Soạn bài Mời trầu giúp các em chuẩn bị tốt văn bản đọc mở đầu Bài 7 – Thơ Đường luật, sách Ngữ văn 8 Cánh diều tập hai. Bài soạn dưới đây trả lời lần lượt phần Chuẩn bị, câu hỏi trong khi đọc và 6 câu hỏi Đọc hiểu (trang 41 – 42), kèm đoạn văn tham khảo.
Văn bản Mời trầu (Hồ Xuân Hương)
Mời trầu là bài thơ Nôm viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật, một trong những bài thơ được truyền tụng rộng rãi nhất của Hồ Xuân Hương. Bài thơ thuộc phạm vi công cộng, được chép dưới đây theo văn bản in trong sách giáo khoa.

Mời trầu
Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,
Này của Xuân Hương mới quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá, bạc như vôi.
(Hồ Xuân Hương)
Một số bản chép khác ghi câu thứ hai là “Này của Xuân Hương đã quệt rồi” hoặc câu thứ ba là “Có phải duyên nhau thời thắm lại”; khi làm bài, các em nên dùng đúng văn bản trong sách giáo khoa.
Một vài từ ngữ cần hiểu:
- Trầu hôi: miếng trầu không thơm, cách nói khiêm nhường về miếng trầu mình mời.
- Quệt: phết vôi lên lá trầu khi têm trầu.
- Thắm: màu đỏ tươi của miếng trầu khi nhai (cau, lá trầu, vôi quyện vào nhau), cũng là hình ảnh tình cảm mặn nồng.
- Xanh như lá, bạc như vôi: thành ngữ chỉ sự lạt lẽo, bạc bẽo, phụ tình.
Chuẩn bị đọc văn bản Mời trầu
Trước khi học, sách yêu cầu các em xem lại phần Kiến thức ngữ văn về thơ Đường luật, đọc trước văn bản và tìm hiểu về nhà thơ Hồ Xuân Hương.
Những điều cần chú ý khi đọc thơ Đường luật
- Xác định bài thơ viết bằng chữ Hán, chữ Nôm hay chữ Quốc ngữ, theo thể nào (thất ngôn bát cú hay tứ tuyệt). Mời trầu là thơ Nôm, thể thất ngôn tứ tuyệt: 4 câu, mỗi câu 7 chữ, gieo vần bằng “ôi” ở cuối câu 1, 2, 4 (hôi – rồi – vôi).
- Tìm chủ đề, bố cục, mối quan hệ giữa các câu thơ (khai – thừa – chuyển – hợp với thơ tứ tuyệt).
- Chú ý không gian, thời gian, hình ảnh và biện pháp nghệ thuật; với thơ dịch từ chữ Hán thì đọc kĩ phần dịch nghĩa.
Thông tin về nhà thơ Hồ Xuân Hương
- Hồ Xuân Hương sống vào khoảng cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX; tiểu sử của bà đến nay còn nhiều điểm các nhà nghiên cứu chưa thống nhất. Theo nhiều tài liệu, quê gốc của bà ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, nhưng bà sống chủ yếu ở Thăng Long, có thời gian ở ngôi nhà gần Hồ Tây gọi là Cổ Nguyệt Đường.
- Đường tình duyên của bà nhiều éo le, từng hai lần làm lẽ. Chính những trải nghiệm ấy khiến thơ bà thấm thía thân phận người phụ nữ.
- Hiện còn khoảng hơn 50 bài thơ Nôm được truyền tụng là của Hồ Xuân Hương. Thơ bà gắn với phong tục, lễ hội, đời sống thường ngày; đề cao vẻ đẹp và khát vọng hạnh phúc của người phụ nữ; ngôn ngữ táo bạo, đậm chất dân gian. Bà được tôn xưng là “Bà chúa thơ Nôm”.
- Năm 2021, UNESCO thông qua việc tham gia kỉ niệm 250 năm năm sinh của Hồ Xuân Hương (1772 – 2022), ghi nhận những đóng góp của bà cho văn hóa.
Tìm hiểu kĩ hơn tại bài tiểu sử Hồ Xuân Hương và phong cách sáng tác của Hồ Xuân Hương.
Đọc hiểu văn bản Mời trầu
Phần Đọc hiểu gồm một lưu ý trong khi đọc và 6 câu hỏi sau khi đọc.
Câu hỏi trong khi đọc (trang 41)
Đề: Chú ý việc vận dụng ca dao, thành ngữ, tục ngữ của tác giả.
Trả lời:
Bài thơ vận dụng nhiều chất liệu dân gian: hình ảnh “quả cau nho nhỏ” gợi những câu ca dao về trầu cau và chuyện lứa đôi; lời mời trầu gợi câu tục ngữ “Miếng trầu là đầu câu chuyện”; câu cuối dùng gần nguyên thành ngữ “xanh như lá, bạc như vôi”.
Câu 1: Xác định thể loại, bố cục và chủ đề của bài thơ (trang 41)
Trả lời:
- Thể loại: thơ Nôm Đường luật, thể thất ngôn tứ tuyệt (4 câu, 7 chữ, gieo vần bằng ở cuối câu 1, 2, 4).
- Bố cục: có thể chia theo kết cấu khai – thừa – chuyển – hợp (mỗi câu một phần), hoặc gộp thành hai phần: hai câu đầu là lời mời trầu, giới thiệu miếng trầu và người mời; hai câu sau là lời nhắn gửi về duyên tình.
- Chủ đề: mượn tục mời trầu để bày tỏ khát vọng về một tình yêu chân thành, trọn vẹn, đồng thời lên tiếng trước sự bạc bẽo, hờ hững trong tình cảm.
Câu 2: Bài thơ gắn với phong tục gì của người Việt? (trang 41)
Đề đầy đủ: Bài thơ gắn với phong tục gì của người Việt? Nội dung phong tục ấy được thể hiện như thế nào trong tác phẩm này?
Trả lời:
- Bài thơ gắn với tục ăn trầu, mời trầu – nét đẹp lâu đời của người Việt. Trầu cau có mặt khi tiếp khách, trong lễ hỏi, lễ cưới; “miếng trầu là đầu câu chuyện”, mời trầu và nhận trầu còn là cách bày tỏ, đón nhận tình cảm.
- Phong tục ấy hiện lên qua đủ các “nguyên liệu” và thao tác: quả cau, miếng trầu, việc quệt vôi để têm trầu, màu thắm khi trầu, cau, vôi hòa quyện; còn lá (màu xanh) và vôi (màu bạc) được dùng làm hình ảnh so sánh ở câu cuối.
- Toàn bài là một lời mời trầu, nhưng qua lời mời ấy, người phụ nữ nói chuyện duyên phận của mình.
Câu 3: Nghệ thuật sử dụng ngôn từ của Hồ Xuân Hương (trang 41)
Đề: a. Ở bài Mời trầu có những từ ngữ liên quan đến ca dao, tục ngữ, thành ngữ. Hãy phân tích tác dụng của các yếu tố đó trong việc thể hiện nội dung bài thơ. b. Chỉ ra những từ ngữ được sử dụng mang dấu ấn cá nhân của Hồ Xuân Hương. Những từ ngữ đó đã thể hiện thái độ và tình cảm gì của tác giả?
Trả lời:
a. Các yếu tố dân gian và tác dụng:
- “Quả cau nho nhỏ” gợi lại câu ca dao quen thuộc cũng mở đầu bằng hình ảnh quả cau nhỏ, vốn gắn với chuyện tình duyên; miếng trầu gợi câu tục ngữ “Miếng trầu là đầu câu chuyện”.
- Câu cuối vận dụng thành ngữ “xanh như lá, bạc như vôi”; chữ “thắm” gợi lối nói “đỏ thắm” chỉ tình cảm mặn nồng.
- Tác dụng: tác giả không chép nguyên câu ca dao, thành ngữ mà lấy một phần rồi ghép vào lời thơ của mình. Nhờ vậy lời thơ vừa gần gũi, dễ hiểu với mọi người, vừa nói được những điều tế nhị về tình cảm mà lời lẽ thông thường khó nói; thành ngữ ở câu cuối vừa tả đúng màu lá trầu, màu vôi, vừa ngầm chỉ thói bạc tình.
b. Từ ngữ mang dấu ấn riêng:
- “Này của Xuân Hương”: nhà thơ gọi thẳng tên mình, tự giới thiệu mình là người mời trầu – điều hiếm thấy ở người phụ nữ thời phong kiến. Từ “này” như một cử chỉ đưa tận tay, thân mật, tự tin.
- “Quệt”: động từ dân dã, mạnh, cho thấy sự chủ động, có phần tinh nghịch.
- “Nho nhỏ”, “hôi”: cách nói khiêm nhường về miếng trầu, cũng là về thân phận bé nhỏ của mình.
- “Có phải… thì…”, “Đừng…”: lời nói thẳng thắn, vừa hi vọng vừa răn nhắc.
⇒ Những từ ngữ ấy thể hiện thái độ tự tin, chủ động, dám bày tỏ tình cảm và mong muốn được yêu thương chân thành, đồng thời thấp thoáng nỗi lo âu trước sự phụ bạc.
Câu 4: Những cung bậc cảm xúc trong bài thơ (trang 41)
Đề: Bài Mời trầu thể hiện tâm trạng của tác giả với nhiều cung bậc cảm xúc. Theo em, đó là những cảm xúc gì? Hãy làm sáng tỏ điều đó.
Trả lời:
- Khiêm nhường, chân thật: miếng trầu được giới thiệu là “nho nhỏ”, “hôi” – không phô trương, chỉ là tấm lòng mộc mạc.
- Tự tin, cá tính, có chút hóm hỉnh: câu “Này của Xuân Hương mới quệt rồi” khẳng định mình một cách rõ ràng, tự nhiên.
- Hi vọng, khát khao: “Có phải duyên nhau thì thắm lại” – mong muốn nếu có duyên thì tình cảm sẽ đậm đà, gắn bó.
- Lo âu, trách móc, cảnh tỉnh: “Đừng xanh như lá, bạc như vôi” – vừa khẩn khoản, vừa ngầm chua xót trước những mối tình hờ hững, bạc bẽo.
Chỉ trong bốn câu, cảm xúc chuyển từ nhẹ nhàng, tinh nghịch sang tha thiết rồi trầm lắng, cho thấy một tâm hồn giàu khát vọng nhưng cũng nhiều trải nghiệm.
Câu 5: Viết đoạn văn nêu điều tác giả muốn nói (trang 41)
Đề: Hồ Xuân Hương viết về việc mời trầu nhưng là để nói chuyện tình cảm. Nêu lên điều tác giả muốn nói qua bài thơ này bằng một đoạn văn (khoảng 6 – 8 dòng).
Trả lời (đoạn văn tham khảo):
Mượn một miếng trầu mời khách, Hồ Xuân Hương thực chất đang nói về chuyện duyên phận của chính mình. Miếng trầu “nho nhỏ” là tấm lòng khiêm nhường, còn lời xưng “Xuân Hương” là sự chủ động hiếm thấy của một người phụ nữ dám bày tỏ tình cảm. Nhà thơ mong rằng nếu thật sự có duyên thì tình cảm hãy đậm đà như miếng trầu đỏ thắm, và khẩn khoản nhắn nhủ người nhận đừng hờ hững, bạc bẽo như màu lá, màu vôi. Qua đó, bài thơ nói lên khát vọng về một tình yêu chân thành, trọn vẹn, đồng thời cho thấy nỗi e ngại của người phụ nữ trước thói phụ bạc trong xã hội xưa.
Câu 6: So sánh Mời trầu với bài ca dao về miếng trầu (trang 42)
Đề: Chỉ ra sự giống nhau và khác nhau về thể thơ, đề tài, thái độ của tác giả được thể hiện trong bài thơ Mời trầu của Hồ Xuân Hương với bài ca dao:
Miếng trầu ăn kết làm đôi
Lá trầu là vợ, cau tươi là chồng
Trầu xanh, cau trắng cay nồng
Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên
Trả lời:
| Phương diện | Bài ca dao | Mời trầu (Hồ Xuân Hương) |
| Giống nhau | Cùng lấy miếng trầu (lá trầu, quả cau, vôi) làm hình ảnh trung tâm để nói chuyện tình cảm, duyên nghĩa; cùng dùng ngôn ngữ giản dị, gần gũi. | |
| Thể thơ | Lục bát – thể thơ dân tộc, phổ biến trong ca dao. | Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật viết bằng chữ Nôm. |
| Đề tài | Tình nghĩa vợ chồng đã gắn bó: trầu là vợ, cau là chồng, kết làm đôi. | Tình yêu đôi lứa đang chờ đợi, chưa biết có “phải duyên” hay không. |
| Thái độ | Ngợi ca, tin tưởng vào sự gắn bó; giọng chung của cộng đồng, không mang dấu ấn cá nhân. | Vừa tự tin, chủ động (“Này của Xuân Hương”), vừa khát khao, lo âu, có ý răn nhắc kẻ bạc tình; mang đậm cá tính riêng của tác giả. |
Có thể thấy Hồ Xuân Hương đã học hỏi chất liệu dân gian nhưng biến đổi thành tiếng nói riêng, táo bạo và đầy cá tính.
Kết luận
Qua bài soạn, các em nắm được đặc điểm thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật viết bằng chữ Nôm, thấy cách Hồ Xuân Hương vận dụng tục mời trầu và chất liệu ca dao, thành ngữ để bày tỏ khát vọng tình yêu chân thành. Sơ đồ dưới đây tóm tắt những ý chính cần nhớ.

Xem thêm:
- Tác giả – tác phẩm Mời trầu (Ngữ văn 8 Cánh diều)
- Tuyển tập thơ Hồ Xuân Hương hay nhất
- Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương (cùng Bài 7)
- Soạn bài Qua Đèo Ngang (cùng Bài 7)