Soạn bài Ông lão đánh cá và con cá vàng của đại thi hào Nga Pu-skin theo sách Ngữ văn 6 Cánh diều tập 2, Bài 6 – Truyện (truyện đồng thoại, truyện của Pu-skin và An-đéc-xen). Bài soạn trả lời phần Chuẩn bị (trang 11), 7 câu hỏi trong khi đọc (trang 11–15) và 5 câu hỏi sau khi đọc (trang 15), kèm bảng thống kê năm lần đòi hỏi của mụ vợ để em dễ học, dễ nhớ.
Chuẩn bị đọc truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng (trang 11)
Phần Chuẩn bị nhắc em vận dụng kiến thức về truyện (cốt truyện, nhân vật, chi tiết kì ảo) khi đọc, đồng thời tìm hiểu về tác giả Pu-skin.

Những điều cần chú ý khi đọc truyện
- Sự việc chính: ông lão kéo lưới được con cá vàng biết nói và thả nó về biển mà không đòi gì; mụ vợ năm lần bắt ông ra biển xin cá vàng: cái máng lợn mới, một tòa nhà đẹp, được làm nhất phẩm phu nhân, làm nữ hoàng, rồi làm Long Vương bắt cá vàng hầu hạ; cuối cùng mọi thứ biến mất, mụ lại ngồi trước túp lều nát và cái máng lợn sứt mẻ.
- Nhân vật: ông lão đánh cá, mụ vợ và con cá vàng; nhân vật chính là mụ vợ và ông lão.
- Tính cách nhân vật chính: ông lão hiền lành, nhân hậu, không vụ lợi nhưng nhu nhược, cam chịu; mụ vợ tham lam vô độ, bội bạc, thô bạo.
- Chi tiết kì ảo: cá vàng biết nói tiếng người, có phép màu biến ra máng lợn, nhà cửa, cung điện; biển thay đổi theo mỗi lần đòi hỏi. Các chi tiết này làm truyện hấp dẫn và chuyên chở ý nghĩa.
- Ý nghĩa, thông điệp: ca ngợi lòng biết ơn đối với người tốt; phê phán và trừng trị kẻ tham lam, vong ân bội nghĩa.
- Liên hệ bản thân: nghĩ về những lần mình mong muốn một điều gì đó quá mức, hoặc về cách cư xử với người đã giúp đỡ mình.
Tác giả Pu-skin và truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng
- A-lếch-xan-đrơ Pu-skin (1799–1837) sinh ở Mát-xcơ-va, trong một gia đình quý tộc, là đại thi hào của nước Nga, được mệnh danh là “Mặt trời của thi ca Nga”.
- Ông để lại di sản đồ sộ gồm thơ trữ tình, trường ca, kịch, tiểu thuyết (tiêu biểu là Ép-ghê-nhi Ô-nhê-ghin) và nhiều truyện cổ tích bằng thơ viết cho thiếu nhi.
- Truyện ông lão đánh cá và con cá vàng được Pu-skin viết bằng thơ năm 1833, dựa trên một cốt truyện dân gian quen thuộc ở châu Âu. Văn bản trong SGK là bản dịch tiếng Việt, được chia thành 6 phần: phần 1 kể việc ông lão bắt và thả cá vàng; phần 2 đến phần 6 là năm lần mụ vợ đòi hỏi.
Câu hỏi trong khi đọc Ông lão đánh cá và con cá vàng (trang 11–15)
Bảy câu hỏi bên lề giúp em theo dõi lần lượt từng đòi hỏi của mụ vợ và sự thay đổi của biển cả.
Câu 1: Hoàn cảnh sống của ông lão và cách cư xử với cá vàng (trang 11)
Các chi tiết nào cho biết hoàn cảnh sống của ông lão và cách ông lão cư xử với cá vàng?
Trả lời:
- Hoàn cảnh sống: hai vợ chồng già sống trong một túp lều nát trên bờ biển; chồng ngày ngày đi thả lưới, vợ ở nhà kéo sợi – cuộc sống nghèo khổ, vất vả.
- Cách cư xử với cá vàng: nghe cá xin tha và hứa đền ơn, ông lão thả ngay cá về biển, chúc nó được vùng vẫy tự do và không đòi hỏi bất cứ điều gì – một tấm lòng nhân hậu, không vụ lợi.
Câu 2: Yêu cầu lần thứ nhất và cảnh biển (trang 12)
Lần thứ nhất, bà vợ đã yêu cầu ông lão điều gì? Lúc này, cảnh biển thế nào?
Trả lời:
Mụ vợ mắng ông lão ngốc nghếch rồi bắt ông ra xin cá vàng một cái máng lợn mới, vì cái máng cũ đã sứt mẻ. Lúc này, biển vẫn còn gợn sóng êm ả.
Câu 3: Đòi hỏi, thái độ lần thứ hai và cảnh biển (trang 12)
Đòi hỏi và thái độ của vợ ông lão ở lần thứ hai có gì khác lần thứ nhất? Hãy tiếp tục chú ý chi tiết tả cảnh biển trong phần này.
Trả lời:
- Đòi hỏi: không còn là vật dụng nhỏ như cái máng lợn mà là một tòa nhà đẹp – giá trị lớn hơn nhiều.
- Thái độ: quát mắng to hơn, gay gắt hơn, coi ông lão là kẻ ngu ngốc.
- Cảnh biển: biển xanh đã bắt đầu nổi sóng, không còn êm ả như trước.
Câu 4: Đòi hỏi mới, thái độ của mụ vợ và cảnh biển lần thứ ba (trang 13)
Câu nào cho biết đòi hỏi mới và thái độ của vợ ông lão? Cảnh biển có thay đổi gì so với lần trước?
Trả lời:
- Đòi hỏi mới và thái độ của mụ vợ lộ rõ qua lời mắng mỏ bắt đầu bằng “Đồ ngu! Ngốc sao ngốc thế!”, rồi mụ tuyên bố không muốn làm một mụ nông dân quèn nữa mà muốn làm bà nhất phẩm phu nhân. Mụ vừa khinh miệt chồng vừa muốn đổi đời, bước lên địa vị quyền quý.
- Cảnh biển: biển xanh nổi sóng dữ dội, mạnh hơn lần trước.
Câu 5: Đòi hỏi lần thứ tư và cách cư xử với ông lão (trang 13)
Lần này, người vợ lại có đòi hỏi gì? Cách cư xử của bà ta với ông lão thế nào?
Trả lời:
- Làm nhất phẩm phu nhân chưa được bao lâu, mụ lại muốn làm nữ hoàng.
- Mụ đối xử với chồng như với kẻ hầu: mắng một thôi một hồi, bắt ông xuống quét dọn chuồng ngựa; khi ông can ngăn thì mụ nổi trận lôi đình, tát vào mặt ông và dọa sẽ cho người lôi ông đi nếu không ra biển ngay. Khi đã thành nữ hoàng, mụ không thèm nhìn chồng, ra lệnh đuổi ông ra ngoài.
Câu 6: Đòi hỏi cuối cùng và cảnh biển (trang 14)
Vợ ông lão muốn cá vàng làm điều gì? Tác giả đã tả cảnh biển trong phần này thế nào?
Trả lời:
- Mụ muốn làm Long Vương ngự trên mặt biển, bắt chính cá vàng phải hầu hạ và làm theo ý mình.
- Cảnh biển: một cơn dông tố kinh khủng kéo đến, mặt biển nổi sóng ầm ầm – biển đã thật sự nổi giận.
Câu 7: Quan sát bức tranh và nét mặt hai nhân vật (trang 15)
Quan sát bức tranh để hiểu nội dung được nói tới trong đó; nét mặt ông lão và bà vợ thể hiện điều gì?
Trả lời:
Bức tranh minh họa cảnh cuối truyện: cung điện đã biến mất, trước mắt ông lão lại là túp lều nát, mụ vợ ngồi trên bậc cửa bên cái máng lợn sứt mẻ. Nét mặt ông lão lộ vẻ sững sờ, ngỡ ngàng; nét mặt mụ vợ hằn học, cau có, bẽ bàng vì mất tất cả.
Trả lời câu hỏi sau khi đọc Ông lão đánh cá và con cá vàng (trang 15)
Năm câu hỏi cuối bài yêu cầu em lập bảng thống kê, nhận xét tính cách nhân vật, ý nghĩa cảnh biển, rút ra bài học và so sánh với truyện cổ tích dân gian.
Câu 1: Bảng thống kê chi tiết ở các phần 2–6 (trang 15)
Liệt kê những chi tiết thể hiện sự đòi hỏi, thái độ, hành động của vợ ông lão; phản ứng của ông lão và trạng thái của biển trong các phần 2, 3, 4, 5, 6.
Trả lời:
| Phần | Vợ ông lão đánh cá | Ông lão đánh cá | Biển |
|---|---|---|---|
| 2 | Mắng chồng ngốc, đòi một cái máng lợn mới. | Vâng lời, ra biển gọi cá vàng xin máng lợn. | Gợn sóng êm ả. |
| 3 | Quát to hơn, đòi một tòa nhà đẹp. | Lại ra biển gọi cá vàng. | Biển xanh đã nổi sóng. |
| 4 | Mắng nhiếc dữ hơn, đòi làm nhất phẩm phu nhân. | Lủi thủi ra biển cầu xin cá vàng. | Biển xanh nổi sóng dữ dội. |
| 5 | Bắt chồng quét chuồng ngựa, đòi làm nữ hoàng, tát chồng, dọa cho người lôi đi; thành nữ hoàng thì sai đuổi chồng ra. | Hoảng sợ, van vợ đừng đòi điều quá sức, nhưng vẫn phải ra biển. | Biển nổi sóng mù mịt. |
| 6 | Sai người bắt ông lão đến, đòi làm Long Vương, bắt cá vàng hầu hạ. | Không dám cãi, lại ra biển; cuối cùng sững sờ thấy túp lều nát như xưa. | Dông tố kinh khủng, sóng ầm ầm. |
Câu 2: Nhận xét tính cách hai vợ chồng ông lão (trang 15)
Từ bảng thống kê trên, em có nhận xét gì về tính cách của vợ ông lão đánh cá và ông lão đánh cá?
Trả lời:
- Mụ vợ: lòng tham không đáy, đòi hỏi tăng dần từ của cải (máng lợn, nhà) đến danh vọng, quyền lực (phu nhân, nữ hoàng, Long Vương); càng giàu sang càng bội bạc, tàn nhẫn với chính người chồng đã mang lại mọi thứ cho mình, thậm chí muốn bắt ân nhân làm kẻ hầu.
- Ông lão: hiền lành, tốt bụng, không tham lam; nhưng nhu nhược, cam chịu, không dám phản kháng những đòi hỏi vô lí của vợ nên vô tình tiếp tay cho lòng tham ấy. Hai nhân vật này được phân tích riêng, kèm dàn ý và năm bài mẫu, trong bài phân tích Ông lão đánh cá và con cá vàng.
Câu 3: Sự thay đổi của cảnh biển và ý nghĩa (trang 15)
Cảnh biển trong mỗi lần ông lão ra gọi cá vàng thay đổi theo chiều hướng như thế nào? Theo em, sự thay đổi đó có ý nghĩa gì?
Trả lời:
- Chiều hướng: biển thay đổi theo mức tăng dần – từ gợn sóng êm ả, đến nổi sóng, nổi sóng dữ dội, nổi sóng mù mịt và cuối cùng là dông tố kinh khủng.
- Ý nghĩa: biển như có linh hồn, thể hiện thái độ của thiên nhiên và của công lí trước lòng tham ngày càng quá quắt của mụ vợ; mỗi lần biển dữ hơn là một lời cảnh báo. Sự tăng tiến ấy cũng tạo nhịp điệu cho câu chuyện và báo trước kết cục mụ vợ bị trừng phạt.
Câu 4: Bài học rút ra từ câu chuyện (trang 15)
Trả lời:
- Lòng tham không có giới hạn sẽ khiến con người đánh mất tất cả, kể cả những gì mình vốn có.
- Cần biết ơn và trân trọng người đã giúp đỡ mình, không được vong ân bội nghĩa.
- Hiền lành là tốt nhưng không nên nhu nhược; cần dám nói “không” trước những điều sai trái, kể cả khi đó là người thân.
Câu 5: Giống và khác giữa truyện của Pu-skin với truyện cổ tích dân gian (trang 15)
Hãy nêu một điểm giống và một điểm khác nhau nổi bật của truyện Ông lão đánh cá và con cá vàng (Pu-skin) và truyện cổ tích dân gian (gợi ý: tác giả; yếu tố hoang đường, kì ảo; kiểu nhân vật…).
Trả lời:
| Tiêu chí | Ông lão đánh cá và con cá vàng | Truyện cổ tích dân gian |
|---|---|---|
| Giống | Đều có yếu tố kì ảo (cá vàng biết nói, có phép màu); nhân vật thể hiện rõ thiện – ác; kết thúc cái ác bị trừng phạt, thể hiện ước mơ công bằng của con người. | |
| Khác (tác giả) | Do một nhà văn cụ thể (Pu-skin) sáng tác, có dấu ấn cá nhân: cảnh biển thay đổi tăng dần, ngôn ngữ nghệ thuật trau chuốt. | Do nhân dân sáng tác tập thể, lưu truyền bằng miệng, có nhiều dị bản. |
Kết luận
Soạn bài Ông lão đánh cá và con cá vàng Cánh diều cần nắm vững năm lần đòi hỏi tăng dần của mụ vợ, sự nhẫn nhịn của ông lão, hình ảnh biển cả ngày càng dữ dội và kết thúc trở về túp lều nát. Truyện của Pu-skin khẳng định lòng biết ơn đối với người tốt và bài học đắt giá về lòng tham, sự bội bạc.
Trước giờ kiểm tra, bài tóm tắt Ông lão đánh cá và con cá vàng ngắn gọn giúp em hình dung lại toàn bộ cốt truyện chỉ trong vài phút.
Khi lập dàn ý, phần giới thiệu tác giả, tác phẩm có thể dựa vào bài tìm hiểu tác giả, tác phẩm Ông lão đánh cá và con cá vàng để không thiếu thông tin cơ bản.
Xem thêm:
- Bài học đường đời đầu tiên (Tô Hoài): tác giả, tác phẩm, bố cục – văn bản cùng Bài 6
- Cô bé bán diêm (An-đéc-xen): tác giả, tác phẩm, bố cục – văn bản đọc mở rộng cùng Bài 6
- Tóm tắt Cô bé bán diêm ngắn gọn, đầy đủ
- Mục lục soạn văn Ngữ văn 6 Cánh diều
- Nhà thơ Pu-skin – mặt trời thi ca Nga và truyện ông lão đánh cá