Tám năm trên tuyến đường Trường Sơn, một anh lính tốt nghiệp khoa Văn chưa dạy ngày nào đã viết những câu thơ mà lính lái xe, thanh niên xung phong chép vào sổ tay mang theo. Phạm Tiến Duật (1941 – 2007) là nhà thơ của Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây, Lửa đèn, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2012.
Người con đất Phú Thọ

| Tên | Phạm Tiến Duật (tên thật cũng là bút danh) |
| Năm sinh – năm mất | 14/1/1941 – 4/12/2007 |
| Quê quán | Phú Thọ (phần lớn nguồn ghi huyện Thanh Ba; nhà thơ Vũ Quần Phương ghi thị xã Phú Thọ) |
| Thể loại | Thơ, trường ca, tiểu luận |
| Tác phẩm tiêu biểu | Vầng trăng quầng lửa (1970), Thơ một chặng đường (1971), Ở hai đầu núi (1981), Nhóm lửa (1996), Tiếng bom và tiếng chuông chùa (1997), Vừa làm vừa nghĩ (tiểu luận) |
| Giải thưởng | Giải nhất thơ báo Văn nghệ (1969 – 1970); Giải thưởng Nhà nước (2001); Giải thưởng Hồ Chí Minh (2012, truy tặng) |
| Trong SGK | Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Ngữ văn 8 KNTT; Tiếng Việt 4 Cánh diều; trước đó là Ngữ văn 9) |
Cha ông là một nhà giáo dạy chữ Hán và tiếng Pháp, mẹ làm ruộng. Bạn văn còn nhớ hình ảnh bà cụ tóc trắng từ Thanh Ba lên Hà Nội dự đám cưới con trai, được kể lại trong một bài trên báo Sài Gòn Giải Phóng.
Từ khoa Văn Sư phạm lên Trường Sơn
Ông học khoa Văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Ra trường, ông không đi dạy mà nhập ngũ năm 1965. Mười bốn năm tại ngũ (1965 – 1977), thì tám năm ông ở Trường Sơn, trong Đoàn 559, bộ đội vận tải đường Hồ Chí Minh. Công việc của ông là tuyên huấn, viết báo, có lúc đi chiếu phim cho các binh trạm; theo lời kể của bạn cùng đơn vị, ông đọc thơ mình trong các buổi họp như một nghệ sĩ.
Chính ông nói Trường Sơn đã sinh ra nhà thơ Phạm Tiến Duật, và nếu sau này ông viết được gì neo lại trong lòng người đọc là nhờ những năm tháng ấy (báo Đại Đoàn Kết dẫn lại). Nhiều câu thơ của ông đi ra thẳng từ sổ tay ghi chép dọc đường. Theo bài của nhà thơ Việt Chiến trên báo Thanh Niên, ông kể hai câu trong Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây vốn là dòng ghi trong buồng lái của một chiến sĩ lái xe, mấy tháng sau mới thành bài thơ:
Anh lên xe trời đổ cơn mưa
Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ
Thơ ông ghi lại đúng những gì một người lính thấy hằng ngày: xe vỡ kính, những cô gái mở đường, những bếp Hoàng Cầm, những trận bom đêm.
Chùm thơ giải nhất 1969 – 1970
Năm 1969, chùm thơ ông gửi cuộc thi thơ báo Văn nghệ được trao giải nhất. Các nguồn kê khác nhau đôi chút: báo Pháp Luật và Vũ Quần Phương ghi Lửa đèn, Nhớ, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Gửi em cô thanh niên xung phong; Thời báo Văn học Nghệ thuật ghi Trường Sơn Đông – Trường Sơn Tây thay cho Nhớ. Sau giải thưởng, ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam.
Vũ Quần Phương nhận xét rằng ông có thơ in báo từ năm 1961, nhưng phải đến chùm thơ này, cái giọng riêng của ông mới hiện rõ. Giọng ấy trẻ, tinh nghịch, ngang tàng kiểu lính, mà dưới cái vẻ vô tư lại là những câu nặng trĩu. Bài Gửi em cô thanh niên xung phong, viết về một cô gái gặp trên đường ra trận, là một ví dụ.
Không ít bài được phổ nhạc và hát khắp chiến trường, nổi tiếng nhất là Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây.
Những chiếc xe không có kính
Bài thơ về tiểu đội xe không kính viết năm 1969, in trong tập Vầng trăng quầng lửa (1970). Ngay nhan đề đã lạ: chữ “bài thơ” đặt trước một đề tài tưởng như không có gì thơ. Hai câu mở đầu nói thẳng vì sao xe mất kính:
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Từ chiếc xe trụi kính, bài thơ dựng lên chân dung người lính lái xe: bụi phủ tóc trắng như người già, mưa tuôn ướt áo, vẫn bắt tay nhau qua cửa kính vỡ, vẫn cười. Nét chung của thơ ông là thứ hiện thực nóng hổi ấy cùng giọng điệu tươi trẻ, hóm hỉnh; phân tích kỹ có ở bài phong cách sáng tác của Phạm Tiến Duật.
Viết về số 0, bài thơ quen gọi là Vòng trắng
Năm 1973, Tư lệnh Trường Sơn Đồng Sĩ Nguyên giao cho ông ra Bắc sưu tầm tài liệu để soạn văn bia Trường Sơn. Ở Hà Nội sau trận B52 cuối năm 1972, ông viết một bài thơ tám dòng, đặt tên Viết về số 0. Tạp chí Thanh niên số tháng 1/1974 đăng bài này nhân một năm phố Khâm Thiên bị ném bom, và người đọc quen gọi nó là Vòng trắng, theo hình ảnh những vòng trắng trên mặt đất trong bài.
Mấy tháng sau, một tạp chí lý luận phê phán gay gắt bài thơ, cho rằng giữa lúc cần nói to niềm tự hào chiến thắng thì nhà thơ chỉ thấy mất mát, tang tóc. Theo báo Tiền Phong và Thanh Niên, từ đó bài thơ không được in trong tập nào của ông; mãi đến Tuyển tập Phạm Tiến Duật, in xong chưa đầy hai mươi ngày trước khi ông mất, nó mới được đưa vào do nhà thơ Trần Nhương sưu tầm. (Wikipedia ghi tên tạp chí phê phán là Học tập số 9/1974; hai báo trên không nêu tên.)
Sau Trường Sơn: Nhóm lửa và Tiếng bom và tiếng chuông chùa
Sau chiến tranh, ông về Hội Nhà văn Việt Nam, làm ở Ban Văn nghệ rồi Phó trưởng Ban Đối ngoại, và sau đó làm Tổng biên tập tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam. Ông vẫn in thơ đều: Ở hai đầu núi (1981), Vầng trăng và những quầng lửa (1983), Thơ một chặng đường (tuyển, 1994), Nhóm lửa (1996). Trường ca Tiếng bom và tiếng chuông chùa phần lớn nguồn ghi năm 1997 (báo Pháp Luật ghi năm 2000).
Ông còn viết lý luận: tập tiểu luận Vừa làm vừa nghĩ được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam. Báo Pháp Luật kể ông từng dẫn chương trình Cây cao bóng cả trên VTV cùng MC Ngọc Bích; Wikipedia ghi chương trình Vui – Khỏe – Có ích của VTV3. Người cùng thời nhớ ông là người nói chuyện thơ có duyên, luôn mở lòng với cây bút trẻ.
Xe không kính trong chương trình Ngữ văn và Tiếng Việt
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Bài thơ về tiểu đội xe không kính | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 7 (Tin yêu và ước vọng), thực hành đọc | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Bài thơ về tiểu đội xe không kính (trích 4 khổ) | Tiếng Việt 4 Cánh diều (trang 17 – 19) | Bài giải lớp 4 |
| Bài thơ về tiểu đội xe không kính | Ngữ văn 9 (chương trình 2006) | Phân tích bài thơ |
Cần dàn ý viết bài có thể xem mở bài và kết bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính. Những bài khác như Lửa đèn, Nhớ, Cô bộ đội ấy đi thật rồi có trong tuyển tập thơ Phạm Tiến Duật. Cùng viết về người lính, có thể đọc thêm chân dung Chính Hữu, tác giả Đồng chí.
Tháng 12 năm 2007
Tháng 7/2007, ông phát hiện bị ung thư phổi. Ông mất sáng 4/12/2007 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội. Cùng năm ấy ông được tặng Huân chương Lao động hạng Nhì; trước đó, năm 2001, ông nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật; năm 2012, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Báo chí hay gọi ông là “con chim lửa của Trường Sơn huyền thoại”; không nguồn nào chúng tôi tìm được ghi rõ ai đặt ra danh xưng ấy. Câu nói thơ ông “có sức mạnh của cả một sư đoàn” cũng được truyền tụng rộng rãi nhưng chưa tìm được xuất xứ đáng tin. Nhà văn Đỗ Chu, bạn thân của ông, có một nhận xét giản dị hơn mà có lẽ đúng hơn cả: thơ Phạm Tiến Duật được lính yêu vì đó là thơ một người lính viết cho lính đọc, không đóng vai nói hộ ai (theo bài báo Đại Đoàn Kết đăng lại trên trang Hội Nhà văn). Theo Wikipedia, tên ông nay được đặt cho một tuyến phố ở Bắc Từ Liêm, Hà Nội.