Phong cách sáng tác của Huy Cận có một bước chuyển hiếm thấy. Phong cách vốn là nét riêng ít đổi của người nghệ sĩ, nhưng ở Huy Cận, giọng thơ trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 khác nhau rõ rệt: từ nỗi sầu vũ trụ của Lửa thiêng đến niềm vui lao động của Đoàn thuyền đánh cá.
Sau phần đọc hiểu, em có thể chuyển sang cảm nhận & phân tích khổ 1, 2 Đoàn thuyền đánh cá để luyện viết bài văn hoàn chỉnh.
Phong cách sáng tác của Huy Cận trước 1945
Trước Cách mạng tháng Tám, thơ của Huy Cận mang nỗi buồn mênh mang, ảo não. Đó là nỗi buồn của con người nhỏ bé, bơ vơ trước không gian rộng lớn, nỗi buồn về kiếp người và về quê hương trong cảnh mất nước. Trong Thi nhân Việt Nam (1942), khi điểm lại những hồn thơ nổi bật của phong trào Thơ mới, Hoài Thanh nhắc đến một hồn thơ “ảo não như Huy Cận”.
Cũng Hoài Thanh, khi bàn về Huy Cận, đã viết một câu về sau được dẫn rất nhiều: “Người đã gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á, người đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này.” Và trong bài tiểu luận mở đầu Thi nhân Việt Nam, sau khi điểm qua những cuộc phiêu lưu của các nhà Thơ mới, ông kết lại: “Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận.”

Thơ ông giai đoạn này vừa thấm hồn Đường thi, với những không gian bát ngát, những hình ảnh cổ điển như sông dài, trời rộng, cánh chim, vừa tiếp thu thơ Pháp ở cách cảm nhận tinh tế và cái tôi cô đơn của Thơ mới. Bài Tràng giang, viết năm 1939, mở đầu bằng hai câu tiêu biểu cho giọng thơ ấy:
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Tập thơ tiêu biểu nhất cho phong cách Huy Cận thời kỳ này là Lửa thiêng, in năm 1940, gom những bài ông đăng báo từ khoảng năm 1936. Sau đó ông còn có chùm Vũ trụ ca (1940 – 1942) và tập văn xuôi Kinh cầu tự (1942).
Phong cách thơ Huy Cận sau 1945
Phong cách nghệ thuật của Huy Cận sau Cách mạng có những thay đổi rõ rệt. Thơ ông tươi tắn, tràn đầy sức sống và gắn với đời sống hiện thực: thiên nhiên, đất nước, con người lao động trở thành nguồn cảm hứng chính.
Bước chuyển rõ nhất đến vào năm 1958. Sau chuyến đi thực tế dài ngày ở vùng mỏ Quảng Ninh, Huy Cận viết Đoàn thuyền đánh cá và in tập Trời mỗi ngày lại sáng. Người đọc quen với “nỗi buồn điệp điệp” của Tràng giang bỗng gặp một bức tranh biển đêm rộn ràng nhịp lao động.
Vì sao phong cách sáng tác Huy Cận thay đổi?
Phong cách thơ Huy Cận trước và sau 1945 khác nhau nhiều, nhưng nguyên nhân chung đều nằm ở mối quan hệ giữa nhà thơ với hiện thực và thời đại.

Trước Cách mạng, nỗi buồn trong thơ Huy Cận là nỗi buồn của cả một lớp thanh niên trí thức sống trong cảnh nước mất, chưa tìm thấy lối ra. Sau Cách mạng, ông trực tiếp tham gia công việc của chính quyền mới, gắn bó với đời sống của nhân dân, nên cái tôi trong thơ cũng hòa vào niềm vui chung.
Hình ảnh con thuyền là một ví dụ dễ thấy. Trong Tràng giang, con thuyền xuôi mái giữa dòng sông mênh mông gợi nỗi lạc loài. Trong Đoàn thuyền đánh cá, những con thuyền ra khơi lúc hoàng hôn lại mang khí thế của con người làm chủ biển cả:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa,
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Dù vậy, nét riêng của ngòi bút Huy Cận vẫn còn: cảm hứng về vũ trụ, không gian rộng lớn và những hình ảnh thiên nhiên tráng lệ.
Lời kết
Phong cách sáng tác của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám mang nỗi buồn ảo não, mênh mang; sau đó chuyển sang giọng vui tươi, lạc quan. Điều không đổi là cảm hứng vũ trụ và sự gắn bó của thơ ông với hiện thực từng thời. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ được kể đầy đủ ở bài giới thiệu nhà thơ Huy Cận.
Một sáng tác ít người biết trong tập Lửa thiêng là bài Chiều xuân (Huy Cận), viết bằng những câu thơ bốn chữ.