Đức tính giản dị của Bác Hồ là văn bản nghị luận của Phạm Văn Đồng, thuộc Bài 8, chủ đề Nghị luận xã hội, sách Ngữ văn 7 Cánh diều tập hai, ngay sau văn bản Tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Bài viết dưới đây gom những kiến thức cần nắm khi học và ôn tập: nội dung từng phần, tiểu sử tác giả, xuất xứ, thể loại, bố cục, hệ thống luận điểm, giá trị nội dung, nghệ thuật và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Đức tính giản dị của Bác Hồ
Văn bản trong SGK là một đoạn trích ngắn, được chia thành bốn phần đánh số; ở giữa phần (3) và phần (4) có một đoạn được lược bớt (đánh dấu […]). Dưới đây là ý chính của từng phần; toàn văn em đọc trong SGK.

Phần (1) – nêu vấn đề. Tác giả khẳng định điều cần làm rõ nhất là sự thống nhất giữa “đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất” và đời thường “vô cùng giản dị và khiêm tốn” của Bác. Ông coi đó là điều lạ lùng, kì diệu: trải qua sáu mươi năm đầy sóng gió ở khắp nơi, Bác vẫn giữ nguyên phẩm chất trong sáng của người chiến sĩ hết lòng vì nước, vì dân.
Phần (2) – chứng minh qua đời sống hằng ngày. Mọi người đều biết Bác giản dị ở “bữa cơm, đồ dùng, cái nhà, lối sống”. Bữa ăn vài món đơn sơ, ăn xong bát sạch, thức ăn thừa xếp gọn, cho thấy Bác quý sản phẩm lao động và quý cả người phục vụ mình. Nơi Bác ở là ngôi nhà sàn vài phòng, thoáng gió, đầy nắng và hương hoa, một cuộc sống “thanh bạch và tao nhã biết bao”. Bác làm việc không ngơi nghỉ, từ việc nước đến việc vườn; việc gì tự làm được thì không nhờ ai, nên người giúp việc quanh Bác chỉ đếm trên đầu ngón tay.
Phần (3) – bình luận, giải thích. Tác giả nhắc người đọc đừng nghĩ Bác sống “khắc khổ theo lối nhà tu hành” hay xa lánh cuộc đời. Bác sống thanh bạch vì gắn bó với cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân; cuộc sống vật chất đơn sơ ấy hòa hợp với một tâm hồn phong phú, giàu tư tưởng và tình cảm đẹp – một lối sống văn minh đáng nêu gương.
Phần (4) – lời nói, câu văn mộc mạc. Bác nói và viết giản dị để quần chúng “hiểu được, nhớ được, làm được”. Những chân lí lớn mà Bác nêu, như “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”, rất ngắn gọn mà sâu sắc; khi đi vào lòng hàng triệu người, chúng trở thành “sức mạnh vô địch”, thành chủ nghĩa anh hùng của cả dân tộc.
Thông tin tác giả Phạm Văn Đồng
Phạm Văn Đồng sinh năm 1906, mất năm 2000, là người con của đất Quảng Ngãi (xã Đức Tân, huyện Mộ Đức). Từ năm 1925, ông đã dấn thân vào con đường cách mạng; ông từng bị thực dân Pháp bắt giam, đến năm 1936 mới ra tù. Năm 1940, ông sang Trung Quốc gặp Nguyễn Ái Quốc, rồi được giao trở về gây dựng cơ sở cách mạng nơi biên giới.
Suốt mấy chục năm, ông vừa là học trò, vừa là người cộng sự gắn bó với Bác Hồ. Từ năm 1955 đến năm 1987, ông đứng đầu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đây là quãng thời gian giữ cương vị Thủ tướng dài nhất trong lịch sử nước ta.
Không chỉ là nhà hoạt động chính trị, Phạm Văn Đồng còn được coi là nhà văn hóa có tầm vóc. Ông để lại nhiều bài nói, bài viết bàn về giáo dục, nghệ thuật, tiếng Việt, về Bác Hồ và các danh nhân dân tộc. Một số tác phẩm thường được nhắc tới:
- Hồ Chí Minh – một con người, một dân tộc, một thời đại;
- Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc.
Văn nghị luận của ông giàu sức thuyết phục nhờ suy nghĩ sâu, cảm xúc nồng nhiệt, câu văn sáng sủa, nhiều hình ảnh. Viết về Bác, ông viết bằng sự hiểu biết của người đã gắn bó với Bác hàng chục năm.
Thông tin tác phẩm Đức tính giản dị của Bác Hồ
Đức tính giản dị của Bác Hồ được trích từ đâu?
Văn bản là một đoạn trong bài diễn văn có tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại, do Phạm Văn Đồng trình bày. Nhan đề Đức tính giản dị của Bác Hồ không phải của tác giả; đó là tên những người làm sách đặt cho đoạn trích, dựa theo ý chính của nó.
Hoàn cảnh ra đời
Phạm Văn Đồng trình bày bài diễn văn năm 1970, vào dịp tròn 80 năm ngày Bác ra đời, tức chưa đầy một năm sau khi Bác qua đời (9/1969). Đây là lời tưởng niệm của một người học trò, đồng chí đã sống bên Bác nhiều năm, nên vừa có giá trị nghị luận vừa thấm đẫm tình cảm.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn nghị luận xã hội, bàn về một phẩm chất, một lối sống của con người.
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận (dùng các thao tác chứng minh, bình luận và giải thích), có xen biểu cảm.
Đức tính giản dị của Bác Hồ có mấy phần?
Theo cách đánh số trong SGK, văn bản có 4 phần:
- Phần (1) – hai đoạn đầu: nêu vấn đề, sự thống nhất giữa cuộc đời cách mạng lớn lao và nếp sống bình dị của Bác.
- Phần (2) – đoạn kể về bữa ăn, ngôi nhà, công việc: chứng minh nếp ăn ở bình dị của Bác và cách Bác đối xử với những người quanh mình.
- Phần (3) – đoạn tiếp theo: giải thích, bình luận về bản chất của lối sống giản dị.
- Phần (4) – đoạn cuối: cách Bác nói và viết mộc mạc, dễ hiểu; sức mạnh của những chân lí giản dị.
Nếu gộp theo kiểu bài nghị luận, có thể chia ba phần: nêu vấn đề (phần 1), giải quyết vấn đề (phần 2, 3), mở rộng và khẳng định (phần 4).
Hệ thống luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng
- Luận điểm chung: ở Bác, cuộc đời chính trị vĩ đại thống nhất với lối sống giản dị, khiêm tốn.
- Luận điểm 1: Bác giản dị trong ăn ở, làm việc – dẫn chứng là bữa ăn, ngôi nhà sàn, thói quen tự làm việc, số người phục vụ ít ỏi.
- Luận điểm 2: giản dị về vật chất đi cùng phong phú về tinh thần – lí lẽ phản bác cách hiểu sai rằng Bác sống khổ hạnh.
- Luận điểm 3: cách Bác nói, Bác viết cũng mộc mạc – dẫn chứng là những câu nói mà người Việt nào cũng thuộc.
Giá trị nội dung
Văn bản làm nổi bật một phẩm chất đáng quý ở Hồ Chủ tịch: Người giản dị từ nếp ăn ở, cách cư xử cho đến lời nói, câu văn. Giản dị ở Bác không tách rời mà gắn liền với tầm vóc một nhà cách mạng, với tâm hồn giàu có và tình thương nhân dân. Qua đó, tác giả bày tỏ lòng kính yêu Bác và nhắc mọi người noi theo lối sống ấy.
Giá trị nghệ thuật
- Luận điểm rõ ràng, sắp xếp chặt chẽ, đi từ khái quát đến cụ thể, từ vật chất đến tinh thần.
- Dẫn chứng chân thực, tiêu biểu, phần lớn do người viết chứng kiến.
- Kết hợp nhuần nhuyễn chứng minh, giải thích và bình luận; có cả thao tác phản bác một cách hiểu sai.
- Lời văn giàu cảm xúc, dùng phép liệt kê, câu cảm thán, giọng văn trang trọng mà gần gũi.
Ý nghĩa nhan đề Đức tính giản dị của Bác Hồ
Nhan đề do người biên soạn đặt, nêu thẳng đối tượng (Bác Hồ) và điều được bàn tới (sự giản dị, được coi như một đức tính). Nhờ vậy, người đọc biết ngay văn bản bàn về điều gì; chữ “đức tính” cho thấy giản dị được coi là một phẩm chất đạo đức, chứ không chỉ là thói quen sinh hoạt.
Sơ đồ tư duy Đức tính giản dị của Bác Hồ

Lời kết
Khi ôn tập Đức tính giản dị của Bác Hồ, em cần nhớ xuất xứ (diễn văn năm 1970 của Phạm Văn Đồng), bốn phần của đoạn trích và các phương diện giản dị của Bác: ăn ở, làm việc, tâm hồn, lời nói và bài viết. Đặt cạnh văn bản của Bác Hồ học trước đó, em sẽ thấy rõ hơn cách văn nghị luận dùng dẫn chứng cụ thể để thuyết phục người đọc.
Xem thêm: