Soạn bài Nếu mai em về Chiêm Hóa giúp em hoàn thành phần chuẩn bị, hai câu hỏi trong khi đọc và sáu câu hỏi cuối bài ở trang 44 – 46, Bài 2 (Thơ sáu chữ, bảy chữ), sách Ngữ văn 8 Cánh diều tập một. Bài thơ của nhà thơ người Tày Mai Liễu vẽ nên mùa xuân rực rỡ của Chiêm Hóa – một huyện miền núi phía bắc tỉnh Tuyên Quang – qua lời nhắn gửi tha thiết của người con xa quê.
Tìm hiểu chung về bài thơ Nếu mai em về Chiêm Hóa
Trước khi trả lời câu hỏi, em nắm vài thông tin cơ bản về tác giả, xuất xứ và thể thơ.

- Tác giả: Mai Liễu, tên khai sinh Ma Văn Liễu (1949 – 2020, theo chú thích SGK; có tài liệu ghi năm sinh 1950), là người Tày ở Tuyên Quang; thơ ông chan chứa tình yêu với bản làng và con người miền núi.
- Xuất xứ: cuối bài ghi thời điểm sáng tác – tháng Giêng, năm Ất Hợi, tức 1995; bài in trong tuyển tập Thơ Mai Liễu (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2015).
- Thể thơ: sáu chữ – mỗi dòng sáu tiếng, gồm năm khổ, mỗi khổ bốn dòng.
- Phương thức biểu đạt: chủ yếu là biểu cảm, có xen miêu tả.
Bài thơ còn được bảo hộ bản quyền nên bài soạn chỉ trích một vài dòng tiêu biểu; em đọc toàn văn trong SGK trang 45 – 46.
Soạn bài Nếu mai em về Chiêm Hóa – Chuẩn bị (trang 44)
Phần chuẩn bị yêu cầu em đọc trước bài thơ và nhớ lại những hiểu biết về mùa xuân miền núi phía bắc.
Câu 1: Đọc trước bài thơ, tìm hiểu về tác giả Mai Liễu
Trả lời:
Khi đọc trước, em đánh dấu những địa danh (sông Gâm, núi Thần), các dân tộc được nhắc tới (Dao, Tày) và lễ hội đầu xuân để hình dung vùng đất Chiêm Hóa. Về tác giả: Mai Liễu là nhà thơ người Tày ở Tuyên Quang, từng học trường nội trú dành cho học sinh dân tộc vùng Việt Bắc rồi học đại học ở Hà Nội; ông được ghi nhận là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam đầu tiên của tỉnh Tuyên Quang. Các tập thơ của ông có Giấc mơ của núi, Suối làng, Núi vẫn còn mưa, Mây vẫn bay về núi…
Câu 2: Ấn tượng về thiên nhiên, con người vùng núi phía bắc vào mùa xuân
Hãy tìm hiểu và chia sẻ ấn tượng của em về cảnh sắc thiên nhiên và con người ở vùng núi phía bắc nước ta vào mùa xuân.
Trả lời:
Qua phim ảnh và những chuyến đi cùng gia đình, em thấy mùa xuân vùng núi phía bắc đẹp như một bức tranh nhiều màu. Hoa đào, hoa mận nở trắng hồng các sườn đồi; sương sớm còn vương trên những mái nhà sàn; mưa phùn lất phất làm cây cối đâm chồi non mơn mởn. Con người nơi đây mặc áo chàm, váy thổ cẩm sặc sỡ, rủ nhau đi chợ phiên, đi hội ném còn, thổi khèn, nhảy múa. Em ấn tượng nhất là nụ cười hiền và sự hiếu khách của đồng bào: khách lạ đến nhà cũng được mời chén rượu, bát canh nóng. Mùa xuân miền núi vì thế vừa tươi tắn vừa ấm áp.
Soạn bài Nếu mai em về Chiêm Hóa – Câu hỏi trong khi đọc (trang 45 – 46)
Hai câu hỏi bên lề giúp em chú ý biện pháp tu từ và cấu trúc của bài thơ.
Câu 1: Chỉ ra biện pháp nhân hóa trong khổ thơ (trang 45)
Trả lời:
Khổ thơ thứ hai có hai hình ảnh nhân hóa:
Đá ngồi dưới bến trông nhau
Non Thần hình như trẻ lại
Những hòn đá được gán hành động “ngồi”, “trông nhau” như người; ngọn núi Thần được tả là “trẻ lại” như con người được hồi xuân.
Câu 2: Dòng thơ nào được điệp lại trong khổ cuối? (trang 46)
Trả lời:
Dòng thơ mở đầu bài “Nếu mai em về Chiêm Hóa” được lặp lại ở đầu khổ cuối. Phép điệp này tạo kết cấu đầu – cuối tương ứng, nhấn mạnh lời mời gọi và nỗi mong ngóng của tác giả, đồng thời đưa mạch thơ từ cảnh sắc trở về với lời nhắn gửi.
Soạn bài Nếu mai em về Chiêm Hóa – Câu hỏi cuối bài (trang 46)
Sáu câu hỏi đọc hiểu giúp em nắm bố cục, hình ảnh, biện pháp tu từ, cách dùng từ và tình cảm của tác giả.
Câu 1: Bố cục và mạch cảm xúc của bài thơ (trang 46)
Trả lời:
Bố cục: có thể chia làm ba phần.
- Khổ 1 và khổ 2: lời gửi nỗi nhớ và bức tranh thiên nhiên Chiêm Hóa vào xuân (mưa xuân, mùa măng, sông Gâm, núi Thần).
- Khổ 3 và khổ 4: vẻ đẹp của con người, nhất là những cô gái Dao, cô gái Tày trong ngày xuân.
- Khổ 5: lễ hội đầu xuân và lời chúc may mắn, duyên lành.
Mạch cảm xúc: bắt đầu từ nỗi nhớ quê được gửi theo người sắp về Chiêm Hóa, lan dần sang cảnh vật, rồi đến con người, cuối cùng lắng lại ở không khí hội xuân đầm ấm. Cảm xúc đi từ nhớ thương đến tự hào, say mê và kết bằng niềm mong ước tốt đẹp.
Câu 2: Hình ảnh, chi tiết về thiên nhiên và con người mùa xuân (trang 46)
Tác giả sử dụng những hình ảnh, chi tiết nào để thể hiện bức tranh thiên nhiên và con người trong mùa xuân? Hãy chia sẻ ấn tượng, nhận xét của em về bức tranh đó.
Trả lời:
| Bức tranh | Hình ảnh, chi tiết |
|---|---|
| Thiên nhiên | mưa xuân giăng như tơ, cái rét làm cây cối nảy lộc; mùa măng; dòng sông Gâm với hai bờ cát; những phiến đá bên bến nước; ngọn núi Thần xanh ngút ngàn. |
| Con người | phố đông người qua lại; cô gái Dao đeo vòng bạc, ngực cài ngù hoa; cô gái Tày duyên dáng trong sắc áo chàm, nụ cười tươi tắn; ngày hội lùng tùng (lễ xuống đồng) đầu xuân với trò ném còn. |
Ấn tượng, nhận xét: bức tranh mùa xuân Chiêm Hóa có màu sắc hài hòa: trắng của cát, xanh của núi, bạc lấp lánh của vòng tay, chàm thẫm của áo, hồng tươi của đôi môi. Mọi vật đều tràn đầy sức sống – cây nảy lộc, măng lên, núi như trẻ lại. Đặc biệt, đây là mùa xuân mang nét riêng của miền núi phía bắc: mưa phùn, rét lộc, trang phục và lễ hội của đồng bào Dao, Tày. Con người hiện lên trẻ trung, duyên dáng, hòa làm một với thiên nhiên.
Câu 3: Biện pháp nhân hóa ở khổ 2 và khổ 4 (trang 46)
Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong các khổ thơ 2, 4 của văn bản.
Trả lời:
| Khổ | Hình ảnh nhân hóa | Tác dụng |
|---|---|---|
| 2 | Đá “ngồi”, “trông nhau”; núi Thần “trẻ lại” | Thổi hồn cho cảnh vật vốn tĩnh lặng: đá như đôi bạn ngồi đợi nhau, núi như con người hồi xuân. Thiên nhiên trở nên sống động, gần gũi, mang tình cảm của con người. |
| 4 | Mùa xuân “lạc đường” | Mùa xuân được hình dung như một người lữ khách mải ngắm nụ cười cô gái Tày đến quên lối. Cách nói tinh nghịch ấy tôn lên vẻ đẹp cuốn hút của con người, đẹp đến mức làm say cả mùa xuân. |
Nhờ nhân hóa, cảnh và người hòa quyện, bài thơ vừa tươi vui vừa giàu chất trữ tình.
Câu 4: Từ đồng nghĩa với “về” và lí do chọn từ “về” (trang 46)
Tìm các từ đồng nghĩa với từ “về” trong dòng thơ “Nếu mai em về Chiêm Hóa”. Theo em, vì sao nên chọn từ “về”?
Trả lời:
- Từ đồng nghĩa: đến, tới, đi, lên (lên Chiêm Hóa), ghé.
- Lí do chọn “về”: “về” gợi sự trở lại một nơi thân thuộc, nơi mình thuộc về, như về nhà, về quê. Dùng từ này, nhà thơ coi Chiêm Hóa là mái nhà chung, đón người đến như đón người thân trở về; còn các từ “đến”, “tới” chỉ nói việc di chuyển, nghe xa lạ, khách sáo hơn. Từ “về” vì thế chứa đựng tình cảm gắn bó và niềm tự hào về quê hương.
Câu 5: Tình cảm, cảm xúc của tác giả với quê hương (trang 46)
Trả lời:
Qua bài thơ, ta thấy Mai Liễu yêu tha thiết và tự hào về quê hương Chiêm Hóa. Nhà thơ nhớ quê da diết đến mức phải gửi nỗi nhớ theo bước chân người sắp về. Ông say mê từng cảnh vật – mưa xuân, dòng sông, ngọn núi – và trân trọng vẻ đẹp của con người, nét văn hóa các dân tộc nơi đây. Lời thơ ân cần như lời mời gọi, khoe với mọi người về quê mình, cho thấy sự gắn bó máu thịt của người con miền núi với cội nguồn.
Câu 6: Nếu sau “Nếu mai em về…” là tên quê em (trang 46)
Giả sử sau dấu ba chấm “Nếu mai em về…” là tên vùng đất quê hương em, thì em sẽ chia sẻ những hình ảnh, chi tiết nào của quê hương mình? Vì sao em lại chọn các chi tiết, hình ảnh ấy?
Trả lời:
Nếu thay bằng tên quê em là Hội An, em sẽ kể về những dãy nhà tường vàng rêu phong, những chiếc đèn lồng đủ màu thắp sáng phố cổ mỗi tối rằm, con sông Hoài lấp lánh hoa đăng, và bát cao lầu thơm mùi tro củi. Em cũng sẽ nhắc tới nụ cười hiền của những cô bán hàng rong và tiếng rao lanh lảnh buổi sớm. Em chọn các hình ảnh này vì đó là nét riêng chỉ quê em mới có, gắn với kỉ niệm tuổi thơ của em, và em muốn người đến chơi cảm nhận được vẻ đẹp vừa cổ kính vừa ấm áp của quê mình.
(Mỗi em có thể thay bằng tên quê mình và chọn những hình ảnh đặc trưng nhất: cánh đồng, con sông, món ăn, lễ hội, con người…)
Kết luận
Nếu mai em về Chiêm Hóa là bài thơ sáu chữ giàu hình ảnh, nhạc điệu nhẹ nhàng, gói trọn tình quê của một nhà thơ miền núi. Khi soạn bài, em chú ý bố cục ba phần, biện pháp nhân hóa ở khổ 2, khổ 4, phép điệp dòng thơ đầu – cuối và cách dùng từ “về” đầy tình cảm.
Xem thêm: