Một trong những bài nghị luận văn học đầu tiên học sinh lớp 6 (sách Cánh diều) được học kể về một nhà văn rất hay khóc: Nguyên Hồng. Người viết trang ấy, Nguyễn Đăng Mạnh (1930 – 2018), là nhà giáo, giáo sư và nhà nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam hiện đại, gắn bó cả đời với khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Tên ông đi liền với những chân dung văn học về Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, với bộ sách văn trung học thời cải cách giáo dục, và với một cuốn hồi ký từng gây nhiều tranh luận.

Từ phố huyện Hải Hậu đến giảng đường Sư phạm
| Tên | Nguyễn Đăng Mạnh |
| Năm sinh – năm mất | 18/3/1930 – 9/2/2018 (thông báo của Khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội ghi năm sinh 1931) |
| Quê quán | Xã Cự Khối, huyện Gia Lâm, Hà Nội |
| Nơi lớn lên | Nam Định (phố huyện Hải Hậu, theo lời ông kể) |
| Nghề nghiệp | Nhà giáo; nhà nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam hiện đại |
| Học hàm, danh hiệu | Giáo sư; Nhà giáo Nhân dân |
| Tác phẩm tiêu biểu | Nhà văn, tư tưởng và phong cách (1979); Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn (1994); Nhà văn Việt Nam hiện đại – chân dung và phong cách (2000); Tuyển tập Nguyễn Đăng Mạnh (2005) |
| Giải thưởng | Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ (2000); Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam |
| Trong SGK hiện hành | Nguyên Hồng – nhà văn của những người cùng khổ (Ngữ văn 6 Cánh diều); Lại đọc Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân (Ngữ văn 11 Cánh diều) |
Thông báo của Khoa Ngữ văn và các báo ghi ông quê ở xã Cự Khối, huyện Gia Lâm, ven Hà Nội. Nhưng tuổi thơ của ông lại ở Nam Định. Trong một lần trò chuyện được kể lại trên trang Hội Nhà văn Việt Nam, ông nói mình sinh ra và lớn lên ở phố huyện Hải Hậu, sau theo cha sang phủ Nghĩa Hưng, rồi lên thành phố Nam Định học trường Thành chung. Wikipedia cũng ghi ông sinh ở Nam Định.
Sau đó ông học trường Chu Văn An ở Hà Nội. Theo Wikipedia, sau Cách mạng tháng Tám, trường dời lên Phú Thọ rồi giải thể; ông chuyển sang một trường trung cấp sư phạm tại Tuyên Quang và đi dạy từ đó. Theo thông báo của Khoa Ngữ văn, năm 1960, sau khi tốt nghiệp ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (thuộc các khóa đầu của trường), ông vào dạy ở khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Vinh khoảng năm năm, rồi mới ra Hà Nội và ở lại Bộ môn Văn học Việt Nam hiện đại cho đến khi nghỉ hưu. (Wikipedia thì ghi ông được giữ lại Đại học Sư phạm Hà Nội ngay từ năm 1960.) Ông từng làm chủ nhiệm bộ môn này.
Nhà văn, tư tưởng và phong cách: một cách đọc tác gia
Đặt các nhan đề sách của ông cạnh nhau sẽ thấy một mạch nghĩ nhất quán: Nhà văn, tư tưởng và phong cách, Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, Nhà văn Việt Nam hiện đại – chân dung và phong cách. Ông không bắt đầu từ một học thuyết, mà từ một con người cầm bút. Muốn hiểu tác phẩm, theo cách làm của ông, phải hiểu tư tưởng của nhà văn, rồi đến phong cách, rồi đến cái thế giới nhân vật riêng mà phong cách ấy sinh ra.
Các đồng nghiệp ở Khoa Ngữ văn ghi nhận ông là người góp phần đặt nền móng cả lý thuyết lẫn thực hành cho phương pháp nghiên cứu tác gia văn học ở Việt Nam. Bài hoài niệm của một người hàng xóm cũ đăng trên trang Hội Nhà văn Việt Nam kể rằng sinh viên sư phạm hay nhắc hai thầy hơn kém nhau mười tuổi cùng khoa: một người theo hướng phong cách học là Nguyễn Đăng Mạnh, một người theo hướng thi pháp học là Trần Đình Sử.
Cũng theo bài viết ấy, ông có thói quen “săn” chi tiết. Từ khi mới vào nghề, ông tìm gặp các nhà văn tên tuổi, kể cả những người bị coi là “có vấn đề”, để nghe họ nói chuyện. Câu ông tâm đắc là chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn. Nhờ vốn tư liệu sống ấy, chân dung văn học của ông thường có một hình ảnh, một giai thoại khiến người đọc nhớ lâu. Người hàng xóm ấy còn nhận ra mỗi chân dung trong cuốn sách năm 2000 mang một nhan đề như một lời định danh, chẳng hạn bài về Nguyễn Tuân được gọi là một phong cách độc đáo và tài hoa, bài về Vũ Trọng Phụng xoay quanh lòng căm uất của nhà văn trước xã hội cũ.
Năm 2000, cũng là năm cuốn chân dung và phong cách ra đời, ông nhận Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ. Theo báo Thanh Niên, ông in tất cả mười hai cuốn lý luận, phê bình văn học, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và từng ở trong Hội đồng lý luận phê bình của Hội.
Ba vùng ông đọc kỹ nhất: Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, thơ Hồ Chí Minh
Nguyễn Tuân
Ông dành cho Nguyễn Tuân rất nhiều công sức. Ông viết về phong cách tài hoa, uyên bác của tác giả Vang bóng một thời, và là người biên soạn, giới thiệu bộ Nguyễn Tuân toàn tập (5 tập, NXB Văn học, 2000). Muốn đọc tiếp về nhà văn này, có thể xem bài giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và bài phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân trên Văn VN.
Nguyên Hồng
Ông viết chung cuốn Nguyên Hồng và Hải Phòng (1987) và in chuyên luận Nguyên Hồng, con người và sự nghiệp (1988). Trong một lần trò chuyện được ghi lại, ông từng nói rằng hiếm ai trong làng văn có dáng vẻ lam lũ, nhếch nhác như tác giả Bỉ vỏ, vậy mà nhân cách ấy khiến cả Nguyễn Tuân cũng phải nể. Bài in trong sách lớp 6 là một phần kết quả của những năm ông theo đuổi Nguyên Hồng. Đọc thêm: giới thiệu tác giả Nguyên Hồng và những tác phẩm tiêu biểu của Nguyên Hồng.
Thơ văn Hồ Chí Minh và những gương mặt khác
Mảng thứ ba là thơ văn Hồ Chí Minh, với các cuốn Mấy vấn đề phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Hồ Chí Minh và Văn thơ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh (1994). Ngoài ra, ông viết nhiều về Nam Cao và Vũ Trọng Phụng; tập Văn học Việt Nam hiện đại: những gương mặt tiêu biểu (2012) gom lại những chân dung ông viết trong nhiều năm. Bạn đọc có thể so cách ông nhìn với bài giới thiệu tác giả Vũ Trọng Phụng hay tác giả Nam Cao.
Người chủ biên sách văn trung học thời cải cách giáo dục
Nhiều người học phổ thông những năm 1980 – 1990 đã đọc sách của ông mà không biết. Trong đợt cải cách giáo dục, ông là chủ biên sách giáo khoa Văn học lớp 11 và 12 bậc trung học phổ thông, giai đoạn 1980 – 1992. Ông còn chủ biên giáo trình Văn học Việt Nam 1945 – 1975 (hai tập) cho sinh viên sư phạm và in cuốn Văn và dạy học văn (1993).
Đứng đầu một bộ sách phổ thông nghĩa là gánh cả lời khen lẫn lời chê. Bài hoài niệm trên trang Hội Nhà văn cho biết chuyện sách giáo khoa là một “nỗi lòng” ông hay nhắc: hay dở thế nào, người chủ biên cũng phải đứng ra chịu trước.
Nhiều học trò của ông về sau thành nhà giáo, nhà nghiên cứu, nhà văn. Theo Wikipedia, ông nhận học hàm Phó giáo sư năm 1984, Giáo sư năm 1991 và danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 2002.
Hai bài nghị luận của Nguyễn Đăng Mạnh trong sách giáo khoa
| Văn bản | Sách – bài học | Ghi chú | Trên Văn VN |
|---|---|---|---|
| Nguyên Hồng – nhà văn của những người cùng khổ | Ngữ văn 6 Cánh diều, tập 1 – Bài 4 (Văn bản nghị luận) | Trích Tuyển tập Nguyễn Đăng Mạnh, tập 1 (2005); đọc sau đoạn hồi kí Trong lòng mẹ ở Bài 3 | Soạn bài · Soạn Trong lòng mẹ |
| Lại đọc Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 2 – Bài 9 (Văn bản nghị luận), phần thực hành đọc hiểu | Bàn về phong cách Nguyễn Tuân qua truyện Chữ người tử tù | Soạn Chữ người tử tù · Tóm tắt |
Bài lớp 6 đi theo ba bước rất rõ. Đầu tiên, ông nêu một điều ai quen Nguyên Hồng cũng biết: nhà văn rất dễ khóc, khóc vì bạn bè, vì nỗi khổ của người nghèo, cả vì số phận nhân vật mình viết ra. Tiếp đó, ông tìm nguyên nhân ở tuổi thơ thiếu tình thương, dẫn những dòng hồi kí của chính Nguyên Hồng. Cuối cùng, ông chỉ ra rằng những năm sống giữa lớp người dưới đáy xã hội đã cho Nguyên Hồng tấm lòng của người lao động nghèo. Vì đã học Trong lòng mẹ ngay trước đó, học sinh dễ nhận ra chú bé Hồng chính là nhà văn thuở nhỏ.
Bài lớp 11 mở đầu bằng một luận điểm quen thuộc của ông: nhà văn có phong cách thì tạo ra một thế giới nhân vật của riêng mình. Ông đọc cảnh cho chữ như “sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối”, rồi đi đến một ý ít người nghĩ tới: các nhân vật đáng quý không chỉ vì không biết sợ, mà còn vì họ biết cúi mình kính phục tài năng, vẻ đẹp và thiên lương. Cái cúi đầu của viên quản ngục, theo ông, làm con người ấy cao thêm chứ không hèn đi. Văn bản này chưa có bài soạn riêng trên Văn VN; khi học, nên đọc lại truyện gốc và tham khảo bài phân tích nhân vật Huấn Cao.
Cuốn hồi ký chưa in đã lan trên mạng
Khoảng năm 2008, bản thảo mang tên Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh bắt đầu được chuyền tay trên mạng, và BBC tiếng Việt có bài về những phản ứng xung quanh nó vào tháng 10 năm ấy. Một bài viết đăng trên trang Hội Nhà văn Việt Nam năm 2023 cho biết cuốn hồi ký dày chừng ba trăm trang, chia ba chương; ông viết xong năm 2007 và định để đó. Bản thảo gửi đi nhờ đánh máy (ông không rành máy tính) rồi bị phát tán ra ngoài, ngoài ý muốn của người viết.
Những trang ông viết thẳng về nhiều nhà văn, đồng nghiệp và nhân vật có tiếng khiến người đọc chia làm hai phía. Có người khen ông bản lĩnh, dám nói điều người khác biết mà không nói. Có người trách ông thiên kiến, làm tổn thương những người được nhắc tới. Bài viết này chỉ ghi nhận cuốn hồi ký như một sự kiện trong đời ông, không bình luận nội dung.
Điều đáng chú ý với người học văn là chính những chi tiết “đắt” ông dày công thu nhặt để dựng chân dung văn học lại là thứ khiến hồi ký gây sóng gió. Cùng một lối viết, ở hai thể loại khác nhau, cho ra hai số phận rất khác.
Chữ của bạn bè và học trò: “trí thức thực học”
Trong cuốn Một tiến trình vào nghiên cứu phê bình văn học, Hoàng Ngọc Hiến, nguyên hiệu trưởng Trường Viết văn Nguyễn Du và là bạn thân của ông, viết: “Thành đạt lớn nhất của anh là bằng con đường tự đào tạo từ một trí thức bình dân trở thành một trí thức thực học”. Câu ấy được nhắc lại trong bài viết của báo VietNamNet khi ông mất và trong bài hoài niệm trên trang Hội Nhà văn.
Cũng theo VietNamNet, nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng cái tài của ông là đọc ra được cái “tạng” riêng của từng người cầm bút. Còn với học trò cũ, mất ông là mất một chỗ dựa về học thuật và cách sống của một trí thức.
Nhận xét của người biên tập, không trích của ai: đọc Nguyễn Đăng Mạnh dễ hơn đọc nhiều nhà lý luận cùng thời, vì ông viết như kể chuyện về một con người, ít thuật ngữ, nhiều chi tiết đời thường. Có lẽ vì thế mà văn ông được chọn cho học sinh ngay từ lớp 6.
Những ngày cuối và vài câu hỏi hay gặp
Từ đầu thập niên 1990, gia đình ông chuyển từ khu tập thể Đại học Sư phạm về một ngõ nhỏ ở Quan Hoa, Hà Nội (theo bài hoài niệm vừa nhắc). Ông mất lúc 17 giờ 10 ngày 9/2/2018 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt – Xô, sau thời gian bệnh nặng; báo Thanh Niên ghi ông thọ 88 tuổi, thông báo của Khoa Ngữ văn ghi 89 tuổi. Theo thông báo ấy, lễ tang cử hành ngày 13/2/2018, tức 28 tháng Chạp năm Đinh Dậu, và ông được an táng tại nghĩa trang thị xã Sơn Tây.
Nguyễn Đăng Mạnh sinh năm nào, quê ở đâu?
Phần lớn nguồn ghi ông sinh ngày 18/3/1930 (riêng thông báo của Khoa Ngữ văn ĐHSP Hà Nội ghi 1931). Quê ông ở xã Cự Khối, huyện Gia Lâm, Hà Nội; tuổi thơ ông sống ở Nam Định.
Văn bản Nguyên Hồng – nhà văn của những người cùng khổ được trích từ đâu?
Văn bản trích từ tập 1 bộ Tuyển tập Nguyễn Đăng Mạnh (2005), sách giáo khoa có lược bớt một số đoạn.
Nguyễn Đăng Mạnh nhận những giải thưởng nào?
Ông nhận Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ năm 2000 và Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam (theo Wikipedia là hai lần, năm 1985 và năm 2001).
Ông có phải là nhà văn không?
Ông không viết tiểu thuyết hay truyện ngắn. Ông là nhà nghiên cứu, phê bình và là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; một số tờ báo vẫn gọi ông là “nhà văn” theo nghĩa rộng.
Xem thêm: