Tháng Chín nào cũng vậy, báo chí và mạng xã hội lại chép lại câu văn mở đầu Tôi đi học, như một cách đánh dấu mùa tựu trường. Người viết câu văn ấy là Thanh Tịnh (1911 – 1988), nhà thơ, nhà văn sinh ở ngoại ô Huế, một gương mặt của văn chương lãng mạn trước 1945, rồi thành người lính, người diễn tấu trong kháng chiến chống Pháp và nhiều năm làm Chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ Quân đội. Năm 2007, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Cậu bé xóm Gia Lạc bên sông Hương

| Tên khai sinh | Trần Văn Ninh; lên sáu tuổi đổi thành Trần Thanh Tịnh |
| Bút danh | Thanh Tịnh; ngoài ra Thinh Không, Pathé (trước 1945), Thanh Thanh, Trinh Thuần (sau 1945) |
| Năm sinh – năm mất | 12/12/1911 – 17/7/1988 (sách Thi nhân Việt Nam ghi năm sinh 1913) |
| Quê quán | Xóm Gia Lạc ven sông Hương, huyện Phú Vang cũ, ngoại ô thành phố Huế |
| Thể loại | Thơ, truyện ngắn, truyện thơ, tấu, ca dao |
| Tác phẩm tiêu biểu | Hận chiến trường, Quê mẹ (có Tôi đi học), Ngậm ngải tìm trầm, Sức mồ hôi, Những giọt nước biển, Đi từ giữa một mùa sen |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1951 – 1952 (các bài độc tấu); Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (2007) |
| Trong SGK hiện hành | Tôi đi học (Ngữ văn 8 Cánh diều; Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo) |
Ông sinh ở xóm Gia Lạc, một xóm nhỏ ven sông Hương thuộc huyện Phú Vang (tài liệu ghi xã Dương Nỗ, có tài liệu ghi Phú Thượng). Thuở nhỏ học chữ Hán, mười một tuổi mới chuyển sang chữ Quốc ngữ ở trường Đông Ba, rồi học trường dòng Pellerin ở Huế và đỗ bằng Thành chung.

Từ năm 1933, ông làm thư ký cho các sở tư rồi dạy học. Nhà phê bình Vương Trí Nhàn, người từng làm việc cùng ông ở tạp chí Văn nghệ Quân đội, kể thêm rằng thời trẻ ông còn làm đạc điền, và nghề ông theo lâu nhất trước Cách mạng lại là hướng dẫn du lịch: lang thang đây đó, kể chuyện cho người khác nghe. Cái duyên kể chuyện ấy, như ta sẽ thấy, đi theo ông suốt đời.
Thi sĩ tiền chiến: Hận chiến trường và hai bài trong Thi nhân Việt Nam
Sáng tác đầu tay của ông là truyện Cha làm trâu, con làm ngựa, đăng trên Thần kinh tạp chí năm 1934. Nhưng ông được chú ý trước hết với tư cách nhà thơ. Năm 1936, trong cuộc thi thơ do Hà Nội báo tổ chức, bài Lời cuối cùng của ông chiếm giải nhất, đồng hạng với Phạm Đình Bách. Tập thơ Hận chiến trường ra đời ngay sau đó (tài liệu ghi năm 1936 hoặc 1937; bản in nhà in Mirador ở Huế mang năm 1937).
Ông cộng tác rộng với các báo Phong hóa, Ngày nay, Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ Năm, Thanh Nghị, Tinh Hoa. Khi soạn Thi nhân Việt Nam (1942), Hoài Thanh và Hoài Chân chọn hai bài của ông là Mòn mỏi và Tơ trời với tơ lòng. Có thể tìm đọc phần bình của hai ông về thơ Thanh Tịnh trong chính cuốn sách ấy; về người soạn sách, xem chân dung nhà phê bình Hoài Thanh.
Quê mẹ: những trang văn bùi ngùi của làng quê xứ Huế
Văn xuôi mới là chỗ Thanh Tịnh để lại nhiều trang được nhớ nhất. Tập truyện ngắn Quê mẹ (1941), rồi Chị và em (1942), Ngậm ngải tìm trầm (1943) kể chuyện những con người hiền lành mà bất hạnh ở các làng ven sông Hương: cô gái từ nhà chồng về thăm mẹ, chuyến đò dọc của hai mẹ con người góa phụ, người đi tìm trầm trên núi.
Giọng văn của ông nhẹ, chậm, hơi buồn. Báo Nhân Dân tả phong cách ấy là tinh tế, mượt mà, pha chút buồn bâng khuâng. Vương Trí Nhàn thì nhận xét gọn hơn: một tập truyện ngắn, một ít bài thơ, tất cả đều có giọng bùi ngùi, và chính sự thành thật, nhỏ nhẹ không giống ai đã giữ những trang văn ấy lại trong trí nhớ nhiều thế hệ. Người đọc từng đi qua truyện Thạch Lam sẽ thấy hai người gần nhau ở cái nhìn trìu mến dành cho những phận người nhỏ bé. Năm 1943, ông viết truyện Con so về nhà mẹ tặng hương hồn Thạch Lam.
Tôi đi học trong sách giáo khoa
Tôi đi học in trong tập Quê mẹ năm 1941. Truyện không có cốt truyện ly kỳ: một người đàn ông nhớ lại buổi sáng mẹ dắt mình đến trường lần đầu, những bỡ ngỡ trước sân trường, ông đốc, thầy giáo và lớp học mới. Cả truyện được dệt bằng cảm xúc, và câu mở đầu đã thành quen thuộc:
Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường.
| Sách – bài học | Vị trí | Đọc thêm trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 1 – Bài 1 (Truyện ngắn) | Văn bản đọc chính | Soạn bài Tôi đi học (Cánh diều) |
| Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 6 (Hành trình tri thức) | Đọc kết nối chủ điểm | Soạn bài Tôi đi học (Chân trời sáng tạo) |
Ôn nhanh xuất xứ, bố cục và giá trị của truyện có bài Tôi đi học: tác giả – tác phẩm; nếu cần ghi nhớ diễn biến, có bài tóm tắt Tôi đi học. Học sinh viết bài nghị luận có thể tham khảo phân tích Tôi đi học và các mẫu mở bài Tôi đi học.
“Vua tấu” của những năm kháng chiến
Cuối năm 1946, với tư cách người đứng đầu ban thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Trung Bộ, ông ra Bắc dự Đại hội văn hóa. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông không kịp trở về Huế và theo dòng người lên Việt Bắc. Báo Nhân Dân dẫn lời ông kể: được nhìn ngọn lửa kháng chiến, nghe lời kêu gọi cứu nước, ông thấy mình không có quyền đứng yên.
Ông chọn cho mình một việc đúng sở trường: làm người hát rong, kể chuyện kháng chiến cho người kháng chiến nghe. Từ những bài thơ dễ hiểu được đem ra diễn trước đám đông, ông tạo nên thể độc tấu. Theo báo Nhân Dân, tác phẩm đầu tiên là bài Bắn cả hai, tiếp đó là Chiến thắng Sông Lô, Trận địa lôi cây số 7 đường Hà Tuyên, Lão dân quân Đông Bắc; đồng bào, chiến sĩ gọi ông là “Vua tấu”. Vương Trí Nhàn cũng ghi nhận thể độc tấu gắn với tên Thanh Tịnh từ thời chống Pháp, còn Hội Văn nghệ Việt Nam trao giải 1951 – 1952 cho những bài độc tấu của ông.
Năm 1948, ông nhập ngũ, tham gia phụ trách đoàn kịch Chiến Thắng. Năm 1951, ông đi bộ vào Khu Bốn, làm văn công cùng Chi hội văn nghệ ở đó. Hòa bình lập lại năm 1954, ông nhận một nhiệm vụ lạ: dẫn một đoàn hát xẩm 23 người, phần lớn mắt kém, về vùng Bùi Chu, Phát Diệm, dùng lời ca dân gian vận động đồng bào ở lại quê hương. Cũng năm ấy, tập ca dao Sức mồ hôi ra đời.
Ba mươi năm ở “Nhà số 4”
Từ năm 1954, ông về tạp chí Văn nghệ Quân đội, ban đầu tham gia phụ trách rồi làm Chủ nhiệm, sau thôi lãnh đạo để chuyên sáng tác. Trụ sở tạp chí, mà giới cầm bút quen gọi là “Nhà số 4”, cũng là nơi ông ở gần như cả phần đời còn lại. Năm 1957, ông tham gia thành lập Hội Nhà văn Việt Nam và là ủy viên Ban Chấp hành khóa I, II. Ông nghỉ hưu với quân hàm đại tá.
Những người cùng thời nhớ ông như một người vui tính, hóm hỉnh, mỗi dịp Tết lại viết cả chục bài thơ vui, câu đố cho các báo. Nhưng sau vẻ vui ấy là một nỗi buồn riêng. Đất nước chia cắt, vợ con ông ở lại Huế. VnExpress, tường thuật lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh ông năm 2011, ghi lời nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ rằng trong giới văn nghệ, nỗi cô đơn của ông kéo dài lặng lẽ và xót xa hơn cả. Vương Trí Nhàn nhớ hình ảnh người đồng nghiệp già một mình xách xô nước lên gác hai mỗi sáng, giữa ngôi nhà vắng khi mọi người đã về với gia đình.
Ở cơ quan, ông kiệm lời khi bàn văn người khác. Nhà văn Nguyễn Khải kể lại rằng phải đến khi in truyện Sự ra đi của người con, ông mới được Thanh Tịnh nhận xét một câu ngắn: nhà văn là phải có giọng riêng. Câu ấy Nguyễn Khải nhớ suốt đời.
Đi từ giữa một mùa sen
Năm 1973, ông hoàn thành truyện thơ Đi từ giữa một mùa sen, viết bằng thể lục bát về thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo báo Nhân Dân, tác phẩm dài gần hai nghìn câu, chia làm tám đoạn, đi qua mười lăm năm đầu đời của Bác, và được in nhiều kỳ trên báo Nhân Dân, Quân đội Nhân dân. Bài báo gọi đây là tác phẩm để đời của ông. Năm 1980, ông in tập Thơ ca.
Ngày 17/7/1988, Thanh Tịnh mất tại Hà Nội. Năm 1991, các đồng đội ở Nhà số 4 đưa di hài ông về an táng dưới chân núi Thiên Thai, phía tây thành phố Huế, gần con sông Hương của tuổi nhỏ. Năm 2007, Nhà nước truy tặng ông Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Còn với học trò, ông vẫn là người của mùa thu, của buổi sáng đầu tiên đến trường.