Bả chó là thức ăn đã tẩm thuốc độc, dùng làm mồi để lừa con chó ăn phải và chết. Hỏi “bả là gì” thì nghĩa gốc của chữ bả chính là thế: mồi có độc dành cho thú vật nhỏ, như bả chuột, bả chó. Từ nghĩa ấy, tiếng Việt còn dùng bả theo lối ví von để chỉ thứ cám dỗ làm người ta mê muội, sa ngã.
| Nghĩa ngắn | Mồi tẩm thuốc độc để giết chó |
| Loại từ | Cụm danh từ (bả + tên con vật); “đánh bả” là động từ |
| Nghĩa bóng của “bả” | Cái cám dỗ khiến người ta mất tỉnh táo: bả vinh hoa, mắc bả |
| Sắc thái | Tiêu cực, gắn với chuyện trộm chó và nguy hiểm cho trẻ nhỏ |

Bả chó và các nét nghĩa của chữ bả
Từ điển tiếng Việt ghi chữ bả là danh từ, nghĩa thứ nhất là thức ăn có thuốc độc làm mồi để lừa giết thú vật nhỏ. Hai ví dụ đi kèm quen đến mức thành cụm cố định: bả chuột, đánh bả chó. “Đánh bả” là đặt mồi độc ra cho con vật ăn.
Nghĩa thứ hai là nghĩa bóng: cái có sức cám dỗ, mê hoặc, khiến người ta không còn tỉnh táo và có khi mắc lừa. Người nói “ăn phải bả” hay “dính bả” là muốn chê ai đó đã bị một lời hứa, một món lợi lôi kéo. Đây là kiểu chuyển nghĩa dựa trên điểm giống nhau, đúng cách mà phép ẩn dụ trong tiếng Việt vẫn làm.
Chữ bả còn vài nghĩa không dính gì tới mồi độc, nên nhiều người đọc thấy lạ. Đây là trường hợp một từ có nhiều nét nghĩa và cả từ đồng âm:
- Bả là sợi xe bằng tơ hay gai, dùng buộc diều, đan lưới.
- Bả (phương ngữ Nam Bộ, khẩu ngữ) là “bà ấy”: Bả mới đi chợ về.
- Bả (động từ) là trát một lớp chất kết dính cho kín, cho phẳng: bả mastic trước khi sơn tường.
Vậy nên khi thợ sơn nói “bả tường”, hay bà con miền Tây nói “bả dặn rồi”, chẳng ai nghĩ tới con chó cả. Chỉ khi chữ bả đứng cạnh tên một con vật thì nó mới mang nghĩa mồi độc.
Vì sao bả chó nguy hiểm cả với con người?
Bả chó gắn chặt với nạn trộm chó ở nông thôn. Kẻ gian ném mồi tẩm độc vào sân, chờ con vật ăn rồi bắt đi. Báo chí từng đưa tin các nhóm dùng thức ăn tẩm chất cực độc để bắt chó, mèo; nhiều vụ đã bị khởi tố, và khi khám xét, công an thu được bả chó cùng các dụng cụ trộm khác.
Điều đáng sợ hơn là thứ mồi ấy không biết phân biệt chó với người. Có loại bả được làm giống cây kẹo mút, gói trong túi nilon. Tuổi Trẻ từng đưa tin những em bé tử vong sau khi nhặt phải loại bả như thế trước cửa nhà. Vì vậy, vài điều nên nhớ:
- Dặn trẻ không nhặt, không ăn bất cứ thứ gì lạ rơi ngoài sân, ngoài ngõ.
- Thấy vật nghi là bả thì không cầm tay không, báo người lớn và chính quyền địa phương.
- Nghi người hoặc trẻ đã ăn phải: đưa ngay tới cơ sở y tế gần nhất hoặc gọi 115, mang theo mẫu vật nếu có, để bác sĩ xử lý. Vật nuôi ăn phải thì tìm bác sĩ thú y.
Bả vinh hoa trong Cung oán ngâm khúc
Nghĩa bóng của chữ bả có tuổi đời khá lâu trong văn chương. Trong Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều viết:
Mồi phú quý dử làng xa mã,
Bả vinh hoa lừa gã công khanh.
Hai câu đặt mồi và bả song song. Phú quý là cái mồi nhử những kẻ ngồi xe đi ngựa; vinh hoa là miếng bả lừa bậc công khanh. Người cung nữ nhìn danh lợi như thứ thức ăn tẩm độc: trông thì hấp dẫn, nuốt vào rồi mới biết mình đã mắc. Bản Wikisource ghi lại vài dị bản, có bản chép “nhử” thay cho “dử”, nghĩa không đổi. Muốn đọc thêm về tác phẩm này, xem bài tác giả, tác phẩm Nỗi sầu oán của người cung nữ.
Về sau, “bả vinh hoa” thành một cụm hay gặp trong văn chính luận, dùng để chỉ những bổng lộc, chức tước làm con người quên mất chí hướng.
Bả, mồi, thuốc độc: chữ nào dùng lúc nào
| Từ | Nghĩa chính | Khác bả ở chỗ |
|---|---|---|
| Mồi | Thức ăn dùng để nhử con vật | Không nhất thiết có độc: mồi câu cá, mồi bẫy chim |
| Thuốc độc | Chất gây hại hoặc gây chết cho cơ thể sống | Chỉ bản thân chất độc, chưa trộn vào thức ăn |
| Cám dỗ | Lôi kéo người ta làm điều không nên | Là nghĩa bóng; “bả” mạnh hơn, hàm ý đã mắc thì khó thoát |
| Cạm bẫy | Bẫy giăng sẵn để lừa | Nhấn vào sự sắp đặt; “bả” nhấn vào món ngon đem ra nhử |
Một cặp dễ nhớ: mồi có thể vô hại, còn bả lúc nào cũng có độc. Chẳng ai nói “bả câu cá”, nhưng nói “mồi phú quý” hay “bả vinh hoa” thì đều được.
Mấy điều hay hỏi quanh chữ bả
Bả là gì?
Bả là thức ăn có thuốc độc dùng làm mồi để giết thú vật nhỏ như chuột, chó. Nghĩa bóng của bả là cái cám dỗ khiến người ta mê muội. Ngoài ra còn có bả là sợi xe để buộc diều, bả là “bà ấy” trong khẩu ngữ miền Nam và bả là trát vữa, trát mastic.
Đánh bả chó là gì?
Là đặt mồi tẩm độc cho chó ăn để giết hoặc bắt trộm. Đây là việc làm trái pháp luật khi nhằm trộm chó nhà người khác, và có thể gây chết người nếu trẻ em nhặt nhầm.
Bả vinh hoa là gì?
Là sự giàu sang, danh vọng được ví như miếng mồi tẩm độc: ai ham thì sa vào và đánh mất mình. Cụm này có trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều.
Ăn phải bả nghĩa là gì?
Theo nghĩa đen là con vật ăn phải mồi độc. Theo nghĩa bóng, “ăn phải bả” là bị ai đó dụ dỗ, mê hoặc đến mức làm điều dại dột, kiểu như Nó ăn phải bả của đám lừa đảo nên mới dốc hết tiền ra.