Bỏ qua tới nội dung
Thư viện văn học số
Tra chính tả
Lớp mấy?

Phân tích đặc điểm nhân vật trong tác phẩm văn học lớp 7 – Dàn ý + 12 bài văn mẫu hay nhất

Cập nhật 07/10/2026·MMavrick Nguyễn·55 phút đọc·Ngữ văn 7·Bài 4: Nghị luận văn học
Nội dung chính
  • Yêu cầu của kiểu bài phân tích đặc điểm nhân vật
  • Phân tích nhân vật trong truyện Việt Nam hiện đại
  • Phân tích nhân vật trong truyện nước ngoài
  • Phân tích nhân vật trong truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn và truyện trung đại

Phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học là bài Viết mở đầu kiểu nghị luận văn học ở lớp 7: Bài 3 (tập một) sách Ngữ văn 7 Kết nối tri thức, Bài 3 (tập một) sách Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo và Bài 4 (tập một) sách Ngữ văn 7 Cánh diều. Đề còn trở lại ở học kì II: Kết nối tri thức Bài 10 (nhân vật yêu thích trong cuốn sách đã đọc) và Cánh diều Bài 6 (nhân vật truyện ngụ ngôn). Trang này gồm yêu cầu của kiểu bài, dàn ý chung, 12 bài văn mẫu – mỗi bài một nhân vật khác nhau, phần lớn lấy từ truyện học trong Ngữ văn 7 – cùng những lỗi hay gặp và gợi ý bài nói.

phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học
Phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học – văn mẫu lớp 7

Yêu cầu của kiểu bài phân tích đặc điểm nhân vật

Phân tích đặc điểm nhân vật là chỉ ra nhân vật mang tính cách, phẩm chất, tâm hồn ra sao, rồi chứng minh bằng những chi tiết có trong tác phẩm và giải thích vì sao chi tiết ấy cho thấy đặc điểm đó. Bài viết không phải bài kể lại truyện. Dùng bảng dưới đây để tự kiểm tra sau khi viết.

Tiêu chí Bài viết đạt khi
Giới thiệu nhân vật Ngay ở mở bài đã có tên tác phẩm, tác giả, nhân vật được chọn và cảm nhận khái quát của em về nhân vật.
Lai lịch, hoàn cảnh Cho biết nhân vật xuất hiện trong hoàn cảnh nào, có quan hệ gì với các nhân vật khác, vì sao hoàn cảnh ấy đáng chú ý.
Đặc điểm nổi bật Chọn 2–3 đặc điểm, mỗi đặc điểm một đoạn, mở đầu bằng câu nêu nhận xét (ví dụ: Mên nói cộc nhưng thương em sâu sắc).
Bằng chứng Lấy từ những gì nhân vật làm, nói, nghĩ, cảm thấy; từ dáng vẻ bên ngoài; từ nhận xét trực tiếp của người kể chuyện; từ cách người khác đối xử với nhân vật. Trích ngắn và đúng nguyên văn; không nhớ chính xác thì thuật lại ý, bỏ ngoặc kép.
Lí lẽ Sau mỗi bằng chứng có câu giải thích: chi tiết này cho thấy điều gì, vì sao.
Nghệ thuật xây dựng nhân vật Nhận xét được cách nhà văn làm nhân vật hiện lên: ngôi kể, điểm nhìn, chi tiết tiêu biểu, đối lập, so sánh, nhân hóa (truyện ngụ ngôn, cổ tích), tình huống truyện.
Ý nghĩa của nhân vật Nêu được điều tác giả gửi gắm qua nhân vật và điều em rút ra cho mình.
Bố cục, diễn đạt Đủ ba phần; các đoạn nối với nhau bằng từ ngữ chuyển ý (trước hết, không chỉ vậy, đặc biệt, đến cuối truyện…); viết đúng tên nhân vật, tên tác giả theo sách.

Mỗi bộ sách đặt đề ở vị trí và với điểm nhấn hơi khác nhau:

Bộ sách Vị trí Điểm nhấn
Kết nối tri thức Tập 1, Bài 3 Cội nguồn yêu thương (Viết, trang 74); Tập 2, Bài 10 (phân tích một nhân vật văn học yêu thích trong cuốn sách đã đọc) Tìm ý từ nhận xét trực tiếp của người kể, từ dáng vẻ, lời ăn tiếng nói, nội tâm và cách nhân vật gắn bó với người khác. Bảng chỉnh sửa yêu cầu: giới thiệu nhân vật, chỉ ra đặc điểm bằng bằng chứng, nhận xét nghệ thuật, nêu ý nghĩa hình tượng. Bài tham khảo trong sách viết về thầy Đuy-sen; ở Bài 10, bài tham khảo viết về Hoàng tử bé.
Chân trời sáng tạo Tập 1, Bài 3 Những góc nhìn văn chương (Viết, trang 67–69) Văn bản mẫu phân tích cụ Bơ-men trong Chiếc lá cuối cùng với hai đặc điểm (lòng nhân hậu, khát vọng nghệ thuật), mỗi đặc điểm có lí lẽ và bằng chứng; phần kết nhắc lại ý kiến rồi nêu cảm nghĩ của người viết. Học cùng hai văn bản nghị luận về em bé thông minh và chú lính chì.
Cánh diều Tập 1, Bài 4 Nghị luận văn học (Viết, trang 94); Tập 2, Bài 6 (Viết, trang 13) Định hướng: giới thiệu, miêu tả, nhận xét nét tiêu biểu của nhân vật (lai lịch, hình dáng, ý nghĩ, lời ăn tiếng nói, việc làm); chọn nhân vật, đọc kĩ, ghi chép chi tiết rồi lập dàn ý. Bài 6 lưu ý nhân vật truyện ngụ ngôn là con vật, đồ vật được nhân hóa; bài tập phân tích người thợ mộc trong Đẽo cày giữa đường.
Dàn ý

Dàn ý bài văn phân tích đặc điểm nhân vật

438 từ

1. Mở bài

– Giới thiệu tác phẩm (tên, tác giả) và nhân vật em chọn.
– Nêu điều em thấy nổi bật nhất ở nhân vật bằng một câu nhận xét; có thể đi từ một chi tiết, một câu hỏi hoặc một cảm nhận của em.

2. Thân bài

a. Nhân vật xuất hiện như thế nào
+ Nhân vật là ai, sống ở đâu, bước vào truyện trong tình huống nào.
+ Ấn tượng ban đầu (ngoại hình, cách xuất hiện).

b. Đặc điểm thứ nhất
+ Câu nêu đặc điểm.
+ Bằng chứng: việc nhân vật làm, câu nhân vật nói, điều nhân vật nghĩ… (trích ngắn hoặc thuật lại).
+ Lí lẽ: chi tiết ấy cho thấy điều gì.

c. Đặc điểm thứ hai, thứ ba (làm tương tự); nếu nhân vật thay đổi thì so sánh trước và sau.

d. Mối quan hệ với nhân vật khác: nhân vật khác nhìn, đối xử với nhân vật ra sao; nhân vật làm nổi bật ai.

e. Nghệ thuật xây dựng nhân vật: ngôi kể, điểm nhìn, chi tiết tiêu biểu, đối lập, nhân hóa…

3. Kết bài

– Khẳng định lại nét đáng nhớ nhất ở nhân vật bằng cách nói khác mở bài.
– Nêu điều tác giả gửi gắm qua nhân vật, điều em học được, hoặc khép lại bằng một hình ảnh trong truyện.

Mẹo tìm ý: kẻ một bảng ba cột trước khi viết – cột 1 ghi chi tiết trong truyện, cột 2 ghi đoạn nào có chi tiết đó, cột 3 ghi chi tiết ấy cho thấy nhân vật là người thế nào. Cột 3 chính là các câu lí lẽ của bài.

Phân tích nhân vật trong truyện Việt Nam hiện đại

Mẫu 1

Mẫu 1: Nhân vật tôi trong Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ

772 từ

Bông hoa đầu tiên cậu bé sờ vào với đôi mắt khép chặt, cậu gọi nhầm tên. Ở đoạn trích Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của Nguyễn Ngọc Thuần, chi tiết ấy chỉ thoáng qua, nhưng với tôi nó mở đường vào cả nhân vật: một cậu bé không giỏi ngay từ đầu, mà giỏi lên nhờ kiên nhẫn, nhờ bàn tay dắt dẫn của bố và nhờ một trái tim biết lắng nghe.

Cậu bé là người kể chuyện, sống trong một gia đình có khu vườn nhiều hoa. Làm đồng về, chiều nào bố cũng cùng cậu ra vườn, bắt cậu khép mắt rồi đưa tay cậu lên từng bông mà đoán. Đoán nhầm không làm cậu nản. Cậu tập hết buổi này sang buổi khác, tới lúc đầu ngón tay vừa chạm đã biết đó là hoa gì. Nhiều bạn nhỏ chắc sẽ lén hé mắt cho xong; cậu thì chịu nhắm, chịu sai, chịu chờ. Sự kiên nhẫn ấy là nét đầu tiên khiến tôi quý nhân vật.

Nét thứ hai là đôi tai và tấm lòng tinh nhạy. Bố giấu đồ để cậu nhắm mắt đi tìm, tập cho cậu đoán người đứng xa hay gần qua tiếng bước chân. Trò chơi tưởng chỉ để vui ấy có ngày cứu được một mạng người: có tiếng ai kêu cứu vọng lại, cậu nhận ra nó phát ra từ phía bờ sông và chỉ cho bố, nhờ thế bố kịp kéo Tí lên. Cậu không kể chuyện này bằng giọng khoe khoang. Điều cậu nhớ lâu hơn lại là mấy quả ổi Tí đem biếu về sau.

Chính chuyện mấy trái ổi cho thấy cậu bé biết suy nghĩ. Cậu để ý bố vốn không mặn mà với ổi mà vẫn tươi cười nhận và ăn, rồi nghe bố giải thích rằng món quà quý ở tấm lòng người trao. Cậu không chỉ nghe cho qua; cậu giữ lời bố như một điều phải hiểu bằng lòng chứ không phải bằng mắt. Đến khi bố bày trò ngửi hương để đoán hoa, cậu nhận ra khu vườn là món quà không bao giờ vơi, còn món quà quý nhất cậu có chính là bố.

Nguyễn Ngọc Thuần để cậu bé tự kể nên mọi cảm nhận đều hồn nhiên, thật thà, như trang nhật kí của một đứa trẻ mười tuổi. Các trò chơi được xếp tăng dần: chạm, nghe, rồi ngửi. Mỗi nấc là một lần nhân vật lớn thêm một chút. Nhan đề nghe ngược đời, nhưng đọc hết mới thấy cậu bé chính là người khép đôi mắt để mở ra những ô cửa khác của tâm hồn.

Gấp sách lại, tôi thử nhắm mắt đi qua phòng mình và vấp ngay vào chân ghế. Thế mới biết cậu bé ấy đã tập luyện bền bỉ biết bao để có thể bước giữa khu vườn đầy hoa mà không cần nhìn, chỉ cần những bông hoa quen dẫn lối.

Mẫu 2

Mẫu 2: Nhân vật Mên trong Bầy chim chìa vôi – người anh nói cộc mà thương nhiều

859 từ

Có phải người càng nói ít thì càng thương ít? Đọc truyện ngắn Bầy chim chìa vôi của Nguyễn Quang Thiều, tôi tìm được câu trả lời ở Mên, người anh trai có những câu đáp cụt lủn nhưng lại cùng em ra sông giữa đêm mưa để lo cho bầy chim non.

Mên xuất hiện bằng lời nói trước khi xuất hiện bằng hành động. Khoảng hai giờ sáng, Mon thì thào gọi anh, và Mên đáp ngay: “Gì đấy? Mày không ngủ à?” Người kể chuyện thêm một chi tiết rất đắt: giọng Mên ráo hoảnh như đã thức dậy từ lâu lắm. Tức là Mên cũng không ngủ được, cũng đang nằm nghĩ về bãi cát giữa sông, chỉ là không chịu nói ra. Câu hỏi vặn lại em vừa như trách, vừa như mừng vì có người cùng thức.

Suốt cuộc trò chuyện, lời của Mên luôn ngắn: Gì?, Chưa, Chứ còn sao. Mon hỏi dồn, hết mưa có to không lại đến bãi cát đã ngập chưa, lũ chim có bơi được không. Mên chẳng giải thích dài dòng. Nhưng có lúc anh buột ra rằng bãi cát có lẽ sắp ngập mất rồi, và câu ấy đủ cho thấy trong lòng cậu cũng rối như em. Kiểu nói cộc lốc chỉ là lớp vỏ của một cậu bé muốn tỏ ra mình là anh, là người lớn.

Lớp vỏ người lớn ấy hiện rõ nhất khi hai anh em quyết định ra bến. Người kể chuyện nói giọng Mên lúc này tỏ vẻ rất người lớn; cậu giục em xuống đò. Rồi khi nước sông lên to, đò không tới được bãi cát, chính Mên là người hiểu rằng phải kéo đò về bến, nếu không thì nguy. Cậu có sự chín chắn của một đứa trẻ quen sông nước, biết lo cho em và cho cả con đò của người khác. Mon có tấm lòng thẳng thắn, nói ra hết; còn Mên có tấm lòng biết tự kiềm chế để giữ an toàn cho cả hai.

Thế nhưng đến cuối truyện, khi bầy chim non vụt thoát khỏi mặt nước mà bay lên, người anh ra vẻ người lớn ấy cũng khóc. Mên lặng lẽ quay sang nhìn em, hai đứa nhận ra nước mắt đã chảy tự bao giờ, rồi cùng bật cười ngượng nghịu. Cái cười ngượng là chi tiết tôi thích nhất: Mên vẫn là một đứa trẻ, vẫn xấu hổ khi để lộ cảm xúc, nhưng lần này không giấu được nữa.

Nguyễn Quang Thiều gần như không tả ngoại hình Mên. Nhà văn để nhân vật hiện lên qua lời thoại và qua sự đối lập với em: Mon hỏi nhiều, Mên đáp ít; Mon nói ra nỗi lo, Mên giấu nỗi lo trong giọng nói. Nhờ cặp đối lập ấy, tình anh em và tình yêu thiên nhiên của hai đứa trẻ làng quê hiện ra tự nhiên, không cần người kể phải bình luận.

Đọc xong, tôi nhớ lại những lần anh họ tôi càu nhàu phiền quá mà vẫn chở tôi đi học dưới mưa. Phải chăng những người như Mên thương bằng việc làm nhiều hơn bằng lời, và ta chỉ cần nghe kĩ giọng nói của họ là hiểu?

Mẫu 3

Mẫu 3: Nhân vật An trong Đi lấy mật (bài ngắn)

493 từ

An, người kể chuyện của Đi lấy mật (một chương trong Đất rừng phương Nam – tiểu thuyết của Đoàn Giỏi), là cậu bé thành phố lạc gia đình trong thời loạn, được vợ chồng ông Hai nhận làm con nuôi giữa rừng U Minh. Theo chân cả nhà vào rừng lấy mật, em thấy An ham hiểu biết, quan sát tinh tế và có lòng tự trọng rất trẻ con.

Ham hiểu biết là nét dễ thấy nhất. An hỏi má nuôi về kèo ong, về cách chọn cây, chọn hướng gió, rồi ghi nhớ từng lời. Cậu còn đem điều vừa nghe so với những gì đã đọc trong sách về cách nuôi ong ở nhiều nước, và nhận ra cách gác kèo của người U Minh là điều sách giáo khoa chưa hề nói tới. Hỏi xong rồi nghĩ tiếp, đối chiếu, tự rút ra điều mới – đó là cách học của một đứa trẻ thông minh.

An cũng quan sát rất tinh. Rừng buổi sáng qua mắt cậu yên tĩnh, mát lạnh, ánh sáng trên đầu hoa tràm khiến mọi vật như bọc một lớp thủy tinh. Cậu nhận ra cả sự quan tâm lặng lẽ của tía nuôi: ông không quay lại mà chỉ nghe tiếng cậu thở sau lưng là biết cậu mệt, liền cho cả nhà nghỉ chân.

Đáng yêu nhất là lúc An đứng cạnh thằng Cò. Cậu thấy Cò đi rừng cả ngày chẳng hề hấn gì, cặp chân như bộ giò nai; khi được Cò chỉ cách nhìn ong, cậu muốn hỏi thêm mà lại lặng im, sợ bị bạn coi thường vì cái gì cũng không biết. Chi tiết ấy làm nhân vật rất thật.

Đoàn Giỏi để An tự kể, nên ta theo được cả những suy nghĩ thầm kín nhất của cậu, và nhờ đôi mắt ấy mà rừng U Minh hiện ra vừa hoang sơ vừa gần gũi.

Mẫu 4

Mẫu 4: Nhân vật Võ Tòng trong Người đàn ông cô độc giữa rừng – từ vết sẹo đến cái vẫy tay

1.027 từ

Một vệt sẹo kéo dài từ mặt xuống tận cổ, dấu vết của lần giáp mặt hổ chúa, là thứ khiến người đọc nhớ ngay chú Võ Tòng – nhân vật của Người đàn ông cô độc giữa rừng, rút từ Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi. Nhưng càng đọc, tôi càng thấy vết sẹo ấy chỉ là lớp ngoài. Bên dưới là một con người gan góc, từng chịu oan khuất, chất phác và nặng tình nghĩa.

Võ Tòng hiện lên qua mắt bé An trong một đêm ngồi bên bếp lửa. Chú để mình trần, chiếc quần ka ki lính Pháp có tới sáu túi, một lưỡi lê đeo bên hông, lại thắt cả xanh-tuya-rông. Bộ dạng ấy khiến An thấy vừa lạ vừa buồn cười. Căn lều ám khói, hăng mùi da thú, có con vượn bạc má, bếp cà ràng, hai cây nỏ, khiến An tưởng như đang ngồi giữa thời con người mới tìm ra lửa. Dáng vẻ ấy cho thấy một người sống tách hẳn làng xóm, chẳng màng chuyện ăn mặc.

Chuyện đời Võ Tòng đến với An qua lời kể của người khác, và chuyện nào cũng toát lên sự gan góc. Mười mấy năm trước, chú bơi chiếc xuồng nát vào dựng lều nơi rừng sâu nhiều thú dữ, chẳng có lấy một con chó bầu bạn. Có lần đang ngủ trưa, chú bị hổ chúa vồ; nằm ngửa dưới móng hổ, chú vẫn đâm lưỡi mác xuyên hàm nó. Tên thật của chú không ai biết, người ta gọi là Võ Tòng, mượn tên người anh hùng đánh hổ trong truyện xưa.

Đằng sau sự gan góc là một nỗi oan. Ngày trước, chú là trai làng hiền lành. Vợ có mang thèm măng, chú xin được ở bụi tre đầu đình một mụt, đi ngang nhà tên địa chủ thì bị hắn vu là ăn trộm và đánh bằng ba toong vào đầu. Không chịu nổi cái nhục ấy, chú chém trả, rồi tự mình ra nhà việc chịu tội. Ngồi tù mười năm, lúc về chú hay tin vợ đi làm lẽ chính kẻ đã hại mình, còn đứa con chú chưa một lần nhìn mặt thì không còn nữa. Dân làng chờ một cuộc báo thù, chú chỉ kêu trời một tiếng, cười nhạt rồi bỏ đi. Nhát dao chém trả cho thấy lòng tự trọng; việc lặng lẽ bỏ đi cho thấy một nỗi đau lớn hơn cả mối thù.

Vậy mà người từng bị đời đối xử bất công ấy vẫn tử tế. Chú kéo thêm gộc cây cho An, dúi vào tay thằng bé thỏi khô nai lớn nhất. Người quanh vùng quý chú vì chú sẵn lòng giúp ai cũng không cần đền đáp. Khi giặc Pháp kéo đến, chú dùng nỏ hạ lính giặc, lấy được cây tiểu liên, rồi lúc trời sáng trao cây nỏ và ống tên tẩm thuốc độc cho tía nuôi An. Tía nuôi cảm ơn, chú gạt đi, bảo đó là vì nghĩa chung. Nỗi đau riêng không làm chú quay lưng với việc chung.

Đoàn Giỏi để Võ Tòng hiện lên qua điểm nhìn của một đứa trẻ, nên nhân vật vừa mang vẻ huyền bí của lời đồn, vừa gần gũi qua những cử chỉ nhỏ bên bếp lửa. Lời kể đan xen hiện tại với quá khứ; lời ăn tiếng nói mang đậm sắc thái miền Nam; vẻ ngoài lạ lùng càng làm nổi bật tâm hồn chất phác bên trong.

Lúc xuồng rời bến, An còn xin chú lần sau đem sang cho mình một con nai nhỏ. Võ Tòng cười vang, vẫy tay hứa. Tiếng cười ấy, với tôi, là nét đẹp cuối cùng của nhân vật: một người cô độc giữa rừng vẫn còn nguyên niềm vui với trẻ nhỏ và lòng tin vào những người cùng đánh giặc.

Phân tích nhân vật trong truyện nước ngoài

Mẫu 5

Mẫu 5: Nhân vật An-tư-nai trong Người thầy đầu tiên

899 từ

Giữa buổi lễ khánh thành ngôi trường mới ở làng Ku-ku-rêu, bà viện sĩ An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va, người cả làng tự hào, lại vội vã ra về. Vì sao một người thành đạt như thế không thể ngồi yên? Đoạn trích Người thầy đầu tiên của Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp trả lời bằng chính lá thư của bà, và qua lá thư, ta gặp một An-tư-nai khao khát học hành, biết ơn sâu nặng và trung thực với lòng mình.

Thuở nhỏ, An-tư-nai mất cả cha và mẹ từ nhỏ, phải ở nhờ nhà chú thím, quần áo rách rưới, quanh năm làm lụng và nghe mắng nhiếc. Hoàn cảnh ấy giải thích vì sao chỉ một lời hỏi han của người lạ cũng làm cô xúc động. Hôm cùng các bạn đi nhặt ki-giắc về, cô gặp thầy Đuy-sen đang một mình sửa chuồng ngựa cũ thành trường học. Thầy khen tên cô hay, hỏi các em có muốn đi học không. Cô nhớ mãi cảm giác lòng mình ấm lại. Một đứa trẻ quen bị quát mắng mới thấm thía đến thế lần đầu được đối xử dịu dàng.

Sự ham học của An-tư-nai thể hiện bằng việc làm. Mùa đông, con suối dưới đồi buốt giá, cô cùng thầy kê đá làm lối đi cho các em nhỏ, cho đến lúc đôi chân tê cứng giữa dòng. Thầy vội ẵm cô lên, trải chiếc áo choàng của mình cho cô ngồi, xoa bóp hai bàn chân đã tím lại, khen cô thông minh và mong có ngày gửi được cô lên thành phố học. Ước mơ ấy về sau thành sự thật: cô bé nghèo năm xưa trở thành viện sĩ. Con đường từ chuồng ngựa cũ trên đồi đến danh hiệu ấy cho thấy nghị lực của nhân vật không kém tình thương của người thầy.

Quan hệ giữa An-tư-nai với thầy Đuy-sen là trục chính làm nên nhân vật. Cô từng thầm mong thầy chính là anh ruột. Ước mong ngây thơ ấy nói lên điều cô thiếu nhất là một người thân thật sự, và điều cô tìm thấy ở thầy là sự che chở, tin tưởng. Đặt cạnh cảnh sống thiếu tình thương trong nhà chú thím, hình ảnh thầy càng sáng, và lòng biết ơn của cô càng có lí do.

Điều khiến tôi kính trọng An-tư-nai nhất lại là lá thư. Khi đã thành danh, bà vẫn day dứt, nhờ người họa sĩ đồng hương tìm cách kể lại câu chuyện cho mọi người, nhất là lớp trẻ, cùng biết, và coi đó như lời tự thú của chính mình. Người dám nhận phần thiếu sót ngay lúc đang được tôn vinh là người rất trung thực.

Ai-tơ-ma-tốp để An-tư-nai tự kể phần lớn câu chuyện qua lá thư, đặt giữa hai phần do người họa sĩ kể. Ngôi thứ nhất giữ nguyên những rung động của cô bé năm xưa, còn lời người họa sĩ giúp ta nhìn bà viện sĩ từ bên ngoài. Hai điểm nhìn bổ sung cho nhau, làm nhân vật vừa có chiều sâu tâm hồn, vừa có tầm vóc.

Người họa sĩ trăn trở mãi chưa biết vẽ gì: hai cây phong thầy trò từng trồng trên đồi, hay cảnh thầy bế trẻ qua suối. Tôi nghĩ dù ông chọn cảnh nào, bức tranh ấy cũng cần có An-tư-nai, vì chính cô là bằng chứng sống cho những gì người thầy đầu tiên đã gieo xuống.

Mẫu 6

Mẫu 6: Nhân vật Phrăng trong Buổi học cuối cùng – trước và sau một lời thông báo

805 từ

Hai buổi sáng của cùng một cậu bé có thể khác nhau đến thế nào? Trong truyện Buổi học cuối cùng của An-phông-xơ Đô-đê, Phrăng bước ra khỏi nhà là một chú học trò lười, sợ bị hỏi bài, nhưng đến mười hai giờ trưa đã là đứa trẻ hiểu thế nào là sắp mất đi tiếng nói của dân tộc mình. Sự thay đổi ấy là đặc điểm nổi bật nhất của nhân vật.

Sáng hôm ấy, Phrăng dậy muộn, lại chưa thuộc chút nào bài về phân từ. Trời ấm, chim hót ven rừng, lính Phổ tập ngoài cánh đồng, thứ gì cũng rủ rê cậu bỏ học. Trước đó cậu từng trốn học đi tìm tổ chim, trượt băng trên hồ. Lần này cậu cưỡng lại được và chạy một mạch đến trường, nhưng trong đầu chỉ lo bị thầy Ha-men quở mắng. Đó là một Phrăng hồn nhiên, ham chơi, coi việc học như gánh nặng – rất giống nhiều học trò ở mọi thời.

Lớp hôm ấy im phăng phắc, chẳng khác một sáng Chủ nhật. Không một lời trách, thầy Ha-men nhẹ nhàng bảo cậu về chỗ; trên người thầy là bộ áo chỉ dành cho ngày lễ; ở dãy ghế cuối, mấy cụ già trong làng ngồi im với vẻ mặt buồn. Rồi thầy báo tin: lệnh từ Béc-lin buộc trường học vùng An-dát, Lo-ren chỉ được dạy tiếng Đức, và đây là giờ tiếng Pháp sau chót. Phrăng choáng váng, và lần đầu tiên cậu thật sự tự trách mình về những buổi bỏ học.

Từ phút ấy, Phrăng khác hẳn. Những cuốn sách vốn làm cậu chán ngán bỗng thành bạn cũ không nỡ rời. Cậu thương thầy, hiểu ra lí do của bộ áo đẹp và của những người dân ngồi cuối lớp. Đến lượt đọc bài, cậu lúng túng ngay từ đầu, xấu hổ và ước gì mình đọc được thật trơn tru. Cậu nghe giảng chăm chú chưa từng có và thấy bài học dễ hiểu đến lạ. Nghe tiếng bồ câu rù rì trên nóc trường, cậu còn ngây thơ tự hỏi liệu người ta có bắt cả chúng hót bằng tiếng Đức. Câu hỏi ngộ nghĩnh mà xót xa ấy cho thấy cậu đã cảm được nỗi đau mất nước theo cách của một đứa trẻ.

Đô-đê chọn chính Phrăng làm người kể chuyện. Vì thế người đọc đi cùng từng nhịp tâm trạng của cậu: lo sợ, ngạc nhiên, choáng váng, ân hận rồi yêu mến. Sự đổi thay của một học trò nhỏ làm bật lên nỗi đau lớn của cả vùng đất bị chiếm đóng.

Khi chuông nhà thờ điểm mười hai giờ, thầy Ha-men nghẹn lời, chỉ viết lên bảng thật to dòng chữ “Nước Pháp muôn năm!”. Phrăng rời lớp không còn là cậu bé của buổi sáng. Cậu mang theo một điều có lẽ suốt đời không quên: tiếng nói của dân tộc được giữ gìn từ chính những bài học hằng ngày.

Mẫu 7

Mẫu 7: Nhân vật Giôn-xi trong Chiếc lá cuối cùng

681 từ

Nếu phải nằm bệnh nhiều ngày bên một ô cửa sổ, chỉ nhìn thấy bức tường gạch và một dây thường xuân đang rụng lá, liệu tôi có giữ được hi vọng không? Câu hỏi ấy đến với tôi khi đọc Chiếc lá cuối cùng của nhà văn Mỹ O. Hen-ri. Người ta thường nhớ truyện vì cụ Bơ-men, nhưng tôi muốn nhìn kĩ Giôn-xi, cô họa sĩ trẻ yếu đuối, người cần đến một chiếc lá để sống lại.

Giôn-xi là một nữ họa sĩ nghèo, thuê chung căn phòng trên tầng thượng với Xiu. Cô mắc bệnh sưng phổi, bác sĩ bảo khả năng qua khỏi chỉ còn một phần mười. Nghèo, bệnh nặng, giữa mùa đông lạnh lẽo, Giôn-xi dễ buông xuôi hơn ai hết.

Nét rõ nhất ở Giôn-xi là cô gửi trọn mạng sống vào một ý nghĩ. Cô nằm đếm từng chiếc lá thường xuân rụng, và tin rằng khi chiếc cuối cùng rơi thì mình cũng ra đi. Xiu chăm sóc, động viên, nhưng Giôn-xi vẫn nằm quay ra cửa sổ chờ. Ý nghĩ ấy vừa trẻ con vừa đáng thương: người đang tuyệt vọng thường bám vào một dấu hiệu nhỏ bên ngoài, vì không còn tin vào sức lực bên trong mình.

Sáng hôm sau đêm mưa gió dữ dội, Giôn-xi bảo Xiu kéo mành lên và thấy chiếc lá vẫn bám trên tường. Cô nhìn nó rất lâu, rồi tự nhận ra mình đã sai, rằng muốn chết cũng là một tội. Ngay sau đó cô muốn ăn cháo, uống sữa, đòi soi gương. Những đòi hỏi bình thường ấy là dấu hiệu sự sống trở lại. Giôn-xi không mạnh mẽ, nhưng cô biết xấu hổ vì sự ích kỉ với chính mình và với người thương mình, và biết bắt đầu lại.

O. Hen-ri xây dựng Giôn-xi chủ yếu qua tâm trạng và những hành động rất nhỏ: đếm lá, nằm im, đòi kéo mành. Nhân vật còn là tấm gương soi để cụ Bơ-men hiện lên. Giôn-xi không hề biết về đêm cụ vẽ chiếc lá giữa mưa gió; người đọc cũng chỉ biết khi Xiu kể ở cuối truyện. Nhờ vậy, sự hồi sinh của cô gái càng làm nổi bật sự hi sinh lặng lẽ của người họa sĩ già.

Giờ mỗi lần ngồi cạnh cửa sổ lớp học nhìn hàng cây ngoài sân, tôi lại nghĩ đến Giôn-xi. Cô cho tôi hiểu rằng hi vọng đôi khi đến từ người khác, nhưng muốn đứng dậy thì vẫn phải tự mình chọn sống.

Mẫu 8

Mẫu 8: Thuyền trưởng Nê-mô trong đoạn trích Bạch tuộc

813 từ

Trận đánh vừa dứt, bầy bạch tuộc đã chết hoặc trốn xuống đáy biển, người thuyền trưởng toàn thân bê bết máu đứng lặng bên ngọn đèn pha, nhìn ra biển và để nước mắt trào ra. Hình ảnh ấy ở cuối đoạn trích Bạch tuộc (trích Hai vạn dặm dưới đáy biển của Giuyn Véc-nơ) khiến tôi muốn đọc lại từ đầu để hiểu người chỉ huy tàu No-ti-lớt ấy là ai.

Thuyền trưởng Nê-mô không xuất hiện ngay; người kể là nhà tự nhiên học A-rôn-nác, đang cùng Nét Len và Công-xây bàn về loài bạch tuộc khổng lồ. Chỉ khi con tàu rung mạnh rồi đứng im, Nê-mô mới bước vào. Cách xuất hiện ấy cho ông dáng dấp người nắm giữ mọi việc: chưa nói gì mà ai cũng chờ quyết định của ông.

Đặc điểm đầu tiên là sự bình tĩnh, sáng suốt. Nê-mô quan sát bầy quái vật qua ô kính, dặn dò viên thuyền phó, cho đóng cửa sổ. Ông giải thích ngắn gọn: một con bạch tuộc dùng hàm sừng kẹp cứng chân vịt, đạn điện bắn vào thân mềm sẽ không nổ, nên phải đưa tàu lên mặt nước mà đánh bằng rìu. Không hoảng hốt, không dài dòng, mỗi câu là một mệnh lệnh có lí do rõ ràng.

Đặc điểm thứ hai là lòng dũng cảm. Nắp tàu vừa mở, vòi quái vật đã thò xuống. Nê-mô chém đứt chiếc vòi đầu tiên. Khi một thủy thủ bị hai vòi nhấc bổng, ông lao lên chặt liền bảy vòi, nhưng con vật kịp phun mực đen và kéo người ấy xuống biển. Sau đó, thấy Nét Len bị quật ngã dưới cái mỏ đang há rộng, ông bổ rìu vào miệng con vật cứu anh. Người chỉ huy không đứng sau ra lệnh mà xông lên đầu tiên.

Đặc điểm làm tôi xúc động nhất là tình người. Cứu được Nét Len, Nê-mô nói đó là món nợ ông có bổn phận phải trả, một câu cho thấy ông sòng phẳng và nhớ ơn. Còn khi trận đánh kết thúc, ông khóc cho người thủy thủ đã mất. Một người đối đầu với quái vật biển không run tay mà không giấu nổi giọt nước mắt cho đồng đội là người có trái tim lớn.

Giuyn Véc-nơ để Nê-mô hiện lên qua mắt A-rôn-nác, một nhà khoa học tỉnh táo, nên những hành động phi thường của thuyền trưởng có sức thuyết phục. Lời thoại của ông ngắn như mệnh lệnh; hành động được kể dồn dập trong mười lăm phút giao chiến; giọt nước mắt đặt ở cuối như một nốt lặng, hé lộ chiều sâu của một nhân vật vốn bí ẩn.

Nhiều người coi Nê-mô là kẻ kì lạ, sống tách biệt dưới lòng đại dương. Sau đoạn trích này, tôi không còn nghĩ ông lạnh lùng. Người đứng khóc bên ngọn đèn pha hôm ấy là một thuyền trưởng biết quý từng mạng người trên con tàu của mình.

Mẫu 9

Mẫu 9: Nhân vật Rê-mi trong Không gia đình (nhân vật trong cuốn sách em đã đọc)

683 từ

Cuốn Không gia đình của nhà văn Pháp Héc-to Ma-lô dày đến mức tôi đọc mất gần trọn kì nghỉ hè, nhưng cậu bé Rê-mi thì ở lại với tôi lâu hơn thế. Cậu là đứa trẻ bị bỏ rơi, đi qua đủ mọi nỗi khổ mà vẫn giữ được sự ngay thẳng, lòng biết ơn và tình thương với những người, những con vật bên mình.

Rê-mi được vợ chồng Bác-bơ-ranh nhặt về nuôi. Má Bác-bơ-ranh thương cậu như con, nhưng năm Rê-mi tám tuổi, người chồng trở về trong cảnh túng quẫn đã bán cậu cho cụ Vi-ta-li, một người hát rong dắt theo ba con chó và một con khỉ. Cậu bị đưa đi mà không kịp chào người mẹ nuôi. Một đứa trẻ chịu cảnh ấy dễ sinh oán hận, nhưng Rê-mi không trở nên cay nghiệt.

Bên cụ Vi-ta-li, Rê-mi học đọc, học chơi đàn hạc, học biểu diễn và học cách sống. Có lần cụ bị bắt giam, cậu bé mới chừng mười tuổi phải tự lo cái ăn cho mình và bầy thú, có lúc gần như chết đói, vẫn không bỏ chúng. Về sau, cụ Vi-ta-li gục ngã trong một đêm bão tuyết, ngay sau khi đưa cậu ra khỏi nhà một tên chủ chuyên hành hạ trẻ em. Rê-mi thương cụ như thương một người cha. Tình cảm ấy cho thấy cậu nhận ra lòng tốt ẩn sau vẻ nghiêm khắc.

Rê-mi còn là người bạn tốt và không quên ơn. Cậu cùng Mát-chi-a, cậu bé có tài âm nhạc, đi hát rong khắp nước Pháp, dành dụm tiền mua một con bò sữa tặng má Bác-bơ-ranh, vì ngày xưa má đã phải bán con bò của mình. Chú chó Ca-pi theo cậu suốt chặng đường. Ở đâu có Rê-mi, ở đó những ai yếu hơn được che chở.

Ma-lô để Rê-mi tự kể, nên giọng truyện vừa hồn nhiên vừa từng trải. Mỗi chặng đường là một thử thách mới, và nhân vật lớn lên qua từng thử thách chứ không nhờ phép màu. Cuối cùng cậu tìm lại được mẹ ruột là bà Mi-li-gơn, người từng đón cậu lên chiếc thuyền của bà khi cậu lang thang đói khổ. Kết thúc có hậu ấy là phần thưởng xứng đáng cho một tâm hồn chưa bao giờ đánh mất phẩm chất.

Gấp sách, tôi nhớ nhất nếp rèn dạy của cụ Vi-ta-li mà Rê-mi mang theo suốt đời: sống ngay thẳng, tự lao động mà nuôi mình, không ngửa tay xin xỏ. Rê-mi không có gia đình suốt nhiều năm, nhưng chưa lúc nào cậu sống thiếu tự trọng.

Phân tích nhân vật trong truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn và truyện trung đại

Mẫu 10

Mẫu 10: Chú lính chì trong Chú lính chì dũng cảm (bài ngắn)

450 từ

Hai mươi lăm chú lính được đúc từ một chiếc thìa chì cũ, chú cuối cùng vì thiếu chì nên chỉ có một chân. Từ chi tiết ngoại hình rất nhỏ ấy, nhà văn Đan Mạch Han-xơ Cri-xti-an An-đéc-xen dựng nên chú lính chì dũng cảm, nhân vật mà một cô bé mười bốn tuổi viết thư bày tỏ lòng cảm phục.

Chỉ có một chân, nhưng chú lính đứng vững không kém những anh em đủ hai chân. Cái thiếu hụt không làm chú tủi thân hay gục ngã. Chú còn đem lòng yêu cô vũ nữ bằng giấy, người cũng đứng trên một chân, như thể tìm thấy ở cô một người giống mình.

Dũng cảm là nét làm nên tên truyện. Con quỷ trong hộp lò xo dọa nạt, chú vẫn không rời mắt khỏi cô vũ nữ. Rơi từ bậu cửa sổ xuống phố, bị thả trên chiếc thuyền giấy trôi vào lòng cống tối, gặp con chuột cống chặn đường, rồi bị cá nuốt chửng, chú vẫn đứng thẳng, súng vác vai. Thử thách sau nặng hơn thử thách trước, còn chú vẫn giữ nguyên tư thế người lính.

Kết thúc truyện buồn: chú bị ném vào lò sưởi, gió thổi cô vũ nữ bay theo vào lửa. Sáng hôm sau, trong đống tro chỉ còn một trái tim nhỏ bằng chì. Hình ảnh ấy nói rằng thứ bền nhất ở chú không phải thân hình mà là tấm lòng chung thủy.

Bằng biện pháp nhân hóa, An-đéc-xen cho một món đồ chơi mang phẩm chất của con người. Chú lính chì nhắc em rằng thiếu một chân vẫn đứng vững được, miễn trong lòng không thiếu can đảm.

Mẫu 11

Mẫu 11: Hình tượng con hổ trong Con hổ có nghĩa

614 từ

Trong truyện xưa, hổ thường là chúa sơn lâm hung dữ. Vũ Trinh, nhà văn thời Lê mạt – Nguyễn sơ, lại kể về hai con hổ biết trả nghĩa trong Con hổ có nghĩa. Không con hổ nào nói một lời, vậy mà người đọc vẫn hiểu rõ tấm lòng của chúng qua từng hành động.

Con hổ đực ở câu chuyện thứ nhất thoạt tiên thật đáng sợ: đêm khuya, nó cõng bà đỡ Trần ở Đông Triều chạy vào rừng. Nhưng khi hoàn hồn, bà nhận ra nó chỉ dùng một chân trước ôm mình, lại khéo gạt gai góc dọc đường. Đến nơi, nó đưa chân chỉ về phía con hổ cái đang đau đẻ, mắt rưng rưng như cầu xin. Bà giúp hổ cái sinh con xong, hổ đực mừng rỡ, quỳ xuống đưa bà một khối bạc rồi đưa bà ra khỏi rừng, phục xuống, cúi đầu, ve vẩy đuôi chào. Chuỗi việc làm đó chứng tỏ đây là con vật biết thương vợ con, biết lễ độ và biết đền ơn.

Con hổ trán trắng ở câu chuyện thứ hai có nghĩa bền lâu hơn. Bị khúc xương mắc họng, nó vật vã đau đớn; nghe người tiều phu vùng Lạng Giang hứa giúp, nó nằm phục há miệng chờ. Khỏi đau, nó bỏ đi mà chốc chốc lại ngoái nhìn. Mấy ngày sau, ngay trước cửa nhà ông xuất hiện một con hươu. Khi ông mất, con hổ tìm tới, cọ đầu vào quan tài, gầm gào, đi quanh mấy vòng; rồi cứ đến ngày giỗ ông, hươu hoặc lợn lại được nó đặt trước cửa, mấy chục năm không sót năm nào.

Đặt hai con hổ cạnh nhau, ta thấy con thứ nhất đền ơn ngay bằng của cải, con thứ hai đền ơn cả đời bằng lòng nhớ thương. Truyện được sắp xếp theo hướng tăng dần, để cái nghĩa đi từ một lần trả ơn đến sự thủy chung.

Tác giả nhân hóa con hổ nhưng rất kiệm lời: chỉ kể hành động, cử chỉ, ánh mắt. Chính vì hổ không nói được, những cái quỳ, cái cúi đầu, tiếng gầm bên linh cữu càng có sức nặng.

Truyện khép lại ở những ngày giỗ có con hổ lặng lẽ mang lễ vật đến. Hình ảnh ấy khiến tôi nghĩ: loài vật còn nhớ ơn đến vậy, con người càng không có lí do để quên những ai từng giúp mình.

Mẫu 12

Mẫu 12: Con ếch trong Ếch ngồi đáy giếng (bài làm trong 45 phút)

443 từ

Truyện ngụ ngôn Ếch ngồi đáy giếng chỉ dài vài đoạn, nhưng con ếch trong truyện đủ khiến người đọc nhớ lâu như một lời cảnh tỉnh. Nó là con vật biết rất ít mà lại tự cho mình biết nhiều, và cái giá phải trả là chính mạng sống.

Trước hết, ếch hẹp hòi vì chỗ ở hẹp. Nó sống đã lâu trong lòng một cái giếng, láng giềng chỉ là mấy con nhái, con cua, con ốc nhỏ hơn nó. Tiếng kêu của ếch dội vào thành giếng vang to, khiến đám bạn nhỏ ấy khiếp sợ. Thấy vậy, ếch đinh ninh mình oai nhất, còn trời trên đầu cũng chỉ rộng bằng cái vung đậy nồi. Cái nhìn của nó bị miệng giếng quyết định.

Thứ hai, ếch kiêu ngạo đến mức không chịu học từ hoàn cảnh mới. Một năm mưa lớn, nước giếng dâng tràn, đẩy ếch lên mặt đất. Trước mắt nó là cả một thế giới rộng lớn, vậy mà ếch vẫn giữ thói quen ở đáy giếng: đi đứng nghênh ngang, mắt chỉ ngước lên trời, chẳng buồn nhìn quanh. Một con trâu đi qua đã giẫm bẹp nó. Kết cục ấy không phải chuyện rủi ro; nó đến từ sự chủ quan và coi thường mọi thứ xung quanh.

Bằng nghệ thuật nhân hóa, một cốt truyện ngắn gọn và kết thúc bất ngờ, người xưa mượn con ếch để chê những kẻ hiểu biết nông cạn mà hay khoe khoang. Đọc truyện, em tự nhắc mình: mỗi lần bước sang một môi trường mới, như lên lớp mới hay đến trường mới, hãy quan sát và học hỏi trước khi vội cho mình là giỏi.

Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao

Lỗi hay gặp Sửa thế nào
Kể lại gần hết câu chuyện, đến cuối mới nói một câu nhận xét Mỗi đoạn mở bằng câu nêu đặc điểm; chỉ kể chi tiết đủ làm bằng chứng (hai, ba câu) rồi giải thích chi tiết ấy cho thấy điều gì.
Nêu đặc điểm mà không có dẫn chứng (ví dụ: Võ Tòng rất dũng cảm.) Ghép mỗi nhận xét với một chi tiết có thật trong văn bản: chú đâm lưỡi mác xuyên hàm hổ chúa khi đang nằm ngửa.
Trích dài, trích sai nguyên văn Trích ngắn, chính xác; nhớ không chắc thì thuật lại ý và bỏ ngoặc kép.
Liệt kê một loạt tính từ (hiền lành, tốt bụng, dũng cảm, thông minh…) Chọn 2–3 đặc điểm nổi bật nhất, sắp xếp từ dễ thấy đến sâu kín.
Quên nhận xét nghệ thuật Dành một đoạn ngắn cho ngôi kể, điểm nhìn, chi tiết tiêu biểu, đối lập hoặc nhân hóa.
Bịa chi tiết, nhầm nhân vật, nhầm tác giả Đọc lại văn bản trong sách trước khi viết; chi tiết nào không chắc thì bỏ.
Viết sai tên phiên âm Chép đúng như sách: Đuy-sen, An-tư-nai, Ha-men, Phrăng, Nê-mô, Ai-tơ-ma-tốp, Đô-đê, Giuyn Véc-nơ.
Kết bài chung chung kiểu em rất yêu quý nhân vật Kết bằng điều em học được thật cụ thể, hoặc bằng một hình ảnh đọng lại trong truyện.

Mẹo nhỏ: với truyện ngụ ngôn (đề Cánh diều Bài 6), nhân vật thường có một nét tính cách chính và một kết cục; hãy chỉ ra nét ấy dẫn tới kết cục ra sao, rồi nêu bài học, đừng kể lại truyện. Với bản Ếch ngồi đáy giếng trong Kết nối tri thức (trích sách Trang Tử, con ếch trò chuyện với con rùa biển Đông), cốt truyện khác bản dân gian ở Mẫu 12, nên cần lấy chi tiết đúng văn bản mình học.

Gợi ý bài nói: trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống được gợi ra từ nhân vật văn học

Sau bài Viết, Kết nối tri thức Bài 3 có phần Nói và nghe: trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống được gợi ra từ một nhân vật văn học. Em có thể dùng ngay nhân vật vừa phân tích:

  • Chọn một vấn đề nhân vật gợi ra: lòng biết ơn thầy cô (An-tư-nai), cách thể hiện tình thương bằng việc làm (Mên), giá trị của món quà (cậu bé trong Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ), sự kiêu ngạo vì hiểu biết hẹp (con ếch).
  • Mở đầu bằng một chi tiết của nhân vật để gây chú ý, rồi nêu rõ ý kiến của em.
  • Đưa 2–3 lí lẽ, mỗi lí lẽ kèm một bằng chứng: một từ trong truyện, một từ đời sống quanh em.
  • Nói theo phiếu ghi ý, không đọc thuộc bài viết; nhìn người nghe, dừng một nhịp trước mỗi lí lẽ.
  • Kết thúc bằng một đề xuất cụ thể, cảm ơn và mời các bạn hỏi lại.

Ví dụ đoạn mở đầu bài nói: Em chào cô và các bạn. Trong Bầy chim chìa vôi, anh Mên trả lời em mình toàn những câu cộc lốc, vậy mà lại cùng em ra sông lúc nửa đêm. Đọc đến đó, em tự hỏi: thương một người có nhất thiết phải nói thành lời không? Hôm nay em xin trình bày ý kiến của mình về cách chúng ta thể hiện tình cảm với người thân.

Chọn mẫu nào để luyện viết?

Học Kết nối tri thức Bài 3, em xem các Mẫu 1, 2, 3 và 5 (nhân vật trong các truyện của Bài 1 và Bài 3); Mẫu 9 hợp với đề Bài 10 về nhân vật trong cuốn sách đã đọc. Học Cánh diều, các Mẫu 4, 6, 8 bám các văn bản truyện của tập một, Mẫu 12 dùng cho đề truyện ngụ ngôn ở tập hai. Chân trời sáng tạo cho tự chọn nhân vật: Mẫu 7 và Mẫu 10 nối với hai văn bản nghị luận của Bài 3. Cần bài ngắn để luyện viết trong một tiết thì đọc Mẫu 3, 10 hoặc 12; muốn bài dài, đủ ý cho điểm cao thì xem Mẫu 2, 4, 5 hoặc 8. Hãy học cách mỗi mẫu chọn chi tiết và giải thích chi tiết, còn câu chữ thì viết bằng giọng của chính em.

Xem thêm:

Vietnammm
VJOL
s666
s666
cakhiatv
xoilac
gavangtv
trực tiếp bóng đá
xoilac tv
xoilac tv
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
xem bóng đá trực tiếp
socolive
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
thapcamtv
90phut
luongsontv
Socolive
Cakhiatv
Tiếu lâm tv
90phut
Thapcamtv
Luongsontv
sunwin
hitclub
go88
go88
kèo nhà cái
game bài
sunwin20
lô đề uy tín
https://hitclub3.jp.net/
https://kqbd.deal/
7m
789club
789club
b52
bomwin
https://trangcacuocbongda.bio/
iwin
vaobet
hitclub
https://tylekeonhacai.top/
https://sunwinn.za.com/
https://go881.jp.net/
7m
789club
game bài đổi thưởng
Rikvip
Socolive TV
Socolive TV
kèo nhà cái
hitclub
sunwin
789club
Kèo nhà cái
b52 club
b52 club
sunwin
kèo nhà cái
kèo bóng đá hôm nay
cá cược bóng đá
cakhiatv
socolive
xoilac
Kèo nhà cái
b52 club
ok9
https://fly88h.com/
789bet
tỷ lệ bóng đá hôm nay
tỷ lệ bóng đá hôm nay
Twin68
ww88
hitclub
tỷ lệ kèo
tylekeonhacai
V9bet
tỷ lệ kèo
nổ hũ
sunwin
188bet
Hit club
hitclub
Game bài 789club
BongdaNET
keonhacai5
Sunwin
hitclub
98win
RR88
123Bet
kèo nhà cái 5
NOHU
https://lucky88.us/
kubet
Sunwin
https://da888.app/
five88
da88
vin88
Five88
MAY88
FABET
sunwin
sunwin
sin88
Sumclub
Sao789
tỷ lệ kèo nhà cái
V88
ww88
ww88
Gamvip
Winclub
Xeng88
Vip69
Vic88
Kwin
Sumvip
Hit Club
https://cm88.so/
https://keonhacai.gb.net/
kèo nhà cái
Iwin68
dn88
https://ae8888.gr.com/
cakhiatv
xôi lạc tv
socolive
JBO
CakhiaTV
Socolive
b52club
kèo nhà cái 55
HITCLUB
lô đề online
https://mm88.blog/
8 DAY
kèo nhà cái
88xx
go99
sc88
23win
go8
go8
go99
33win
tỷ lệ kèo
kèo nhà cái
Go88
nowgoal
tỷ lệ kèo bóng đá anh
soi kèo nhà cái
Tài xỉu online
https://keonhacai6.io/
Luck8
B29
go8
https://sunwinor.com/
Rikvip
B52club
Kèo Nhà Cái
Go88
Socolive
Sutbongtv
Socolive
hitclub
bet168
game bài đổi thưởng
w 88
tỷ lệ kèo nhà cái
sun win
kết quả bóng đá
VN88
hello88
sunwin
f168
uu88
nổ hũ
Kèo Nhà Cái
Tài Xỉu
rikvip
xocdia88
xóc đĩa online
88vin
bay789
kwin
sunwin
https://sunwin35.io/
mu88
sunwin
B52
qq887p com
qq88 social
kèo nhà cái
kèo nhà cái
https://sunwins.eu.com
hitclub
Game bài đổi thưởng
v9bet
kubet
go88
b52 club
https://98win.kiwi/
au88
B52club
kèo nhà cái 5
https://sunwinkt.com/
AE888
Sunwin
go88
kqbd
Go88
kèo nhà cái
hit club
https://keonhacaim88.info/
trực tiếp bóng đá
Sunwin
sunwin
ok9
789Club
Sumclub
sonclub
alo789
bet88
123b
cm88
go 88
https://sunwinvy.com/
xoilactv
http://taixiuonline.markets/
nohu90 com
23win
game bai doi thuong
hitclub
sunwin
tài xỉu 789club
Bong88
Tỷ lệ kèo
Sunwin
hitclub
789club
trực tiếp bóng đá socolive
cm88
https://sunwin.vision/
hitclub
du88
du88
9bet
9bet
sunwin
lucky88
uk88
kèo nhà cái 5
Sunwin
https://ae888.co.com/
mu88
sunwin
sunwin
trang cá cược bóng đá
sunwin
GO99
789WIN
Lucky88
AO88
789Club
Nhà cái Xocdia88
8xbet
fb88
https://shbet800.com/
https://789bethv.com/
sunwin
sunwin
HITCLUB
https://keonhacai.forsale/
bay789
mu88
mu88
keo nha cai 5
đánh đề online
qq8876 net
https://metruyen.biz/
789 Club
HITCLUB
tỷ lệ kèo
luck8
tg88
789bet
789club
qh88
kubet
S8
Sunwin
Go88
Hay88
Hay88
Hay88
Hay88
https://go88n.co/
8xbet
b52club
kèo nhà cái
game bài đổi thưởng
https://ae888li.com/
79KING
https://npunks.io/
sun win
sun win
bắn cá đổi thưởng
Luckywin
RIK VIP
UY88
sun win
https://keonhacaingoaihanganh.com/
au88
SUNWIN
mê truyện
Xóc đĩa
tài xỉu
đánh đề online
kèo nhà cái
nhà cái uy tín
https://dstruct.io
sunwin
nha cai uy tin
789 club
99ok
VN88
90phut
trực tiếp bóng đá
Tai xiu
789club
nowgoal
J88
sunwin
go88
https://789betlove.com/
rikvip
hitclub
lô đề online
https://tylekeonhacai.co.com/
789club
Exness
kubet