Soạn bài Bài học đường đời đầu tiên (Tô Hoài) theo SGK Ngữ văn 6 Cánh diều, tập hai, Bài 6 (Truyện đồng thoại, truyện của Pu-skin và An-đéc-xen), văn bản đọc hiểu 1, trang 4–10. Bài soạn gồm phần Chuẩn bị, bảy câu hỏi gợi ý trong khi đọc và sáu câu hỏi Đọc hiểu cuối bài.
Nếu bạn học bộ Kết nối tri thức hoặc Chân trời sáng tạo, hãy xem Soạn bài Bài học đường đời đầu tiên – Ngữ văn 6 Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo. Truyện của Tô Hoài còn được bảo hộ bản quyền, nên bài soạn chỉ dẫn vài cụm từ ngắn.
Chuẩn bị – soạn bài Bài học đường đời đầu tiên Cánh diều (trang 4)
Sách nhắc xem lại Kiến thức ngữ văn về truyện đồng thoại. Khi đọc, cần trả lời: truyện kể những sự kiện gì, sự kiện nào chính; truyện có những con vật nào và con nào giữ vai chính; ngoại hình, tính tình của chúng vừa giống loài vật vừa giống người ở chỗ nào; truyện gửi bài học gì và điều đó có giá trị gì với bản thân em. Ngoài ra, em tìm hiểu về Tô Hoài, tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu kí và chia sẻ hiểu biết của mình về loài dế.

Gợi ý trả lời các yêu cầu chuẩn bị
- Các sự kiện: Dế Mèn tự giới thiệu vẻ ngoài cường tráng và thói kiêu căng, bắt nạt hàng xóm; Mèn sang thăm Dế Choắt, chê bai và từ chối giúp Choắt đào ngách; Mèn trêu chị Cốc rồi chui vào hang trốn; chị Cốc quay sang mổ Dế Choắt vì tưởng Choắt là thủ phạm; Choắt chết, Mèn hối hận, chôn cất bạn. Sự kiện chính: trò trêu chị Cốc dẫn tới cái chết của Dế Choắt.
- Nhân vật: Dế Mèn, Dế Choắt, chị Cốc; ngoài ra còn chị Cào Cào, anh Gọng Vó được nhắc qua. Nhân vật chính là Dế Mèn, đồng thời là người kể chuyện.
- Vừa giống loài vật vừa giống người: Mèn có càng, vuốt, cánh, râu, răng đúng như một con dế đực khỏe mạnh, nhưng lại biết tự hào, khoe khoang, ăn nói xấc xược như một cậu thanh niên ngông nghênh; Choắt gầy yếu, cánh ngắn đúng dáng dế ốm, nhưng biết nhờ vả, biết khuyên răn; chị Cốc có mỏ nhọn, rình mồi bên đầm như loài chim cốc, nhưng biết nổi giận, quát mắng.
- Bài học: thói kiêu ngạo, hống hách, coi thường người khác có thể gây ra hậu quả không sửa được; phải biết sống khiêm tốn, quan tâm, giúp đỡ người yếu hơn. Bài học này thiết thực với em, bởi nó nhắc em suy nghĩ trước khi hành động và biết nhận lỗi.
- Tác giả, tác phẩm: Tô Hoài (1920 – 2014), tên khai sinh Nguyễn Sen, quê ở Hà Nội; viết rất nhiều truyện cho thiếu nhi, nổi bật với lối kể hóm hỉnh, quan sát tinh tế. Dế Mèn phiêu lưu kí ra đời năm 1941, kể chuyến phiêu lưu của chú dế qua nhiều vùng đất; văn bản trong sách trích từ chương I, nhan đề do người biên soạn đặt. Bài tự đánh giá cuối năm cũng lấy một đoạn Dế Mèn phiêu lưu kí làm ngữ liệu, xem đề cương ôn tập học kì II văn 6 Cánh diều.
- Về loài dế: dế sống trong hang đất ở bờ ruộng, bãi cỏ; ăn cỏ non, rễ cây; con đực biết “gáy” bằng cách cọ hai cánh vào nhau; trẻ em nông thôn hay bắt dế về chọi.
Câu hỏi trong khi đọc Bài học đường đời đầu tiên (trang 5–10)
Bảy ô gợi ý đặt cạnh văn bản trong sách Cánh diều:
Câu 1 (trang 5): Hãy chú ý các chi tiết miêu tả Dế Mèn
Trả lời:
- Ngoại hình: càng mẫm, vuốt ở chân và khoeo cứng, nhọn; cánh từ ngắn đã dài phủ kín xuống đuôi; thân màu nâu bóng; cái đầu to và bướng; răng đen bóng, khỏe như máy nhai; râu dài, cong, rất hãnh diện.
- Hành động: đạp phanh phách vào ngọn cỏ cho cỏ gãy rạp, đi đứng oai vệ, rung râu, cà khịa với hàng xóm.
- Đó là chân dung một chàng dế thanh niên khỏe khoắn, đẹp đẽ nhưng đã bắt đầu tự mãn về sức vóc của mình.
Câu 2 (trang 6): Qua lời kể của Dế Mèn, em hình dung thế nào về Dế Choắt?
Trả lời: Dế Choắt hiện lên ốm yếu, xấu xí: thân hình gầy gò, dài lêu khêu, cánh cụt ngắn đến giữa lưng để lộ cả sườn, càng bè bè nặng nề, râu cụt một mẩu, mặt lúc nào cũng ngơ ngác. Cách Mèn tả (ví Choắt với gã nghiện thuốc phiện, gọi là “chú mày”) cho thấy Mèn coi thường bạn ra mặt.
Câu 3 (trang 7): Hình ảnh Dế Mèn và Dế Choắt ở phần 3 có điểm gì tương đồng với bức tranh?
Trả lời: Bức tranh khớp với lời kể: Dế Mèn to khỏe, đứng ưỡn ngực, tay chỉ trỏ, vẻ mặt kênh kiệu như đang lên giọng dạy đời; Dế Choắt nhỏ, gầy, dáng rụt rè, có vẻ khép nép trước Mèn. Sự đối lập về vóc dáng và tư thế trong tranh cũng chính là sự đối lập giữa hai nhân vật trong đoạn văn.
Câu 4 (trang 8): Dế Mèn đã “nghịch ranh” như thế nào?
Trả lời: Thấy chị Cốc đứng rỉa lông bên vũng nước, Mèn rủ Choắt cùng trêu nhưng Choắt sợ, không dám. Mèn bèn chui vào hang, đứng ở cửa cất giọng véo von hát những câu khiêu khích chị Cốc, rồi chui tọt vào hang sâu nằm khểnh, yên trí rằng mình đã có lối thoát. Đó là trò đùa xấc láo, liều lĩnh, chỉ để tỏ ra mình tài giỏi.
Câu 5 (trang 9): Tai họa mà Dế Mèn kể ở đây là gì? Xảy ra với ai?
Trả lời: Chị Cốc nghe tiếng chửi, tưởng Dế Choắt là kẻ trêu mình nên mổ liền mấy cái vào Choắt. Tai họa giáng xuống đầu Dế Choắt – người hàng xóm yếu ớt, không có lỗi – khiến Choắt bị thương nặng rồi chết.
Câu 6 (trang 9): Hãy tưởng tượng nét mặt của Dế Mèn lúc này
Trả lời (gợi ý): Khi chị Cốc bay đi, Mèn mới dám bò ra; nét mặt chắc hẳn tái mét, đôi mắt mở to hoảng hốt, râu cụp xuống. Nhìn bạn nằm thoi thóp, gương mặt ấy chuyển sang đau đớn, ân hận, không còn chút nào vẻ vênh váo lúc trước.
Câu 7 (trang 10): Tranh minh họa nhân vật nào và về sự việc gì?
Trả lời: Tranh vẽ Dế Mèn đứng cúi đầu, rơi nước mắt bên nấm mộ có mấy bông hoa trắng – cảnh Mèn chôn cất Dế Choắt trong bụi cỏ và đứng lặng suy nghĩ về bài học đầu tiên của đời mình.
Đọc hiểu – trả lời câu hỏi sau văn bản Bài học đường đời đầu tiên (trang 10)
Sáu câu hỏi Đọc hiểu cuối văn bản trong sách Ngữ văn 6 Cánh diều tập hai:
Câu 1 (trang 10): Câu chuyện được kể bằng lời của nhân vật nào? Các nhân vật tham gia
Trả lời: Người kể chuyện là Dế Mèn, xưng “tôi” (ngôi thứ nhất). Các nhân vật tham gia: Dế Mèn, Dế Choắt, chị Cốc; chị Cào Cào, anh Gọng Vó chỉ được nhắc đến khi Mèn kể về thói bắt nạt hàng xóm.
Câu 2 (trang 10): Dế Mèn đã ân hận về việc gì? Tóm tắt sự việc trong khoảng 3 dòng
Trả lời: Mèn ân hận vì trò trêu chị Cốc đã làm Dế Choắt chết oan. Tóm tắt: Cậy khỏe, Dế Mèn hát khiêu khích chị Cốc rồi trốn sâu trong hang. Chị Cốc giận dữ, tưởng Dế Choắt gây sự nên mổ Choắt trọng thương. Trước khi chết, Choắt khuyên Mèn bỏ thói hung hăng; Mèn hối hận, chôn cất bạn và tự rút ra bài học.
Câu 3 (trang 10): Sự thay đổi về thái độ, tâm trạng của Dế Mèn sau cái chết của Dế Choắt; vì sao có sự thay đổi ấy?
Trả lời:
- Trước: kiêu căng, coi trời bằng vung, khinh miệt Choắt, coi việc trêu chị Cốc là chuyện vui.
- Trong và sau sự việc: sợ hãi nằm im trong hang; rồi cuống cuồng chạy tới đỡ bạn dậy, nói lời hối lỗi; xót thương bạn, ân hận vì sự ngông cuồng của mình; đem xác bạn đi chôn và đứng lặng hồi lâu suy nghĩ.
- Vì sao: tận mắt thấy hậu quả nặng nề do chính mình gây ra, lại nghe lời khuyên chân thành của người bạn sắp chết, Mèn mới nhận ra thói xấu của bản thân. Đó là sự thức tỉnh từ bên trong.

Câu 4 (trang 10): Nhận xét về tính cách Dế Mèn qua các chi tiết “tự họa”, lời lẽ, xưng hô, điệu bộ, giọng điệu, thái độ
Trả lời:
- Tự họa: Mèn tả mình rất kĩ, với giọng khoe khoang, cho rằng mình đẹp, mình giỏi – thấy rõ sự tự tin quá mức, tự phụ.
- Với Dế Choắt: xưng “ta”, gọi bạn là “chú mày”, giọng trịch thượng, bĩu môi chê bai, từ chối giúp đỡ – thái độ khinh thường, ích kỉ.
- Với chị Cốc: hát giễu cợt, láo xược rồi trốn – liều lĩnh, xấc xược mà hèn nhát.
- Nhận xét: Dế Mèn có vẻ đẹp cường tráng nhưng tự phụ, ngạo mạn, bồng bột, thích ra oai với kẻ yếu. Tuy vậy, cuối truyện Mèn biết hối hận, cho thấy đây là nhân vật còn non nớt nhưng có thể thay đổi, trưởng thành.
Câu 5 (trang 10): Bài học đường đời đầu tiên mà Dế Mèn rút ra là gì?
Trả lời: Đó là bài học về sự khiêm tốn và lòng tử tế: không được kiêu căng, hung hăng, ỷ mạnh bắt nạt người khác; sống cẩu thả, thiếu suy nghĩ thì sớm muộn sẽ gây họa cho người khác và cho chính mình. Muốn có bạn bè, được mọi người quý mến, phải biết thương yêu, giúp đỡ người yếu thế, biết nghĩ trước khi làm và dám nhận lỗi.
Câu 6 (trang 10): Chỉ ra những điểm “có thật” của loài dế và những chi tiết được “nhân cách hóa”
Trả lời:
| Điểm “có thật” của loài dế | Chi tiết được nhân cách hóa |
| Dế có càng khỏe, chân có gai và vuốt; cánh dài phủ thân; thân màu nâu; răng đen, khỏe, thích nhai cỏ; có râu dài; sống trong hang đất, biết đào hang, đào ngách; thường “gáy” bằng cánh; dế đực hay đánh nhau. | Mèn tự xưng “tôi”, biết kể chuyện, tự hào về mình; biết quát nạt, khinh khỉnh, trêu chọc người khác; biết ân hận, suy nghĩ về bài học đời mình. Dế Choắt biết nhờ vả, biết khuyên bảo bạn trước lúc chết. Chị Cốc biết giận dữ, mắng chửi như người. |
Nhờ giữ đúng đặc điểm sinh học của loài dế mà vẫn gán cho chúng suy nghĩ, tình cảm của con người, nhà văn làm cho câu chuyện vừa chân thực vừa gần gũi, giàu ý nghĩa giáo dục.
Kết luận
Soạn bài Bài học đường đời đầu tiên theo sách Ngữ văn 6 Cánh diều, em cần nắm được đặc điểm của truyện đồng thoại, chân dung tự họa của Dế Mèn, tính cách kiêu căng dẫn tới cái chết của Dế Choắt, sự ân hận của Mèn và bài học về cách sống khiêm nhường, nhân hậu, sẵn lòng giúp đỡ người khác.
Viết xong thân bài mà chưa biết mở và kết thế nào, em có thể tìm gợi ý trong các mẫu kết bài Bài học đường đời đầu tiên.
Người chấm thường chú ý cách em chọn chi tiết; bài phân tích Bài học đường đời đầu tiên cho thấy cách làm điều đó.
Xem thêm: