Soạn bài Vẻ đẹp giản dị và chân thật của Quê nội giúp em trả lời các câu hỏi theo dõi trong khi đọc, bốn câu hỏi sau khi đọc (trang 106) và đề viết kết nối với đọc trong Ngữ văn 7 Kết nối tri thức tập hai, Bài 10 (Trang sách và cuộc sống). Văn bản là bài phê bình của nhà văn Trần Thanh Địch bàn về truyện dài Quê nội của nhà văn Võ Quảng, được học trong phần đọc cùng nhà phê bình của Thách thức đầu tiên – chinh phục những cuốn sách mới.
Tìm hiểu chung về văn bản Vẻ đẹp giản dị và chân thật của Quê nội
Trước khi trả lời câu hỏi, em cần nắm vài thông tin cơ bản về văn bản và tác phẩm được bàn luận.

- Tác giả: Trần Thanh Địch (1912 – 2007), quê Thừa Thiên Huế, nhà văn, nhà báo, nhà phê bình, viết nhiều cho thiếu nhi.
- Xuất xứ: in trong cuốn Bàn về văn học thiếu nhi (NXB Kim Đồng, 1983); nhan đề do người biên soạn SGK đặt.
- Thể loại: văn bản nghị luận phân tích một tác phẩm văn học.
- Tác phẩm được bàn luận: Quê nội (1974) và phần tiếp theo là Tảng sáng (1976) của Võ Quảng, kể về làng quê Quảng Nam những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám qua lời kể xưng “tôi” của một cậu bé trong làng.
- Bố cục: 4 phần – nêu vấn đề và hoàn cảnh đời sống trong truyện; thế giới nhân vật; cách dùng người kể chuyện; sức cuốn hút của truyện.
Văn bản còn trong thời hạn bảo hộ bản quyền nên bài soạn chỉ tóm lược ý, không chép lại nguyên văn.
Đọc văn bản: trả lời câu hỏi theo dõi
Trong khi đọc, SGK yêu cầu em theo dõi sáu nội dung được ghi bên lề văn bản.
Theo dõi 1: Vấn đề được nêu ra để bàn luận
Trả lời: Người viết bàn về cách nhìn, cách nghĩ, cách viết riêng của Võ Quảng trong hai truyện dài Tảng sáng và Quê nội: truyện hầu như không xây dựng cốt truyện, lại có nhiều tuyến nhân vật, vậy mà vẫn cuốn hút người đọc một cách lặng lẽ, “như một mùi hương gây mê”. Theo người viết, đó là nét đẹp giản dị, chân thật làm nên giá trị của truyện.
Theo dõi 2: Ý kiến của người viết về hoàn cảnh đời sống trong tác phẩm
Trả lời: Câu chuyện diễn ra ở một làng quê miền Trung – thôn Hòa Phước bên dòng sông Thu Bồn – vào những ngày mới mẻ ngay sau Cách mạng tháng Tám. Người viết cho rằng đây là thời điểm chế độ mới làm thay đổi toàn diện đời sống: người nông dân vừa dựng chính quyền cách mạng ở địa phương vừa lo chống giặc giữ làng; ai cũng hăng hái lo việc chung hơn việc nhà; làng quê rộn rã như vừa bừng tỉnh sau giấc ngủ dài.
Theo dõi 3: Ý kiến của người viết về thế giới nhân vật trong tác phẩm
Trả lời: Theo người viết, nhân vật trong truyện đều đáng mến; mỗi nhân vật có cá tính riêng nhưng đều giống nhau ở sự tích cực với công việc xã hội. Nhân vật được chia thành nhiều tuyến: tuyến chính xuất hiện nhiều (như hai cậu bé Cục, Cù Lao và những người lớn trong làng); tuyến thứ hai ít xuất hiện hơn nhưng vẫn thú vị; tuyến thứ ba là những con vật gắn bó với con người như con trâu, bầy chó trong làng, mỗi con một tính nết riêng.
Theo dõi 4: Cách nêu bằng chứng để làm rõ ý kiến của người viết
Trả lời: Người viết không trích những đoạn văn dài mà lược thuật, tóm tắt các chi tiết; nêu tên nhân vật theo từng tuyến; kể lại ngắn gọn những tình huống tiêu biểu. Cách làm này phù hợp vì truyện dài, nhiều nhân vật, đồng thời giúp người đọc chưa đọc truyện vẫn hình dung được thế giới nhân vật.
Theo dõi 5: Ý kiến của tác giả về người kể chuyện trong tác phẩm
Trả lời: Hai truyện được kể qua vai “tôi” (ngôi thứ nhất). Người viết chỉ ra cả hai mặt:
- Ưu điểm: người kể dễ thủ thỉ, dẫn người đọc lắng nghe những điều nhân vật nghĩ thầm trong lòng, rồi như một chiếc máy quay tiến sát lại để soi rõ các nhân vật xung quanh mình.
- Hạn chế: người kể xưng “tôi” khó nhìn xa, không thể nói thay nội tâm, suy nghĩ của những nhân vật khác.
Theo dõi 6: Nhận xét chung về sức hấp dẫn của tác phẩm
Trả lời: Người viết khẳng định cả người lớn lẫn trẻ em đều xúc động trước nhiều trang văn của Võ Quảng, rồi kể ra hàng loạt cảnh: dân làng rủ nhau tới lớp học buổi tối, que diêm lóe lửa còn chập chờn, một người học đánh vần lại ứng khẩu thêm ca dao, bầy chó rượt đuổi ông Hai Dĩ, sông nước bên mạn thuyền… Sức hấp dẫn của tác phẩm nằm ở chính những chi tiết đời thường, rải rác khắp các chương sách.
Sau khi đọc: trả lời câu hỏi trang 106
Câu 1: Vấn đề người viết tập trung bàn luận (trang 106)
Người viết tập trung bàn luận về vấn đề gì trong tác phẩm Quê nội của Võ Quảng?
Trả lời: Người viết tập trung bàn về vẻ đẹp giản dị và chân thật của Quê nội, thể hiện ở cách nhìn, cách viết riêng của Võ Quảng: một truyện dài hầu như không có cốt truyện rõ ràng mà vẫn có sức cuốn hút lạ. Vấn đề ấy được làm rõ qua các khía cạnh: hoàn cảnh đời sống được tái hiện, thế giới nhân vật, cách chọn người kể chuyện và sức hấp dẫn của những trang văn cụ thể.
Câu 2: Ý kiến về đặc điểm nội dung, nghệ thuật của tác phẩm (trang 106)
Để bàn về vấn đề, người viết đã nêu những ý kiến gì về đặc điểm nội dung, nghệ thuật của tác phẩm? Em căn cứ vào đâu để xác định như vậy?
Trả lời:
- Về nội dung: truyện tái hiện làng quê miền Trung những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám với sự đổi thay toàn diện của đời sống; nhân vật đông đảo, đáng yêu, mỗi người một cá tính nhưng cùng hăng say việc chung; cả loài vật cũng thành nhân vật sinh động.
- Về nghệ thuật: truyện không dựa vào cốt truyện ly kì, nhiều tuyến nhân vật mà vẫn cuốn hút; truyện kể theo ngôi thứ nhất (vai “tôi”) với những ưu điểm và hạn chế riêng; sức hấp dẫn đến từ những chi tiết đời thường giàu cảm xúc.
Căn cứ xác định: mỗi đoạn văn đều mở đầu bằng một câu nêu ý kiến khái quát (câu chủ đề), sau đó người viết mới đưa lí lẽ và bằng chứng. Đọc các câu mở đoạn, em sẽ thấy ngay các ý kiến chính.
Câu 3: Lí lẽ, bằng chứng và cách trình bày bằng chứng (trang 106)
Hãy tìm những lí lẽ, bằng chứng được người viết sử dụng nhằm làm sáng tỏ ý kiến về các đặc điểm của tác phẩm Quê nội. Cách trình bày bằng chứng của người viết có điều gì đáng chú ý?
Trả lời:
| Ý kiến | Lí lẽ | Bằng chứng |
|---|---|---|
| Truyện ít cốt truyện nhưng hấp dẫn | Mỗi nhà văn có lối nhìn, lối viết riêng; sức hút của truyện đến một cách âm thầm | Nhiều tuyến, nhiều nhóm nhân vật cùng hoạt động trong hai truyện Tảng sáng, Quê nội |
| Hoàn cảnh đời sống là làng quê đang đổi thay | Chế độ mới làm thay đổi nếp sống của từng gia đình, từng con người | Thôn Hòa Phước bên sông Thu Bồn sau Cách mạng tháng Tám; dân làng dựng chính quyền, tập quân sự, lo việc chung hơn việc nhà |
| Nhân vật đáng yêu, giàu cá tính | Mỗi người một vẻ nhưng chung tinh thần hăng hái | Tên các nhân vật được nêu theo từng tuyến; chuyện người được cử đến dạy chữ hóa ra gặp một học trò thuộc làu ca dao, thơ ca; con trâu, bầy chó mỗi con một tính |
| Vai “tôi” có ưu và nhược | Kể ngôi thứ nhất dễ đi sâu vào tâm hồn nhân vật nhưng khó nói thay nội tâm người khác | Hình ảnh so sánh cách kể với ống kính máy quay tiến lại gần các nhân vật xung quanh người kể |
| Tác phẩm có sức hấp dẫn với mọi lứa tuổi | Người đọc lớn nhỏ đều xúc động | Chuỗi trang văn: đi học ban đêm, que diêm lóe lửa, bầy chó rượt ông Hai Dĩ, cảnh sông nước… |
Điều đáng chú ý: bằng chứng chủ yếu được lược thuật, liệt kê thành chuỗi, sắp theo từng nhóm (hoàn cảnh – nhân vật – người kể – chi tiết hấp dẫn) chứ không trích dẫn dài. Đoạn cuối dùng phép liệt kê dồn dập nhiều “trang” văn liền nhau, vừa làm bằng chứng vừa truyền được niềm say mê của người viết sang người đọc.
Câu 4: Mối quan hệ giữa mục đích viết và đặc điểm, nội dung văn bản (trang 106)
Mối quan hệ giữa mục đích viết và đặc điểm, nội dung chính của văn bản nghị luận phân tích một tác phẩm văn học được thể hiện như thế nào trong bài viết này?
Trả lời:
- Mục đích viết: làm sáng tỏ vẻ đẹp giản dị, chân thật của Quê nội và thuyết phục người đọc, nhất là bạn đọc nhỏ tuổi, tìm đến tác phẩm.
- Đặc điểm và nội dung chính: văn bản nêu các ý kiến về nội dung (hoàn cảnh, nhân vật) và nghệ thuật (người kể chuyện, chi tiết); mỗi ý kiến đều có lí lẽ và bằng chứng lấy từ tác phẩm.
- Mối quan hệ: mục đích quyết định người viết chọn bàn những khía cạnh nào và chọn bằng chứng ra sao; ngược lại, hệ thống ý kiến – lí lẽ – bằng chứng chặt chẽ giúp mục đích được thực hiện. Vì muốn chứng minh tác phẩm giản dị, chân thật, người viết chọn chính những chi tiết đời thường nhất làm bằng chứng.
Viết kết nối với đọc
Đề bài (trang 106): Tưởng tượng em là một nhà phê bình, hãy viết đoạn văn (khoảng 6 – 8 câu) nêu ý kiến của em về một tác phẩm văn học về đề tài tuổi thơ hoặc quê hương, đất nước mà em đã đọc.
Đoạn văn tham khảo 1: Bầy chim chìa vôi
Truyện ngắn Bầy chim chìa vôi của Nguyễn Quang Thiều là một trang tuổi thơ trong trẻo mà tôi muốn giới thiệu với mọi bạn đọc nhỏ. Câu chuyện không có biến cố lớn: chỉ là một đêm mưa, hai anh em Mon và Mên thao thức lo cho tổ chim chìa vôi trên bãi cát giữa sông khi nước dâng. Thế nhưng chính sự lo lắng rất trẻ con ấy lại cho thấy một tâm hồn biết yêu thương những sinh linh bé nhỏ. Cuộc trò chuyện thì thầm giữa hai anh em được tác giả viết tự nhiên như lời nói thường ngày, khiến người đọc tin ngay vào nhân vật. Cảnh rạng sáng, bầy chim non bay lên khỏi bãi sông trước mắt hai đứa trẻ là đoạn văn đẹp nhất, vừa hồi hộp vừa xúc động. Theo tôi, giá trị của truyện nằm ở chỗ nó đánh thức trong mỗi người lòng trắc ẩn và tình yêu thiên nhiên từ những điều giản dị nhất.
Đoạn văn tham khảo 2: Ngàn sao làm việc
Bài thơ Ngàn sao làm việc của Võ Quảng là một bức tranh quê nhỏ xinh mà ai đọc cũng thấy lòng dịu lại. Bài thơ mở ra bằng cảnh làng quê lúc chiều buông, rồi đưa người đọc ngước lên bầu trời đêm đầy sao. Điều tôi quý nhất là trí tưởng tượng hồn nhiên của nhà thơ: các vì sao không đứng yên lấp lánh mà cũng lao động như người nông dân – có sao giăng vó, có sao như ngọn đuốc soi cá, có chòm sao buông gầu tát nước. Phép nhân hóa và so sánh ấy khiến bầu trời trở nên gần gũi như chính cánh đồng quê. Qua đó, bài thơ nhắn nhủ rằng lao động và sự chung sức làm cho muôn vật thêm đẹp. Đọc bài thơ, tôi hiểu vì sao Võ Quảng được yêu mến: ông viết về quê hương bằng tấm lòng trong trẻo của tuổi thơ. Đó cũng chính là vẻ đẹp giản dị, chân thật mà nhà phê bình Trần Thanh Địch đã nhận ra trong Quê nội.
Kết luận
Qua bài soạn, em cần nắm: văn bản Vẻ đẹp giản dị và chân thật của Quê nội là một bài nghị luận phân tích tác phẩm văn học; người viết nêu ý kiến về hoàn cảnh đời sống, thế giới nhân vật, người kể chuyện và sức hấp dẫn của truyện, mỗi ý kiến đều có lí lẽ và bằng chứng lược thuật từ tác phẩm. Đây là mẫu tốt để em học cách đọc và viết về một cuốn sách mình yêu thích trong Bài 10.
Xem thêm:
- Soạn bài Chinh phục những cuốn sách mới
- Tác giả Võ Quảng: cuộc đời, sự nghiệp
- Ngàn sao làm việc – Ngữ văn 7 Kết nối tri thức
- Bầy chim chìa vôi – tóm tắt, bố cục