Bốn câu thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là trang chữ cuối cùng học sinh lớp 8 gặp trong sách Ngữ văn 8 Cánh diều: đó là đề viết thứ hai của bài tự đánh giá cuối học kì II. Mục Ôn tập và tự đánh giá cuối học kì II trải từ trang 123 đến 127 tập hai, gồm 15 câu hỏi ôn tập chia bốn mảng (trang 123–124), định hướng đánh giá và một đề tự đánh giá có đoạn trích giới thiệu tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng, 7 câu đọc hiểu cùng hai đề viết (trang 125–127). Bên dưới là lời giải từng câu, lí do cho câu trắc nghiệm, hai bài viết tham khảo, bảng văn bản Bài 6–10 và đề tự luyện. Mục lục: Ngữ văn 8 Cánh diều.

Nội dung ôn tập (trang 123–124)
Mục tiêu: hệ thống kiến thức sách Ngữ văn 8 (trọng tâm tập hai) và hiểu bài tự đánh giá cuối năm yêu cầu gì.
Đọc hiểu văn bản (câu 1–7)
Câu 1 (trang 123): Thể loại, kiểu văn bản và tên văn bản đã học ở tập hai
Thống kê tên các thể loại hoặc kiểu văn bản và tên văn bản cụ thể đã học trong sách Ngữ văn 8, tập hai, dẫn ra một số ví dụ.
Trả lời:
| Bài | Thể loại / kiểu văn bản | Văn bản (đọc chính, thực hành đọc, tự đánh giá) |
|---|---|---|
| 6 | Truyện | Lão Hạc (Nam Cao), Trong mắt trẻ (trích Hoàng tử bé, Ê-xu-pe-ri), Người thầy đầu tiên (Ai-ma-tốp), Cố hương (Lỗ Tấn) |
| 7 | Thơ Đường luật (thất ngôn bát cú, tứ tuyệt) | Mời trầu (Hồ Xuân Hương), Vịnh khoa thi Hương (Trần Tế Xương), Xa ngắm thác núi Lư (Lý Bạch), Cảnh khuya (Hồ Chí Minh), Qua Đèo Ngang (Bà Huyện Thanh Quan) |
| 8 | Truyện lịch sử và tiểu thuyết | Quang Trung đại phá quân Thanh (Ngô gia văn phái), Đánh nhau với cối xay gió (Xéc-van-tét), Bên bờ Thiên Mạc (Hà Ân), Tức nước vỡ bờ (Ngô Tất Tố) |
| 9 | Nghị luận văn học | Vẻ đẹp của bài thơ “Cảnh khuya” (Lê Trí Viễn), Chiều sâu của truyện “Lão Hạc” (Văn Giá), Nắng mới, áo đỏ và nét cười đen nhánh (Lê Quang Hưng), “Hoàng tử bé” – một cuốn sách diệu kì |
| 10 | Văn bản thông tin giới thiệu sách, phim | “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” – tác phẩm không bao giờ cũ dành cho thiếu nhi, Bộ phim “Người cha và con gái”, Cuốn sách “Chìa khoá vũ trụ của Gioóc-giơ”, Tập truyện “Quê mẹ” của nhà văn Thanh Tịnh |
Câu 2 (trang 123): Nội dung các truyện ở Bài 6 và ý nghĩa nhân văn
Nêu nội dung chính của các văn bản truyện đã học trong Bài 6; từ đó, nhận xét và phân tích ý nghĩa nhân văn được thể hiện trong các văn bản này.
Trả lời:
- Lão Hạc: ông lão nông nghèo bán con chó Vàng rồi tự tìm đến cái chết để giữ mảnh vườn cho con trai, không muốn phiền lụy hàng xóm.
- Trong mắt trẻ: người kể nhớ bức vẽ con trăn nuốt voi mà người lớn chỉ thấy là cái mũ; trẻ em có cách nhìn giàu tưởng tượng, người lớn thì khô cứng.
- Người thầy đầu tiên: thầy Đuy-sen mở lớp học ở vùng núi hẻo lánh, che chở và mở đường đời cho cô bé An-tư-nai.
- Cố hương: nhân vật “tôi” về quê, gặp lại người bạn thuở nhỏ Nhuận Thổ nay đã khắc khổ, xa cách; truyện gửi hi vọng về một con đường mới.
Ý nghĩa nhân văn chung: các truyện đều hỏi con người đối xử với nhau ra sao. Nam Cao bắt ta nhìn kĩ một người tưởng gàn dở để thấy lòng tự trọng và tình cha; Ê-xu-pe-ri bênh vực trí tưởng tượng của trẻ em; Ai-ma-tốp ca ngợi người thầy tận tâm; Lỗ Tấn day dứt trước khoảng cách giữa người với người.
Câu 3 (trang 123): Đặc điểm thơ Đường luật và thủ pháp trào phúng ở Bài 7
Những đặc điểm cần chú ý của thể thơ Đường luật là gì? Chỉ ra và nhận xét một số thủ pháp nghệ thuật trào phúng được sử dụng trong các bài thơ Đường luật ở Bài 7.
Trả lời:
- Đặc điểm: thất ngôn bát cú (8 câu, mỗi câu 7 chữ) hoặc tứ tuyệt (4 câu); thường gieo một vần bằng ở cuối câu đầu và các câu chẵn; luật bằng trắc chặt; bát cú có đối ở hai câu thực và hai câu luận; bố cục đề – thực – luận – kết (bát cú) hoặc khai – thừa – chuyển – hợp (tứ tuyệt). Thơ có thể viết bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm.
- Thủ pháp trào phúng (rõ nhất ở Vịnh khoa thi Hương): đảo ngữ đưa từ tượng hình, tượng thanh lên đầu câu để phơi bày cái lố bịch (“Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ, / Ậm oẹ quan trường miệng thét loa”); phép đối đặt quan sứ cạnh mụ đầm để chế giễu cảnh trường thi dưới thời thực dân; giọng mỉa mai chuyển thành tự trào, xót xa ở hai câu kết. Ở Mời trầu, tiếng cười nhẹ hơn: Hồ Xuân Hương tự xưng tên mình, dùng thành ngữ đời thường trong thể thơ vốn trang trọng.
Câu 4 (trang 123): Nội dung và hình thức các văn bản đọc hiểu ở Bài 8
Nhận xét về nội dung và hình thức nghệ thuật của các văn bản đọc hiểu ở Bài 8: a) Nội dung chính của các văn bản đọc hiểu là gì? Đề tài và chủ đề của các văn bản truyện lịch sử có gì giống nhau? b) Nhận xét đặc điểm nổi bật về hình thức thể loại của các văn bản truyện lịch sử và nêu các lưu ý về cách đọc hiểu những truyện này.
Trả lời:
a) Quang Trung đại phá quân Thanh thuật cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng của vua Quang Trung đầu xuân Kỷ Dậu (1789), đối lập với sự tháo chạy của quân Thanh và vua tôi Lê Chiêu Thống. Đánh nhau với cối xay gió (tiểu thuyết) kể chuyện hiệp sĩ hão Đôn Ki-hô-tê lao vào cối xay gió, đặt cạnh Xan-chô Pan-xa thực dụng. Bên bờ Thiên Mạc là đoạn truyện lịch sử của Hà Ân. Hai truyện lịch sử cùng lấy đề tài là sự kiện, nhân vật có thật trong quá khứ dân tộc, chủ đề ngợi ca người anh hùng và tinh thần giữ nước.
b) Hình thức: cốt truyện dựa trên sự kiện lịch sử; nhân vật khắc họa qua hành động, lời nói; có hư cấu ở chi tiết, đối thoại, nhân vật phụ; ngôn ngữ mang màu sắc thời đại. Cách đọc: tìm hiểu bối cảnh; tách cái có thật với cái hư cấu; chú ý cách dựng nhân vật chính.
Câu 5 (trang 124): Điểm chung và cách đọc các văn bản ở Bài 9
Các văn bản trong Bài 9 có điểm gì chung? Cần chú ý những gì về cách đọc các văn bản này?
Trả lời: Điểm chung: đều là nghị luận văn học, bàn về một tác phẩm cụ thể (Cảnh khuya, Lão Hạc, Nắng mới, Hoàng tử bé), trong đó hai tác phẩm em vừa học ở Bài 6, Bài 7. Cách đọc: xác định vấn đề người viết bàn; tìm luận điểm, lí lẽ, bằng chứng (thường là câu thơ, chi tiết truyện được trích); xem các luận điểm sắp xếp ra sao; đối chiếu với cảm nhận của chính mình về tác phẩm được bàn.
Câu 6 (trang 124): Đề tài, kiểu bài và cách đọc văn bản thông tin ở Bài 10
Đề tài và kiểu bài của các văn bản thông tin ở Bài 10 có gì đặc sắc? Nêu các lưu ý về cách đọc các văn bản thông tin trong Bài 10.
Trả lời: Đặc sắc: đề tài là sách và phim (Lá cờ thêu sáu chữ vàng, phim hoạt hình Người cha và con gái, sách Chìa khoá vũ trụ của Gioóc-giơ): văn bản thông tin lấy tác phẩm nghệ thuật làm đối tượng; kiểu bài giới thiệu, thông tin khách quan xen nhận xét, đánh giá. Lưu ý khi đọc: xác định đối tượng giới thiệu và mục đích; tách thông tin khách quan khỏi ý kiến của người viết; chú ý nhan đề, sa pô, ảnh bìa, hình minh họa; tự hỏi văn bản có khiến mình muốn đọc sách, xem phim không và vì sao.
Câu 7 (trang 124): Giống và khác nhau về phần Đọc hiểu giữa tập hai và tập một
Nêu những điểm giống nhau và khác nhau về phần Đọc hiểu trong sách Ngữ văn 8, tập hai so với sách Ngữ văn 8, tập một.
Trả lời:
| Mặt so sánh | Tập một | Tập hai |
|---|---|---|
| Giống | Mỗi tập năm bài, mỗi bài có hai văn bản đọc chính, thực hành đọc, tự đánh giá; đều có truyện, thơ, văn bản nghị luận, văn bản thông tin; cách đọc theo đặc trưng thể loại. | |
| Truyện | Truyện ngắn trữ tình (Tôi đi học, Gió lạnh đầu mùa); hài kịch, truyện cười | Truyện hiện thực, truyện nước ngoài (Lão Hạc, Cố hương); truyện lịch sử, tiểu thuyết |
| Thơ | Thơ sáu chữ, bảy chữ hiện đại | Thơ Đường luật trung đại và hiện đại |
| Nghị luận | Nghị luận xã hội (hịch, chiếu, cáo, bài hiện đại) | Nghị luận văn học |
| Thông tin | Giải thích hiện tượng tự nhiên | Giới thiệu sách, phim |
Viết (câu 8–11)
Câu 8 (trang 124): Dạng văn bản luyện viết và quan hệ giữa Viết với Đọc hiểu
Các dạng văn bản cụ thể được luyện viết trong sách Ngữ văn 8, tập hai thuộc những kiểu văn bản nào? Chỉ ra mối quan hệ giữa phần Viết và phần Đọc hiểu của mỗi bài học.
Trả lời:
| Bài | Dạng bài viết | Kiểu văn bản | Đọc hiểu làm chỗ dựa |
|---|---|---|---|
| 6 | Phân tích một tác phẩm truyện | Nghị luận văn học | Cách xây dựng nhân vật, tình huống trong Lão Hạc |
| 7 | Phân tích một tác phẩm thơ | Luật, hình ảnh, tu từ trong thơ Đường luật | |
| 8 | Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí | Nghị luận xã hội | Tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm trong truyện lịch sử gợi đề tài |
| 9 | Nghị luận phân tích một tác phẩm kịch | Nghị luận văn học | Cách lập luận trong Chiều sâu của truyện “Lão Hạc”; hài kịch đã học ở tập một làm đối tượng |
| 10 | Giới thiệu một cuốn sách | Thuyết minh (văn bản thông tin) | Bố cục, cách giới thiệu trong bài về Lá cờ thêu sáu chữ vàng |
Câu 9 (trang 124): Các kĩ năng viết được rèn luyện, ý nghĩa và tác dụng
Thống kê các kĩ năng viết được rèn luyện trong sách Ngữ văn 8, tập hai (ví dụ, Bài 10: Tóm tắt nội dung cuốn sách và cách xưng hô trong bài viết). Phân tích ý nghĩa và tác dụng của các kĩ năng nói trên.
Trả lời:
- Bài 6, 7, 9: chọn và trích dẫn bằng chứng (câu thơ, chi tiết truyện, lời thoại kịch), phân tích bằng chứng để làm rõ luận điểm, nêu chủ đề và đặc sắc nghệ thuật.
- Bài 8: giải thích một khái niệm đạo đức, lập luận chứng minh, bác bỏ ý kiến trái chiều.
- Bài 10: tóm tắt nội dung cuốn sách ngắn gọn; chọn cách xưng hô phù hợp với người đọc; nêu cảm nhận, đánh giá.
Ý nghĩa, tác dụng: bài viết có sức thuyết phục nhờ bằng chứng và phân tích; em đọc tác phẩm kĩ hơn vì phải chọn chi tiết đáng nói; kĩ năng dùng được cả khi viết cảm nhận về sách, phim ngoài nhà trường.
Câu 10 (trang 124): Khác biệt giữa phân tích một tác phẩm thơ và thuyết minh giới thiệu một tác phẩm thơ
Nêu một số điểm khác biệt (mục đích, nội dung, hình thức, lời văn,…) giữa kiểu bài phân tích một tác phẩm thơ và kiểu bài thuyết minh giới thiệu một tác phẩm thơ.
Trả lời:
| Mặt | Phân tích một tác phẩm thơ | Thuyết minh giới thiệu một tác phẩm thơ |
|---|---|---|
| Mục đích | Làm rõ cái hay về ý và lời, thuyết phục người đọc theo cách hiểu của mình | Cung cấp thông tin để người đọc biết về bài thơ |
| Nội dung | Luận điểm về chủ đề, hình ảnh, ngôn từ, tu từ; phân tích từng câu, từng chi tiết | Tác giả, thời điểm sáng tác, thể thơ, bố cục, nội dung khái quát, vị trí của bài thơ |
| Hình thức | Bố cục bài nghị luận: luận điểm, lí lẽ, dẫn chứng trích thơ | Bố cục bài thuyết minh, có thể kèm ảnh, sơ đồ, mục nhỏ |
| Lời văn | Có cảm xúc, đánh giá riêng của người viết | Khách quan, chính xác, rõ ràng |
Câu 11 (trang 124): Kiểu văn bản ở phần Viết tập hai khác tập một
Các kiểu văn bản được học ở phần Viết trong sách Ngữ văn 8, tập hai có gì khác so với sách Ngữ văn 8, tập một?
Trả lời: Tập một trải rộng nhiều kiểu: tự sự (kể chuyến đi, hoạt động xã hội), biểu cảm và tập sáng tác thơ, văn bản kiến nghị, bài giải thích một hiện tượng thiên nhiên, nghị luận về vấn đề đời sống và vấn đề xã hội trong tác phẩm. Tập hai dồn vào nghị luận: ba bài nghị luận văn học (phân tích truyện, thơ, kịch), một bài nghị luận về tư tưởng, đạo lí; chỉ còn một bài thuyết minh là giới thiệu cuốn sách. Yêu cầu cũng cao hơn: không chỉ kể, tả, giải thích mà phải phân tích, đánh giá tác phẩm và lập luận về những giá trị trừu tượng.
Nói và nghe (câu 12–13)
Câu 12 (trang 124): Nội dung nói và nghe ở tập hai và trọng tâm mỗi bài
Nêu những nội dung chính được rèn luyện về các kĩ năng nói và nghe ở sách Ngữ văn 8, tập hai. Xác định trọng tâm phần Nói và nghe của mỗi bài học.
Trả lời:
- Bài 6 – trình bày ý kiến về một vấn đề xã hội: trọng tâm là nói (nêu ý kiến, lí lẽ, bằng chứng).
- Bài 7 – nghe và tóm tắt nội dung thuyết trình về một tác phẩm thơ: trọng tâm là nghe, ghi ý.
- Bài 8 – nghe và tóm tắt nội dung thuyết trình về một nhân vật lịch sử hoặc tác phẩm văn học: trọng tâm là nghe, tóm tắt.
- Bài 9 – thuyết trình bài giới thiệu về một vấn đề của tác phẩm văn học: trọng tâm là nói (thuyết trình).
- Bài 10 – giới thiệu một cuốn sách: trọng tâm là nói, gắn với bài viết cùng tên.
Câu 13 (trang 124): Yêu cầu cần bảo đảm khi thực hành nói và nghe
Nêu những yêu cầu cần bảo đảm khi thực hành hoạt động nói và nghe ở sách Ngữ văn 8, tập hai.
Trả lời: Người nói: có dàn ý, tư liệu (câu thơ, chi tiết truyện, ảnh bìa sách); đúng chủ đề, đủ mở – thân – kết; giọng rõ, nhìn người nghe. Người nghe: ghi ý chính bằng từ khóa hoặc sơ đồ, tóm tắt được, hỏi lại chỗ chưa rõ, nhận xét lịch sự. Cả hai: tôn trọng ý kiến khác, đúng thời gian, tự rút kinh nghiệm.
Tiếng Việt (câu 14–15)
Câu 14 (trang 124): Nội dung tiếng Việt ở tập hai và quan hệ với đọc, viết, nói và nghe
Nêu nội dung chính của phần tiếng Việt được học trong sách Ngữ văn 8, tập hai. Các nội dung này có mối quan hệ như thế nào với phần Đọc hiểu, Viết, Nói và nghe?
Trả lời:
| Bài | Thực hành tiếng Việt | Gắn với đọc, viết, nói |
|---|---|---|
| 6 | Từ ngữ toàn dân, từ ngữ địa phương và biệt ngữ xã hội | Lời nhân vật trong Lão Hạc; khi viết, nói trước tập thể nên dùng từ toàn dân |
| 7 | Đảo ngữ, câu hỏi tu từ, từ tượng hình, từ tượng thanh | Hiểu tiếng cười trong Vịnh khoa thi Hương; dùng khi phân tích thơ |
| 8 | Câu khẳng định và câu phủ định | Lời thoại nhân vật lịch sử; lập luận khẳng định – bác bỏ trong bài nghị luận |
| 9 | Thành phần biệt lập trong câu | Thành phần tình thái, phụ chú trong văn nghị luận văn học; thể hiện thái độ người viết |
| 10 | Câu hỏi, câu khiến, câu cảm, câu kể | Bài giới thiệu sách dùng câu hỏi gợi tò mò, câu khiến mời đọc |
Tiếng Việt giúp hiểu tác dụng của cách dùng từ, đặt câu khi đọc, và là công cụ để viết, nói chính xác.
Câu 15 (trang 124): Biện pháp tu từ trong các bài thơ ở Bài 7
Nêu một số biện pháp tu từ có trong các bài thơ đã học ở Bài 7 và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em thấy nổi bật.
Trả lời: Một số biện pháp: so sánh (“Tiếng suối trong như tiếng hát xa” trong Cảnh khuya; “Đừng xanh như lá, bạc như vôi” trong Mời trầu), điệp từ (lồng, chưa ngủ trong Cảnh khuya), đảo ngữ và từ tượng hình, tượng thanh (Vịnh khoa thi Hương), phép đối (các cặp câu thực, luận).
Phân tích đảo ngữ trong hai câu thực của Vịnh khoa thi Hương: từ tượng hình lôi thôi và từ tượng thanh ậm oẹ được đẩy lên đầu câu, nên điều người đọc thấy trước tiên là vẻ nhếch nhác của sĩ tử và tiếng quát khàn khàn của quan trường, rồi mới đến con người. Kì thi vốn trang nghiêm hiện ra như một cảnh hỗn loạn; chỉ bằng trật tự từ, Tú Xương vừa tả vừa châm biếm.
Hệ thống văn bản đã học ở học kì II Ngữ văn 8 Cánh diều (có link bài soạn)
| Văn bản đọc chính | Tác giả | Một câu để nhớ |
|---|---|---|
| Lão Hạc | Nam Cao | Cái chết dữ dội để giữ trọn lòng tự trọng và tình cha. |
| Trong mắt trẻ | Ê-xu-pe-ri | Bức vẽ con trăn nuốt voi và người lớn chỉ thấy cái mũ. |
| Mời trầu | Hồ Xuân Hương | Lời mời trầu thành lời nói về duyên phận, đòi sự chân thành. |
| Vịnh khoa thi Hương | Trần Tế Xương | Trường thi nhốn nháo, nỗi nhục mất nước. |
| Cảnh khuya (thực hành đọc) | Hồ Chí Minh | Cảnh rừng đêm đẹp như vẽ và người chưa ngủ vì việc nước. |
| Quang Trung đại phá quân Thanh | Ngô gia văn phái | Cuộc hành quân thần tốc và hình tượng người anh hùng áo vải. |
| Đánh nhau với cối xay gió | Xéc-van-tét | Hiệp sĩ hão huyền và người giám mã thực dụng. |
| Vẻ đẹp của bài thơ “Cảnh khuya” | Lê Trí Viễn | Nghị luận về hòa quyện giữa thi sĩ và chiến sĩ. |
| Chiều sâu của truyện “Lão Hạc” | Văn Giá | Nghị luận về những tầng ý nghĩa của truyện. |
| “Lá cờ thêu sáu chữ vàng” – tác phẩm không bao giờ cũ dành cho thiếu nhi | Theo sachhaynendoc.net | Giới thiệu truyện về Trần Quốc Toản. |
| Bộ phim “Người cha và con gái” | Theo vtc.vn | Giới thiệu bộ phim hoạt hình ngắn về nỗi chờ đợi người cha. |
Văn bản tự đánh giá cuối Bài 8 là Tức nước vỡ bờ (trích Tắt đèn, Ngô Tất Tố).
Tự đánh giá cuối học kì II (trang 125–127)
Định hướng đánh giá (trang 125): bài làm trong 2 tiết (90 phút). Phần đọc hiểu dùng một văn bản mới cùng thể loại hoặc kiểu văn bản đã học ở tập hai, hỏi bằng trắc nghiệm khách quan và câu trả lời ngắn. Phần viết là đoạn hoặc bài văn ngắn theo các kiểu đã học: nghị luận văn học (phân tích tác phẩm truyện, thơ, văn bản hài kịch), nghị luận về một vấn đề đời sống, thuyết minh giới thiệu một cuốn sách.
I. Đọc hiểu: đoạn trích giới thiệu Lá cờ thêu sáu chữ vàng (theo Hoàng Thảo, hoahoctro.tienphong.vn, 2-5-2020)
Đoạn trích có bốn đoạn. Đoạn (1) nói các nhân vật đều xoay quanh người anh hùng nhỏ tuổi Trần Quốc Toản, mới 15 tuổi đã xin mẹ cho chiêu mộ binh lính đánh giặc. Đoạn (2) nói tính cách quyết đoán, gan dạ của Hoài Văn Hầu, kết tinh ở lá cờ đề sáu chữ “Phá cường địch báo hoàng ân”. Đoạn (3) giới thiệu Nguyễn Huy Tưởng là cây bút hàng đầu viết về lịch sử, mảng sáng tác đòi hỏi thông tin chính xác. Đoạn (4) khen tài dựng mốc thời gian, địa điểm và đi vào nội tâm cả nhân vật phụ của nhà văn.
Câu 1 (trang 126): Đoạn trích giới thiệu về vấn đề gì
Đoạn trích trên giới thiệu về vấn đề gì? A. Về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng. B. Về tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng và Nguyễn Huy Tưởng. C. Về tài năng nghệ thuật của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng. D. Về một số nhân vật trong tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng.
Trả lời: B. Hai đoạn đầu nói về tác phẩm, hai đoạn sau nói về tác giả qua chính tác phẩm ấy. A thiếu tác phẩm và đoạn trích không kể cuộc đời nhà văn; C và D mỗi phương án chỉ đúng một nửa.
Câu 2 (trang 126): Đoạn trích thuộc kiểu bài viết nào
Có thể xem đoạn trích trên thuộc kiểu bài viết nào? A. Giới thiệu về một nhà văn. B. Phân tích tác phẩm văn học. C. Giới thiệu về một cuốn sách. D. Kể lại một truyện lịch sử.
Trả lời: C. Đoạn trích nêu thông tin về cuốn sách (nhân vật chính, nội dung, tác giả) kèm nhận xét để người đọc biết và muốn tìm đọc, đúng kiểu bài ở Bài 10. Không phân tích chi tiết từng câu chữ như bài nghị luận (B), cũng không kể lại cốt truyện (D).
Câu 3 (trang 127): Đoạn văn tóm tắt nội dung chính của tác phẩm
Đoạn văn nào tóm tắt nội dung chính của tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng? A. (1) và (2). B. (1) và (3). C. (2) và (4). D. (2) và (3).
Trả lời: A. Đoạn (1) nêu nhân vật trung tâm và việc Trần Quốc Toản xin đi đánh giặc; đoạn (2) nêu tính cách và lá cờ sáu chữ. Đoạn (3), (4) nói về tác giả.
Câu 4 (trang 127): Đoạn văn đánh giá tài năng viết truyện lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng
Đoạn văn nào đánh giá tài năng viết truyện lịch sử của Nguyễn Huy Tưởng? A. (2) và (3). B. (1) và (2). C. (3) và (4). D. (1) và (3).
Trả lời: C. Đoạn (3) xếp ông vào hàng cây bút xuất sắc mảng lịch sử, đoạn (4) chỉ rõ cái tài ở việc dựng mốc thời gian, địa điểm và đi vào nội tâm nhân vật.
Câu 5 (trang 127): Ghép tiếng “hào” với nghĩa phù hợp
Ghép tiếng “hào” trong các từ ở cột A (a) Hào hùng, b) Hô hào, c) Chiến hào, d) Hào kiệt) với nghĩa phù hợp ở cột B (1) rãnh rộng và sâu để làm công sự hoặc đi lại, vận chuyển an toàn; 2) phi thường, người có tài trí xuất chúng; 3) kêu gọi; 4) có khí thế mạnh mẽ và sôi nổi).
Trả lời: Hào hùng – nghĩa 4; Hô hào – nghĩa 3; Chiến hào – nghĩa 1; Hào kiệt – nghĩa 2. Đây là bốn yếu tố Hán Việt đồng âm khác nghĩa: hào trong hào hùng (khí thế), trong hô hào (gọi to), trong chiến hào (cái rãnh), trong hào kiệt (người tài).
Câu 6 (trang 127): “Đề tài này” là đề tài nào, vì sao phải chính xác
Trong văn bản có nêu: “Yêu cầu quan trọng nhất khi viết về đề tài này là người viết phải cung cấp thông tin liên quan đến sự vật, sự việc một cách chính xác, có độ tin cậy cao …”. Em hiểu “đề tài này” là đề tài nào? Vì sao đề tài ấy phải đáp ứng được yêu cầu đã nêu?
Trả lời: “Đề tài này” là đề tài lịch sử (viết truyện về nhân vật, sự kiện lịch sử có thật). Phải chính xác vì người đọc, nhất là thiếu nhi, coi truyện như một cách học lịch sử; nếu thời gian, địa điểm, nhân vật bị viết sai, người đọc sẽ hiểu sai quá khứ dân tộc và truyện mất giá trị, mất lòng tin.
Câu 7 (trang 127): Hiểu cụm từ “chắp thêm cánh”
“Ông khéo léo dựa trên nền tảng vững chắc là lịch sử hào hùng của nước nhà, chắp thêm cánh cho nó để biến thành một truyện lịch sử vừa hấp dẫn vừa cung cấp cho người đọc hiểu biết về những sự kiện đã xảy ra.”. Em hiểu cụm từ “chắp thêm cánh” trong câu văn trên là chỉ việc gì?
Trả lời: “Chắp thêm cánh” chỉ việc nhà văn hư cấu, tưởng tượng trên cái nền sự thật: thêm chi tiết, lời thoại, diễn biến tâm trạng, cả những nhân vật phụ như mẹ Trần Quốc Toản, Thế Lộc, Toa Đô. Nhờ đó, sự kiện khô khan trong sử sách thành câu chuyện sống động, hấp dẫn mà vẫn không sai lệch lịch sử.
II. Viết: sách cho hai đề, chọn một đề, viết thành bài văn ngắn.
Đề 1 (trang 127): Phân tích một tác phẩm truyện em thấy sâu sắc nhất trong sách Ngữ văn 8
Trả lời: Gợi ý chọn Lão Hạc. Bố cục: giới thiệu tác phẩm, nêu chủ đề; phân tích nhân vật qua các chi tiết then chốt; nêu đặc sắc nghệ thuật; đánh giá chung. Bài tham khảo:
Trong các truyện của sách Ngữ văn 8, Lão Hạc của Nam Cao để lại cho em nhiều suy nghĩ nhất, vì câu chuyện về một ông lão nông nghèo ấy đặt ra câu hỏi rất lớn: con người phải giữ phẩm giá thế nào khi bị cái nghèo dồn đến đường cùng.
Lão Hạc sống cô độc; con trai phẫn chí bỏ đi đồn điền cao su vì không đủ tiền cưới vợ, để lại con chó Vàng và mảnh vườn lão quyết giữ cho con. Sau trận ốm, không còn việc làm, lão buộc phải bán cậu Vàng. Cảnh lão kể với ông giáo, khuôn mặt co rúm, nước mắt chảy ra, là một trong những trang xúc động nhất của truyện: lão khóc vì thương con chó, và vì thấy mình đã lừa một con vật tin mình.
Lòng tự trọng của lão hiện rõ ở những việc lão làm trước khi chết. Lão gửi ông giáo mảnh vườn để giữ cho con và số tiền dành dụm để lo ma chay, không muốn làm phiền hàng xóm; lão từ chối mọi sự giúp đỡ, sống bằng củ chuối, sung luộc. Khi Binh Tư kể lão xin bả chó, ông giáo, và cả người đọc, tưởng lão đã tha hóa. Cái chết vật vã vì ăn bả chó ngay sau đó đánh đổ hoàn toàn nghi ngờ ấy: lão chọn chết chứ không ăn vào số tiền của con.
Người kể là ông giáo, một trí thức nghèo vừa chứng kiến vừa suy ngẫm, nên truyện có những đoạn triết lí về cách nhìn người; tình huống bất ngờ ở cuối buộc người đọc hiểu lại nhân vật từ đầu.
Lão Hạc vừa tố cáo cái nghèo đã đẩy người lương thiện vào bước đường cùng, vừa trân trọng vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân. Đọc xong, em hiểu thêm vì sao mình không nên phán xét ai chỉ qua vài việc nhìn thấy bên ngoài.
Đề 2 (trang 127): Phân tích bài thơ Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương)
Đề in nguyên bài thơ:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Trả lời: Cần chỉ ra hai lớp nghĩa (tả chiếc bánh và nói về người phụ nữ), phân tích từng câu, đánh giá giá trị. Bài tham khảo:
Hồ Xuân Hương có nhiều bài thơ vịnh vật mà nói người, và Bánh trôi nước là bài tiêu biểu nhất. Chỉ với bốn câu thất ngôn tứ tuyệt viết bằng chữ Nôm, nữ sĩ vừa tả đúng chiếc bánh dân dã, vừa nói lên thân phận, phẩm giá người phụ nữ dưới chế độ phong kiến.
Câu đầu mở bằng hai tiếng Thân em, cách mở quen thuộc của những bài ca dao than thân. Ở lớp nghĩa thứ nhất, câu thơ tả bột bánh trắng, viên bánh tròn. Ở lớp nghĩa thứ hai, đó là lời tự giới thiệu đầy tự tin của người con gái về vẻ đẹp của mình: da trắng, thân hình đầy đặn. Cặp từ vừa… lại vừa cho thấy niềm tự hào ấy được nói ra một cách hồn nhiên.
Câu thứ hai chuyển ngay sang nỗi long đong. Bánh trôi khi luộc phải chìm nổi trong nồi nước; người phụ nữ thì trôi dạt giữa cuộc đời. Hồ Xuân Hương đã đảo thành ngữ ba chìm bảy nổi thành bảy nổi ba chìm để vừa hợp vần với tròn, son, vừa nhấn vào sự lênh đênh không tự quyết. Hai chữ nước non mở rộng nồi nước thành cả xã hội.
Câu thứ ba nói thẳng hơn về sự lệ thuộc: bánh rắn hay nát là do tay người nặn, cũng như hạnh phúc của người phụ nữ xưa do cha mẹ, chồng con định đoạt. Nhưng câu cuối xoay chiều đột ngột. Với một quan hệ từ chỉ sự đối lập đứng đầu câu, người phụ nữ khẳng định điều duy nhất không ai nặn được: tấm lòng son, như nhân đỏ son bên trong chiếc bánh, là tấm lòng thủy chung, trong sạch.
Bài thơ ngắn mà có cả tiếng than lẫn tiếng nói cứng cỏi, một cách lên tiếng cho phẩm giá người phụ nữ giữa thời của Hồ Xuân Hương.
Đề kiểm tra cuối học kì II tham khảo (tự soạn, có đáp án)
Đề do Văn VN biên soạn, làm trong 90 phút. Ngữ liệu là một đoạn nghị luận văn học Văn VN viết riêng cho đề, bàn về một khía cạnh nhỏ của Bánh trôi nước.
I. Đọc hiểu (4 điểm) – Đọc đoạn bình luận dưới đây rồi làm sáu câu hỏi.
Đọc Bánh trôi nước, nhiều người dừng lại ở hai chữ “trắng” và “tròn”. Tôi lại muốn dừng, có lẽ hơi khác mọi người, ở chữ “Mà” mở đầu câu kết. Suốt ba câu trước, người phụ nữ gần như không được làm chủ điều gì: thân mình bị đem ra ngắm, đời mình trôi theo “nước non”, hình hài méo tròn tùy bàn tay người nặn. Đến chữ “Mà”, giọng thơ bỗng đổi. Đó là tiếng nói của người dám cãi lại số phận: hoàn cảnh xô đẩy thế nào thì tấm lòng vẫn đỏ son, không phai. Một quan hệ từ nhỏ bé đã làm bản lề nối hai nửa bài thơ, nửa than thân và nửa khẳng định. Nhờ nó, chiếc bánh trôi quen thuộc ngày Tết Hàn thực trở thành hình ảnh một con người biết tự trọng. Hồ Xuân Hương không hô hào ai cả. Bà chỉ đặt một chữ đúng chỗ, và người đọc hôm nay vẫn nghe ra trong đó một sự cứng cỏi hiếm thấy.
Câu 1. (Trắc nghiệm) Đoạn văn thuộc kiểu văn bản nào? A. Văn bản thông tin. B. Nghị luận văn học. C. Tự sự. D. Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.
Câu 2. (Trắc nghiệm) Vấn đề chính người viết bàn là gì? A. Vẻ đẹp ngoại hình của người phụ nữ trong bài thơ. B. Vai trò của chữ “Mà” trong việc chuyển giọng thơ. C. Phong tục làm bánh trôi ngày Tết Hàn thực. D. Cuộc đời của Hồ Xuân Hương.
Câu 3. (Trắc nghiệm) Cụm từ có lẽ trong câu thứ hai là thành phần biệt lập nào? A. Tình thái. B. Cảm thán. C. Gọi đáp. D. Phụ chú.
Câu 4. (Trắc nghiệm) Câu nào là câu phủ định? A. Đến chữ “Mà”, giọng thơ bỗng đổi. B. Hồ Xuân Hương không hô hào ai cả. C. Tôi lại muốn dừng ở chữ “Mà”. D. Bà chỉ đặt một chữ đúng chỗ.
Câu 5. Theo người viết, ba câu thơ đầu và câu thơ cuối của Bánh trôi nước khác nhau ở điểm nào?
Câu 6. Người viết gọi chữ “Mà” là “bản lề”. Em có đồng tình không? Trả lời bằng đoạn văn 4–6 câu, có dẫn câu thơ.
II. Viết (6 điểm) – chọn một đề
Đề A. Viết bài văn nghị luận bàn về lòng tự trọng của người học sinh.
Đề B. Viết bài văn giới thiệu một cuốn sách em yêu thích.
Đáp án và hướng dẫn chấm
| Câu | Đáp án / yêu cầu | Điểm |
|---|---|---|
| 1 | B. Bàn về một bài thơ, có ý kiến, lí lẽ, dẫn chứng là từ ngữ trong thơ. | 0,5 |
| 2 | B. Câu thứ hai nêu rõ chỗ người viết muốn dừng lại; các câu sau phân tích chữ ấy. | 0,5 |
| 3 | A. Thể hiện sự phỏng đoán, thái độ dè dặt của người viết. | 0,5 |
| 4 | B. Có từ phủ định không. | 0,5 |
| 5 | Ba câu đầu: người phụ nữ bị động, chịu sự xô đẩy (bị ngắm, trôi nổi, bị nặn), giọng than thân. Câu cuối: chủ động khẳng định tấm lòng son, giọng cứng cỏi. | 0,75 |
| 6 | Nêu rõ đồng tình hay không; lí giải được vai trò nối và đối lập của quan hệ từ; dẫn câu thơ cuối; diễn đạt mạch lạc. | 1,25 |
| Viết | Bố cục ba phần, đúng kiểu bài (0,5). Đề A: giải thích lòng tự trọng; biểu hiện ở học sinh (không gian lận, nhận lỗi, giữ lời); vì sao cần; phê phán biểu hiện thiếu tự trọng; bài học (4,0). Đề B: thông tin cơ bản về sách (tác giả, thể loại, năm xuất bản); tóm tắt nội dung; điểm đặc sắc; lí do giới thiệu, xưng hô phù hợp (4,0). Diễn đạt, chính tả (1,0); sáng tạo (0,5). | 6,0 |
Mấy điều nên ôn kĩ trước bài cuối năm lớp 8
- Đề viết cuối năm thiên về nghị luận văn học. Chuẩn bị sẵn dàn ý phân tích một truyện (như Lão Hạc) và một bài thơ Đường luật bốn câu (như Bánh trôi nước, Cảnh khuya).
- Câu ghép đoạn văn với nội dung (như câu 3, câu 4 phần tự đánh giá): đọc câu chủ đề của từng đoạn trước, rồi mới xét các phương án.
Xem thêm:
- Ôn tập học kì 1 Ngữ văn 8 Cánh diều (trang 132–136 tập một)
- Soạn bài Lão Hạc và Soạn bài Vịnh khoa thi Hương
- Soạn bài Quang Trung đại phá quân Thanh
- Soạn bài Chiều sâu của truyện “Lão Hạc” (mẫu nghị luận văn học cho đề phân tích truyện)
- Mục lục Ngữ văn 8 Cánh diều