Soạn bài Vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya (Lê Trí Viễn) giúp em trả lời phần chuẩn bị, bốn câu hỏi đọc hiểu và sáu câu hỏi cuối bài ở trang 82 – 86, Bài 9 (Nghị luận văn học), sách Ngữ văn 8 Cánh diều tập hai. Đây là bài bình thơ về bài thơ Cảnh khuya do Hồ Chí Minh sáng tác; muốn nắm chắc bài thơ trước khi soạn, em có thể đọc bài tác giả – tác phẩm Cảnh khuya và các bài phân tích Cảnh khuya.
Tìm hiểu chung về văn bản Vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya
Văn bản là một bài nghị luận văn học: tác giả bàn về cái hay của một bài thơ cụ thể, dẫn từng câu thơ ra để bình giảng. Theo SGK, bài được trích từ cuốn Nhà văn và tác phẩm trong trường phổ thông, sách do NXB Giáo dục ấn hành năm 1997.

Tác giả Lê Trí Viễn
Lê Trí Viễn (1918 – 2012; có tài liệu ghi năm sinh 1919) là nhà nghiên cứu văn học, được phong học hàm giáo sư và danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, có nhiều công trình về văn học Việt Nam và lí luận văn học. Ông gắn bó cả đời với nghề dạy văn, giảng dạy lâu năm ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội rồi Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh; năm 1992, ông tham gia sáng lập Trường THPT dân lập Nguyễn Khuyến tại TP. Hồ Chí Minh. Năm 2012, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ. Lối bình văn của ông giàu cảm xúc, tinh tế, bám sát từng chữ trong tác phẩm.
Bài thơ được bàn luận
Cảnh khuya là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt viết bằng tiếng Việt, ra đời năm 1947 ở chiến khu Việt Bắc, những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Toàn văn bài thơ được Lê Trí Viễn dẫn trong văn bản:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà
Bố cục văn bản
Văn bản được SGK đánh số thành năm phần:
- Phần (1): nêu xuất xứ (bài thơ thuộc chùm thơ Bác viết năm 1947) và dựng lại khung cảnh đêm khuya tĩnh lặng nơi núi rừng.
- Phần (2): bình câu thơ thứ nhất – tiếng suối được ví với tiếng hát xa; so sánh với cách nói về tiếng suối của các nhà thơ khác.
- Phần (3): bình câu thơ thứ hai – bức tranh trăng, cổ thụ, hoa đan lồng vào nhau.
- Phần (4): bình hai câu cuối – con người chưa ngủ, từ tâm hồn nghệ sĩ đến nỗi lo của người chiến sĩ.
- Phần (5): khái quát sự hài hòa, cân bằng giữa các mặt đối lập trong bài thơ và phong cách thơ Hồ Chí Minh.
Soạn bài Vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya – Chuẩn bị (trang 82)
Phần chuẩn bị nêu những điều cần chú ý khi đọc một văn bản nghị luận văn học. Sau khi đọc văn bản, em trả lời được như sau.
Câu 1: Xác định luận đề của văn bản (trang 82)
Vấn đề chính mà văn bản đưa ra để bàn bạc, trao đổi là gì (xác định luận đề)?
Trả lời:
Luận đề của văn bản là vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya: vẻ đẹp của thiên nhiên đêm khuya ở chiến khu và vẻ đẹp tâm hồn Bác Hồ – vừa là nghệ sĩ say cảnh đẹp, vừa là chiến sĩ luôn đau đáu việc nước. Nhan đề văn bản đã nêu thẳng luận đề này.
Câu 2: Những luận điểm được sử dụng trong văn bản (trang 82)
Có những luận điểm nào được sử dụng trong văn bản?
Trả lời:
- Luận điểm 1: Câu thơ đầu đặc sắc ở hình ảnh ví tiếng suối như tiếng hát vọng từ xa, làm tăng vẻ tĩnh lặng, sâu lắng của đêm khuya.
- Luận điểm 2: Câu thơ thứ hai vẽ nên bức tranh trăng – cây – hoa lồng vào nhau, đẹp như tranh thủy mặc, tĩnh mà có hồn.
- Luận điểm 3: Hai câu cuối làm hiện lên con người chưa ngủ – vì say cảnh (nghệ sĩ) và vì lo việc nước (chiến sĩ).
- Luận điểm 4: Bài thơ đạt tới sự hài hòa, cân bằng giữa thiên nhiên và con người, nghệ sĩ và chiến sĩ, giản dị và vĩ đại – đó là phong cách thơ Hồ Chí Minh.
Câu 3: Luận điểm, lí lẽ, bằng chứng làm sáng rõ luận đề như thế nào? (trang 82)
Các luận điểm, lí lẽ và bằng chứng góp phần làm sáng rõ cho luận đề như thế nào?
Trả lời:
Mỗi luận điểm đi vào một câu (hoặc một cặp câu) thơ, nên gộp lại chúng bao quát toàn bộ vẻ đẹp của bài thơ. Lí lẽ của tác giả giải thích vì sao câu thơ hay (tiếng suối không phá vỡ mà làm sâu thêm sự im lặng; chữ lồng không tạo cử động nào; chưa ngủ khác với không ngủ). Bằng chứng là chính các câu thơ của Bác và những câu thơ, hình ảnh của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Bạch Cư Dị, Thế Lữ, Giả Đảo, Nguyễn Khuyến, Tú Xương được đem ra so sánh. Nhờ sự kết hợp ấy, luận đề “vẻ đẹp của bài thơ” trở nên cụ thể, có sức thuyết phục.
Câu 4: Quan điểm, thái độ của tác giả (trang 82)
Quan điểm, thái độ của tác giả được thể hiện trong văn bản như thế nào?
Trả lời:
Tác giả cho rằng Cảnh khuya là bài thơ đặc sắc, kết tinh phong cách thơ Hồ Chí Minh. Thái độ của ông là say mê, trân trọng và ngưỡng mộ: ông dùng nhiều lời bình giàu cảm xúc (“Đẹp mà có hồn. Tĩnh mà sâu”, “một thế cân bằng tuyệt đỉnh”), khẳng định chỉ Bác mới nói câu thơ cuối một cách tự nhiên, hồn nhiên như thế.
Câu 5: Đọc trước văn bản, tìm hiểu về tác giả Lê Trí Viễn (trang 82)
Đọc trước văn bản Vẻ đẹp của bài thơ “Cảnh khuya”; tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Lê Trí Viễn. Liên hệ với những hiểu biết về bài thơ Cảnh khuya đã học để hiểu thêm văn bản nghị luận này.
Trả lời:
- Lê Trí Viễn quê Quảng Nam, sinh ngày 10/3/1918 (có tài liệu ghi năm 1919), mất ngày 3/2/2012; ông là nhà giáo, nhà nghiên cứu, có nhiều công trình về văn học trung đại và lí luận văn học, năm 2012 được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
- Về bài thơ đã học: Cảnh khuya được Bác viết năm 1947 tại chiến khu Việt Bắc, thể thất ngôn tứ tuyệt; hai câu đầu tả cảnh rừng đêm trăng, hai câu sau nói về người chưa ngủ vì lo việc nước. Nhớ lại nội dung này, em sẽ dễ theo dõi lời bình của Lê Trí Viễn hơn.
Soạn bài Vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya – Câu hỏi trong khi đọc (trang 83 – 85)
Bốn câu hỏi bên lề giúp em theo dõi cách tác giả bình từng phần của bài thơ.
Câu 1: Tác giả đã giới thiệu bài thơ bằng cách nào? (trang 83)
Trả lời:
Tác giả mở đầu rất gọn, chỉ một câu nêu nguồn gốc bài thơ: Cảnh khuya thuộc chùm thơ Bác viết năm 1947. Sau đó, ông không đi ngay vào câu chữ mà dựng lại khung cảnh đêm khuya ở núi rừng – trăng sáng, gió lặng, vạn vật chìm trong yên tĩnh – để người đọc bước vào không khí của bài thơ, chuẩn bị đón nhận âm thanh tiếng suối.
Câu 2: Yếu tố nghệ thuật nào trong câu thơ đầu được đặc biệt quan tâm? (trang 83)
Yếu tố nghệ thuật nào trong câu thơ đầu được tác giả đặc biệt quan tâm khi phân tích?
Trả lời:
Tác giả đặc biệt chú ý phép so sánh giữa tiếng suối và tiếng hát xa. Ông chỉ ra rằng câu thơ có hai âm thanh nhưng không làm mất đi sự im lặng của đêm mà còn làm nó sâu thêm (lối lấy động tả tĩnh); tiếng suối được người hóa thành giọng hát, cho thấy một trí tưởng tượng đẹp, xứng với tâm hồn thi sĩ. Ông còn đặt hình ảnh này bên cạnh cách nói về tiếng suối, tiếng đàn của các nhà thơ khác để làm nổi bật nét riêng của Bác.
Câu 3: Tác giả cảm nhận vẻ đẹp của câu thơ chủ yếu bằng cách nào? (trang 84)
Trả lời:
Với câu thơ thứ hai, tác giả cảm nhận chủ yếu bằng trí tưởng tượng và sự quan sát tỉ mỉ: ông hình dung ánh trăng phủ lên tán cổ thụ, tán lá chia ánh sáng thành từng mảng sáng tối, rồi cả hai lớp bóng ấy lại phủ lên khóm hoa và in xuống mặt đất. Từ việc “dựng lại” bức tranh ấy, ông khám phá ý nghĩa của điệp từ lồng: mọi vật đứng yên nhưng đan quyện vào nhau, tạo nên một bức tranh thủy mặc tĩnh mà ấm áp, có hồn.
Câu 4: Tác giả đã nhấn mạnh điều gì ở phần (5)? (trang 85)
Trả lời:
Ở phần (5), tác giả nhấn mạnh sự hài hòa tuyệt đối của bài thơ: các cặp đối lập như cảnh và người, cái đẹp và nỗi lo, tâm hồn nghệ sĩ và bản lĩnh chiến sĩ, chất lãng mạn và chất hiện thực, sự giản dị và tầm vóc vĩ đại đều hòa quyện, tạo nên “một thế cân bằng tuyệt đỉnh”. Ông cho rằng giữ được sự cân bằng ấy giữa lúc kháng chiến gian nan là phẩm chất của người cách mạng, và đó cũng là dấu ấn phong cách thơ Hồ Chí Minh.
Soạn bài Vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya – Câu hỏi sau khi đọc (trang 86)
Sáu câu hỏi cuối bài giúp em nhận diện luận đề, trình tự lập luận và cách bình thơ của tác giả.
Câu 1: Văn bản bàn về vấn đề gì? Dựa vào đâu để nhận ra nhanh nhất? (trang 86)
Văn bản Vẻ đẹp của bài thơ “Cảnh khuya” bàn về vấn đề gì? Em dựa vào đâu để nhận ra nhanh nhất điều này?
Trả lời:
Đối tượng được bàn là vẻ đẹp của bài thơ Cảnh khuya – cái đẹp của cảnh thiên nhiên đêm khuya và của tâm hồn nhà thơ. Cách nhận ra nhanh nhất là đọc nhan đề: nhan đề nêu trực tiếp luận đề. Ngoài ra, câu mở đầu ở phần (1) cũng cho biết ngay đối tượng được bàn là bài thơ Bác viết năm 1947.
Câu 2: Bài thơ được phân tích theo trình tự nào? Tác dụng? (trang 86)
Bài thơ Cảnh khuya được tác giả Lê Trí Viễn phân tích theo trình tự nào? Nêu tác dụng của việc phân tích theo trình tự đó.
Trả lời:
- Trình tự: phân tích lần lượt theo bố cục bài thơ – câu thứ nhất (âm thanh) → câu thứ hai (hình ảnh) → hai câu cuối (con người) → khái quát vẻ đẹp chung.
- Tác dụng: người đọc dễ theo dõi, đối chiếu từng lời bình với từng câu thơ; mạch phân tích đi theo đúng mạch cảm xúc của bài thơ, từ cảnh đến người, từ tĩnh lặng đến chiều sâu suy tư; nhờ vậy, kết luận ở phần cuối có cơ sở vững chắc.
Câu 3: Nội dung từng phần, ví dụ về lí lẽ – bằng chứng, thái độ tác giả (trang 86)
Đọc kĩ các phần của văn bản và thực hiện những yêu cầu sau:
a. Xác định nội dung chính của mỗi phần. Tính lô gích giữa các phần được thể hiện như thế nào?
b. Chỉ ra một ví dụ thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa nội dung chính của một phần với lí lẽ, bằng chứng được sử dụng trong đó.
c. Nêu một điểm chung về thái độ, quan điểm của tác giả thể hiện ở các phần trong văn bản.
Trả lời:
a.
| Phần | Nội dung chính |
|---|---|
| (1) | Giới thiệu bài thơ và không gian đêm khuya tĩnh lặng |
| (2) | Cái hay của câu đầu: tiếng suối như tiếng hát xa |
| (3) | Cái hay của câu hai: bức tranh trăng, cây, hoa lồng vào nhau |
| (4) | Cái hay của hai câu cuối: người chưa ngủ vì cảnh và vì nước |
| (5) | Sự hài hòa, cân bằng của bài thơ; phong cách thơ Hồ Chí Minh |
Tính lô gích: phần (1) mở vấn đề; các phần (2), (3), (4) đi lần lượt theo thứ tự câu thơ, phần sau nối tiếp phần trước (âm thanh → hình ảnh → con người); phần (5) tổng hợp, nâng lên thành nhận xét khái quát. Tất cả cùng hướng về luận đề.
b. Ví dụ ở phần (4): nội dung chính là vẻ đẹp con người chưa ngủ. Lí lẽ: tác giả phân biệt chưa ngủ với không ngủ, không ngủ được, để thấy nhân vật trữ tình hoàn toàn chủ động, thư thái; chỉ ra hai lần chưa ngủ mang hai lí do – vì say cảnh (nghệ sĩ) và vì lo nước (chiến sĩ). Bằng chứng: hai câu thơ cuối của Bác, đặt cạnh câu thơ của Nguyễn Trãi và Tú Xương cũng nói về những đêm thao thức vì thời thế, để thấy cách nói tự nhiên, giản dị của Bác. Lí lẽ và bằng chứng đều phục vụ đúng nội dung chính của phần.
c. Điểm chung: ở phần nào tác giả cũng thể hiện sự trân trọng, khâm phục tài thơ và nhân cách Hồ Chí Minh; ông luôn bình bằng cảm xúc chân thành, tìm ra cái hay trong từng chữ và khẳng định nét riêng không lẫn của Bác.
Câu 4: Dẫn ra một đoạn văn phân tích yếu tố nghệ thuật để làm nổi bật nội dung (trang 86)
Hãy dẫn ra một đoạn văn cho thấy tác giả đã phân tích các yếu tố nghệ thuật để làm nổi bật nội dung của bài thơ.
Trả lời:
Có thể chọn đoạn ở phần (2) bắt đầu bằng câu: “Câu thơ vang lên những hai thứ tiếng: tiếng suối và tiếng hát.” Trong đoạn này, tác giả phân tích phép so sánh (tiếng suối – tiếng hát) và thủ pháp lấy âm thanh để gợi sự yên tĩnh. Ông nêu giả định cái im lặng sẽ bị phá vỡ rồi bác bỏ ngay, đối chiếu với tiếng gõ cửa trong thơ Giả Đảo và tiếng ngỗng trong thơ Nguyễn Khuyến. Qua đó, nội dung của câu thơ được làm nổi bật: đêm rừng Việt Bắc vô cùng tĩnh mịch, sâu lắng, và người nghe là một tâm hồn tinh tế.
Câu 5: Tác dụng của cách bình luận bằng so sánh trong phần (2) (trang 86)
Một trong những cách bình luận thơ là so sánh sự thể hiện của tác giả này với tác giả khác về cùng một vấn đề. Em hãy nêu nhận xét về tác dụng của cách bình luận đó trong phần (2) văn bản Vẻ đẹp của bài thơ “Cảnh khuya”.
Trả lời:
Trong phần (2), Lê Trí Viễn đặt câu thơ của Bác cạnh cách miêu tả âm thanh của nhiều nhà thơ: Nguyễn Du, Bạch Cư Dị lấy tiếng suối để tả tiếng đàn; Thế Lữ ví tiếng hát với nước ngọc tuyền; Nguyễn Trãi ví tiếng suối như tiếng đàn cầm. Cách so sánh này có tác dụng:
- Làm nổi bật nét mới, nét riêng của Bác: các tác giả kia không tả trực tiếp tiếng suối hoặc ví nó với tiếng đàn, còn Bác ví tiếng suối với tiếng hát – một âm thanh mang hơi ấm con người.
- Cho thấy bài thơ vừa tiếp nối truyền thống thơ ca phương Đông, vừa có sáng tạo; đặc biệt, sự gần gũi với hình ảnh của Nguyễn Trãi gợi mối đồng điệu giữa hai tâm hồn lớn.
- Làm lời bình thêm sâu, thêm thuyết phục và mở rộng hiểu biết văn học cho người đọc.
Câu 6: Cảm nhận về bài thơ trước và sau khi học văn bản (trang 86)
Trước và sau khi học văn bản nghị luận này, cảm nhận của em về bài thơ Cảnh khuya có gì khác nhau? Chỉ ra nguyên nhân tạo nên sự khác biệt ấy.
Trả lời:
Trước khi học, em chủ yếu thấy Cảnh khuya là một bài thơ tả cảnh đêm trăng đẹp và biết Bác thức khuya vì lo việc nước; em chưa để ý nhiều đến từng chữ. Sau khi học, em hiểu vì sao tiếng suối lại làm đêm thêm tĩnh, vì sao chữ lồng được lặp lại, vì sao Bác dùng chữ chưa ngủ mà không dùng không ngủ, và cảm nhận rõ hơn sự hòa quyện giữa tâm hồn nghệ sĩ và bản lĩnh chiến sĩ trong một con người.
Sự khác biệt ấy có được nhờ cách bình của Lê Trí Viễn: ông phân tích kĩ từng câu, từng từ; dùng trí tưởng tượng để dựng lại bức tranh trong thơ; so sánh với thơ của nhiều tác giả khác; và đặt bài thơ vào hoàn cảnh kháng chiến năm 1947 để thấy hết tầm vóc con người Bác.
Kết luận
Bài viết của Lê Trí Viễn là mẫu mực về cách viết một bài nghị luận văn học: luận đề rõ ngay từ nhan đề, các luận điểm đi theo trình tự bài thơ, lí lẽ sắc sảo và bằng chứng phong phú, giọng văn giàu cảm xúc. Học bài này, em vừa hiểu sâu hơn tác phẩm Cảnh khuya, vừa học được cách bình một bài thơ cho bài viết của mình.
Xem thêm:
- Tác giả – tác phẩm: Cảnh khuya
- Phân tích bài thơ Cảnh khuya – tuyển chọn bài văn mẫu
- Soạn bài Chiều sâu của truyện “Lão Hạc” (Văn Giá) – Ngữ văn 8 Cánh diều
- Mở bài Cảnh khuya (Hồ Chí Minh) hay nhất – 13 mẫu trực tiếp, gián tiếp, theo đề
- Kết bài Cảnh khuya (Hồ Chí Minh) hay nhất – 12 mẫu ngắn gọn, liên hệ, theo đề
- Soạn bài Cảnh khuya (Hồ Chí Minh) – Ngữ văn 8 Cánh diều & 12 Kết nối tri thức