẩn (tưởng “pháo” là “cà pháo”).
- Thủ pháp trào phúng: nói quá, tương phản, chơi chữ, tạo tình huống hiểu lầm.
Câu 3: Liên hệ với cuộc sống và bản thân
Liên hệ, kết nối với cuộc sống và bản thân để hiểu sâu hơn về nội dung văn bản và hiểu thêm chính mình.
Trả lời:
Đọc văn bản, em nhớ tới những cảnh người ta làm phong trào rầm rộ, băng rôn khẩu hiệu thật to nhưng kết quả thì chẳng bao nhiêu. Ngay trong lớp, có lúc em cũng thích làm cuốn vở thật đẹp, bìa thật kêu mà nội dung bài làm lại sơ sài. Văn bản nhắc em rằng cái cần chăm chút trước tiên là thực chất công việc, đừng chạy theo hình thức và lời khen.
Câu 4: Đọc trước văn bản, tìm hiểu về Lưu Quang Vũ
Trả lời:
Lưu Quang Vũ chào đời năm 1948 tại Phú Thọ, gốc người Đà Nẵng, cha là nhà soạn kịch Lưu Quang Thuận. Ông từng là người lính ngành phòng không, sau làm nhiều nghề, rồi về tạp chí Sân khấu và bùng nổ tài năng viết kịch trong những năm 1980 với hàng chục vở như Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Tôi và chúng ta, Bệnh sĩ. Năm 1988, ông qua đời cùng vợ (nhà thơ Xuân Quỳnh) và cậu con trai trong một tai nạn giao thông.
Soạn bài Đổi tên cho xã – Câu hỏi trong khi đọc (trang 86 – 90)
Tám câu hỏi bên lề giúp em theo dõi diễn biến và tiếng cười của đoạn trích.
Câu 1: Đoạn chữ in nghiêng mở đầu có nhiệm vụ gì? (trang 86)
Trả lời:
Đoạn in nghiêng là lời chỉ dẫn sân khấu: giới thiệu địa điểm (trụ sở xã đặt ở phố Cà), cách bày trí (cờ quạt, khẩu hiệu, bản đồ), âm thanh (pháo, nhạc), vị trí và dáng vẻ các nhân vật. Nó giúp đạo diễn, diễn viên dựng cảnh và giúp người đọc hình dung bầu không khí trang trọng một cách cố ý ngay từ đầu.
Câu 2: Mục đích của cuộc họp là gì? (trang 86)
Trả lời:
Cuộc họp nhằm công bố tên mới Hùng Tâm của xã và việc nâng phố Cà lên thị trấn, hợp tác xã đổi tên mới, đồng thời bổ nhiệm các chức vụ mới cho cán bộ, xã viên.
Câu 3: Tên mới của xã khác gì tên cũ? (trang 86)
Trả lời:
Tên cũ Cà, Cà Hạ mộc mạc, nôm na, gắn với đời sống thôn quê. Tên mới Hùng Tâm nghe kêu hơn, được ông Nha giải thích là “cái tâm hào hùng” của con cháu vua Hùng. Tuy vậy, đổi tên không làm xã giàu lên; cái tên mới chỉ khoác thêm vẻ to tát cho một vùng quê vẫn nghèo.
Câu 4: Vì sao một số dòng in nghiêng, để trong ngoặc đơn? (trang 87)
Trả lời:
Đó là chỉ dẫn sân khấu, không phải lời nhân vật. Các dòng này mô tả hành động, cử chỉ, âm thanh (tiếng trống, vỗ tay, nhân vật đứng dậy…) để diễn viên biết cách diễn và người đọc hình dung được cảnh trên sân khấu.
Câu 5: Tên các chức vụ được thay đổi ra sao? (trang 87)
Trả lời:
| Người | Chức cũ | Chức mới |
|---|---|---|
| Ông Thình | Đội trưởng đội Sáu (làm nghề phụ) | “Chủ nhiệm Trung tâm Công nghệ kiêm Trưởng ban Ngoại vụ” |
| Anh Tự | Tổ trưởng tổ nề mộc | “Chủ nhiệm Trung tâm Xây dựng và kiến thiết cơ bản” |
| Bà Thủ | Đứng đầu cửa hàng mua bán của xã | “Chủ nhiệm Công ty dịch vụ Thương nghiệp Hùng Tâm” |
| Ông Ruộng | Đội trưởng đội Hai | “Chủ nhiệm Trung tâm Điều phối nhân lực và sản xuất nông nghiệp” |
| Bà Độp | Phụ trách trại lợn | “Chủ nhiệm Trung tâm Chăn nuôi gia súc” |
| Ông Độp | Người hoạn lợn | “Chủ nhiệm Trung tâm Triệt sản gia súc Hùng Tâm” |
Nhận xét: chức danh nào cũng dài, nghe sang trọng, hiện đại, nhưng công việc thực chất vẫn y nguyên. Sự chênh lệch giữa tên gọi và việc làm tạo ra tiếng cười.
Câu 6: Ngôn ngữ hài hước được thể hiện ở chi tiết nào? (trang 88)
Trả lời:
Chi tiết hài hước nhất là việc “đặt tên” cho nghề hoạn lợn. Ông Nha chê hai chữ hoạn lợn nghe thô, nhờ Sửu nghĩ hộ; Sửu bèn gọi là “Trung tâm Triệt sản gia súc”. Ông Độp không hiểu, ông Nha phải giải thích “Nghĩa là hoạn đấy!”, thế là ông Độp sung sướng khen nghe văn minh hẳn. Cái tên mới cầu kì nhưng ai cũng phải dịch ngược về tên cũ mới hiểu – đó là tiếng cười châm biếm thói chuộng chữ nghĩa sáo rỗng.
Câu 7: Ngôn ngữ của ông Nha ở đoạn này có gì gây cười? (trang 89)
Trả lời:
Ông Nha nói toàn chữ to tát mà không rõ nghĩa: “trên đã có chủ trương cho bung ra, ta bung ra”, rồi quyết định “ta bung ra pháo”. Ông kể đã đi tham khảo ở tận quê vợ của một người họ hàng xa lắc xa lơ, nghe rối như canh hẹ. Khi ông Thình hỏi có phải trồng cà pháo không, ông phải làm điệu bộ “Đoành đoành đoành!” để giải thích. Ngôn ngữ ấy vừa khoa trương vừa ngô nghê, lộ rõ một người thiếu hiểu biết nhưng thích làm ra vẻ lãnh đạo tầm cỡ.
Câu 8: Dự đoán kết quả đổi mới của ông Nha (trang 90)
Trả lời:
Em đoán cuộc đổi mới sẽ thất bại. Ông Nha giao việc cho người không có chuyên môn, bỏ những nghề quen thuộc để chạy theo việc làm pháo đầy rủi ro, lại chỉ lo tuyên truyền, đặt tên cho kêu. Xã sẽ tốn tiền vào hình thức mà sản xuất đình trệ, người dân còn nghèo hơn trước.
Soạn bài Đổi tên cho xã – Câu hỏi cuối bài (trang 90)
Sáu câu hỏi cuối bài giúp em nắm nội dung, đặc trưng kịch bản và ý nghĩa phê phán của văn bản.
Câu 1: Nội dung chính và liên quan với tên vở kịch Bệnh sĩ (trang 90)
Nội dung chính của văn bản Đổi tên cho xã là gì? Nội dung đoạn trích này liên quan như thế nào với tên vở kịch Bệnh sĩ?
Trả lời:
- Nội dung chính: buổi lễ ông chủ tịch Toàn Nha đổi tên xã, đổi tên hợp tác xã, phát cho từng người một chức danh mới và vạch kế hoạch “đổi mới” bằng việc chuyển sang làm pháo.
- Liên quan với nhan đề: “bệnh sĩ” là căn bệnh sĩ diện, chuộng hình thức. Đoạn trích chính là những biểu hiện đầu tiên của căn bệnh ấy ở ông Nha và những người xung quanh: thích tên kêu, chức to, nghi lễ rình rang. Là cảnh mở đầu, đoạn trích giới thiệu nhân vật và “gieo mầm” cho những hậu quả ở các cảnh sau.
Câu 2: Cách trình bày kịch bản và chỉ dẫn sân khấu (trang 90)
Quan sát văn bản và chỉ ra cách trình bày kịch bản có gì khác với cách trình bày một truyện ngắn, bài kí hoặc thơ. Nhận biết các chỉ dẫn sân khấu và chức năng của các chỉ dẫn ấy.
Trả lời:
- Khác biệt: kịch bản không có lời người kể chuyện; nội dung được thể hiện chủ yếu qua lời thoại của nhân vật. Mỗi lời thoại mở đầu bằng tên nhân vật viết hoa (ÔNG NHA, VĂN SỬU, ÔNG ĐỘP…), tiếp đến là lời nói. Truyện ngắn, kí kể và tả bằng lời văn liền mạch; thơ tổ chức thành dòng, khổ có vần nhịp.
- Chỉ dẫn sân khấu: là những dòng chữ nghiêng đặt giữa hai dấu ngoặc đơn, ví dụ đoạn mô tả tiếng trống ếch, hai thiếu niên bước đều; các ghi chú như đứng dậy, xem đồng hồ, với vợ, làm điệu bộ.
- Chức năng: cho biết bối cảnh, âm thanh, hành động, cử chỉ, đối tượng nhân vật hướng lời tới; giúp việc dàn dựng và giúp người đọc hình dung cảnh diễn.
Câu 3: Phân tích một số đặc điểm hài kịch trong văn bản (trang 90)
Trả lời:
- Xung đột hài kịch: mâu thuẫn giữa ham muốn “đổi đời” bằng cái tên với thực tế nghèo khó; giữa nghi thức trang trọng với nội dung rỗng (khẩu hiệu thay trời đổi đất nhưng việc làm chỉ là đổi biển).
- Nhân vật hài kịch: những con người mang thói xấu – ông Nha háo danh, Sửu nịnh bợ, ông Độp ham hư danh – bề ngoài trịnh trọng, bên trong nông cạn.
- Lời thoại: lời ông Nha dài dòng, liệt kê cả chuỗi “thưa các cụ, các ông, các bà…”, nói câu “bung ra” vô nghĩa; lời ông Độp hồ hởi với chức mới; lời bà Độp thẳng thừng chê là dở hơi.
- Thủ pháp trào phúng: nói quá (tên hợp tác xã dài dằng dặc), đối lập (tên sang – việc tầm thường), hiểu lầm (pháo – cà pháo), lặp lại (chữ “trung tâm”, “chủ nhiệm”).
Câu 4: Ông Toàn Nha tiêu biểu cho kiểu người nào? (trang 90)
Nhân vật ông Chủ tịch xã Toàn Nha tiêu biểu cho kiểu người nào trong xã hội? Hãy phân tích đặc điểm tính cách của nhân vật này.
Trả lời:
Ông Toàn Nha là hình ảnh tiêu biểu của loại người háo danh, sĩ diện, chuộng hình thức, có quyền mà thiếu hiểu biết. Tính cách ấy thể hiện qua:
- Việc làm: tổ chức lễ đổi tên rình rang với pháo, trống, loa; phát chức danh mới cho cả xã; dẹp nghề cũ để làm pháo mà không tính toán.
- Lời nói: phát biểu dài dòng, sáo rỗng, thích dùng chữ to; thừa nhận mình “chữ nghĩa thì không có nhiều” nhưng vẫn tự cho là có hoài bão lớn, nhìn xa trông rộng.
- Cách nghĩ: muốn cả huyện, cả tỉnh, cả nước biết tiếng xã mình; dựa dẫm quan hệ (em rể làm chủ tịch huyện) để được ủng hộ; coi tuyên truyền quan trọng nhất.
Đó là chân dung một người lãnh đạo mắc “bệnh sĩ” nặng: lấy cái tên thay cho thực chất, lấy lời nói thay cho việc làm.
Câu 5: Văn bản phê phán hiện tượng gì? Ý nghĩa hôm nay (trang 90)
Theo em, văn bản Đổi tên cho xã đã nêu lên và phê phán hiện tượng gì? Điều đó còn có ý nghĩa với cuộc sống hôm nay không?
Trả lời:
Văn bản phê phán bệnh sĩ diện, chạy theo hình thức, hư danh: đổi tên, đặt chức thật kêu, làm lễ thật to mà không thay đổi thực chất. Ngày nay, hiện tượng ấy vẫn còn: phong trào làm cho có, báo cáo thành tích đẹp, đặt tên cửa hàng, chức danh thật sang nhưng chất lượng không tương xứng, hoặc người sống “ảo” để được khen. Vì vậy, văn bản vẫn nguyên giá trị nhắc nhở mỗi người coi trọng việc làm thật, hiệu quả thật.
Câu 6: Tác hại của “bệnh sĩ” trong cuộc sống (trang 90)
Bằng trải nghiệm của bản thân, em hãy nêu một số ý nói về tác hại của “bệnh sĩ” trong cuộc sống.
Trả lời:
- Làm con người sống giả, lo che đậy cái thật, dần đánh mất sự trung thực.
- Tốn tiền bạc, công sức cho những thứ phô trương mà không mang lại lợi ích thật.
- Khiến người ta không dám nhận mình chưa biết nên ngừng học hỏi, chậm tiến bộ.
- Gây áp lực, đua đòi: chỉ vì sĩ diện mà nhiều bạn đòi bố mẹ mua đồ đắt tiền, vay mượn, thậm chí nói dối.
- Với một tập thể, bệnh sĩ dẫn đến thành tích ảo, quyết định sai, như ông Nha có thể đẩy cả xã vào cảnh khó khăn.
Kết luận
Đổi tên cho xã là màn mở đầu đặc sắc của vở Bệnh sĩ, tiếng cười bật lên từ sự đối lập giữa những cái tên kêu vang và thực tế nghèo nàn. Khi soạn bài, em cần nắm đặc trưng của kịch bản (lời thoại, chỉ dẫn sân khấu), các yếu tố hài kịch và thông điệp phê phán thói sĩ diện còn nguyên giá trị hôm nay.
Xem thêm: