Soạn bài Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương giúp em chuẩn bị và trả lời đầy đủ các câu hỏi trong Bài 7 “Thơ Đường luật” sách Ngữ văn 8 Cánh diều (tập 2, trang 42 – 43). Bài thơ còn có nhan đề Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu, được học trong sách Ngữ văn 8 Kết nối tri thức.
Chuẩn bị đọc bài Vịnh khoa thi Hương
Trước khi vào bài, em cần nắm thông tin về tác giả, bối cảnh lịch sử và văn bản bài thơ.

Câu hỏi chuẩn bị (trang 42)
Đọc trước văn bản Vịnh khoa thi Hương; tìm hiểu, ghi chép lại những thông tin về nhà thơ Trần Tế Xương và bối cảnh lịch sử cuối thế kỉ XIX giúp cho việc đọc hiểu bài thơ này.
Trả lời:
Về tác giả:
- Trần Tế Xương (1870 – 1907), thường gọi là Tú Xương, quê làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.
- Ông đi thi nhiều lần nhưng chỉ đỗ tú tài (khoa Giáp Ngọ, 1894); cuộc đời nghèo khó, lận đận.
- Sáng tác gồm khoảng hơn một trăm bài, chủ yếu là thơ Nôm, có hai mảng trào phúng và trữ tình; ông là nhà thơ trào phúng xuất sắc của văn học Việt Nam.
Về bối cảnh lịch sử:
- Cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp hoàn thành việc xâm lược và bắt đầu đặt ách cai trị ở Việt Nam; vua quan nhà Nguyễn chỉ còn hư danh, quyền hành thực tế nằm trong tay người Pháp.
- Nền Hán học suy tàn, thi cử chữ Nho mất dần vị thế; năm 1886, trường thi Hà Nội bị bãi bỏ, sĩ tử phải thi chung ở trường Nam Định.
- Khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1897) ở Nam Định có quan chức Pháp cùng vợ đến dự, khiến kì thi mang tính chất nhố nhăng, nhục nhã.
Văn bản bài thơ:
Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà.
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loa.
Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,
Váy lê quét đất mụ đầm ra.
Nhân tài đất Bắc nào ai đó,
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.
Đọc hiểu văn bản Vịnh khoa thi Hương
Câu hỏi trong khi đọc (trang 42)
Chú ý các chi tiết miêu tả cảnh trường thi với những hình ảnh đối lập và việc sử dụng từ ngữ độc đáo trong bài thơ.
Trả lời:
- Cách tổ chức: trường Nam thi lẫn với trường Hà, gợi sự ô hợp, lộn xộn.
- Hình ảnh đối lập: sĩ tử “lôi thôi”, vai đeo lọ – quan trường “ậm ọe”, miệng thét loa; “lọng cắm rợp trời” đón quan sứ – “váy lê quét đất” của mụ đầm.
- Từ ngữ độc đáo: các từ láy “lôi thôi”, “ậm ọe” đảo lên đầu câu; cách gọi “mụ đầm” mang sắc thái mỉa mai; cụm từ “ngoảnh cổ” vừa thông tục vừa giàu sức gợi.
Trả lời câu hỏi sau khi đọc Vịnh khoa thi Hương
Câu 1: Chủ đề và bố cục bài thơ (trang 43)
Hãy nêu chủ đề và bố cục bài thơ Vịnh khoa thi Hương của Trần Tế Xương.
Trả lời:
Chủ đề: Qua cảnh trường thi lộn xộn, nhếch nhác trong khoa thi Hương năm Đinh Dậu, bài thơ phơi bày sự suy tàn của nền thi cử phong kiến dưới ách thực dân, đồng thời bộc lộ nỗi đau xót, nhục nhã của nhà thơ trước cảnh nước mất và lời thức tỉnh tầng lớp nho sĩ.
Bố cục: 4 phần theo kết cấu thất ngôn bát cú:
- Hai câu đề: giới thiệu kì thi và sự bất thường trong cách tổ chức.
- Hai câu thực: cảnh sĩ tử và quan trường trong trường thi.
- Hai câu luận: cảnh đón rước quan sứ và mụ đầm.
- Hai câu kết: thái độ, tâm sự của nhà thơ trước cảnh nước nhà.
Câu 2: Đối tượng trào phúng và thái độ của tác giả (trang 43)
Xác định các đối tượng trào phúng mà bài thơ hướng tới. Thái độ của tác giả đối với các đối tượng đó được thể hiện như thế nào?
Trả lời:
- Sĩ tử: hiện lên lôi thôi, nhếch nhác, vai đeo lọ nước, mất hết vẻ nho nhã của kẻ sĩ. Tác giả nhìn họ bằng thái độ vừa giễu cợt vừa xót xa, bởi chính ông cũng là một sĩ tử.
- Quan trường: ậm ọe, thét loa, hách dịch mà thiếu uy nghiêm. Thái độ của tác giả là châm biếm, coi thường.
- Quan sứ và mụ đầm: được đón rước linh đình, lọng che rợp trời, váy dài quét đất. Tác giả khinh bỉ, mỉa mai sâu cay qua cách gọi “mụ đầm” và phép đối đặt hai hình ảnh cạnh nhau.
- Nhân tài đất Bắc: tầng lớp trí thức đương thời, kể cả nhà thơ. Thái độ chuyển sang day dứt, chua chát, như lời trách móc và thức tỉnh.
Nhìn chung, tác giả dùng tiếng cười để phê phán, nhưng đằng sau tiếng cười là nỗi đau của người trí thức yêu nước.
Câu 3: Điểm đặc biệt của kì thi qua hai câu đề (trang 43)
Hai câu thơ đề cho thấy kì thi có gì đặc biệt?
Trả lời:
- Câu thứ nhất mang giọng kể bình thường: kì thi vẫn được tổ chức đúng lệ ba năm một lần, cho thấy vẻ ngoài vẫn quy củ.
- Câu thứ hai bộc lộ điều bất thường: “Trường Nam thi lẫn với trường Hà”. Từ “lẫn” gợi sự lộn xộn, chen chúc, không còn phân biệt, cho thấy kì thi đã mất đi sự trang nghiêm vốn có.
- Hai câu đề như lời dự báo về tính chất ô hợp của kì thi, mở đường cho những cảnh tượng nhố nhăng ở các câu sau.
Câu 4: Ý nghĩa trào phúng của phép đối và ngôn từ ở câu thực, câu luận (trang 43)
Phân tích ý nghĩa trào phúng của nghệ thuật sử dụng phép đối, nghệ thuật sử dụng ngôn từ ở hai câu thực và hai câu luận của bài thơ.
Trả lời:
Hai câu thực:
- Phép đối chỉnh: “Lôi thôi sĩ tử” đối với “Ậm ọe quan trường”, “vai đeo lọ” đối với “miệng thét loa”. Hai đối tượng chính của trường thi được đặt cạnh nhau, cùng hiện lên thảm hại.
- Phép đảo ngữ đưa các từ láy “lôi thôi”, “ậm ọe” lên đầu câu, nhấn mạnh dáng vẻ nhếch nhác của người đi thi và cái giọng khàn đục, cố tỏ ra oai vệ của người coi thi.
- Hình ảnh “vai đeo lọ” vừa tả thực, vừa gợi sự tầm thường; “miệng thét loa” cho thấy cảnh ồn ã, thiếu tôn nghiêm.
Hai câu luận:
- Phép đối “Lọng cắm rợp trời” – “Váy lê quét đất”, “quan sứ đến” – “mụ đầm ra” tạo nên hai bức biếm họa đặt cạnh nhau: cái phô trương rợp trời của kẻ cai trị và cái váy dài quét đất của bà vợ, giữa chốn trường thi vốn là nơi trang nghiêm của nhà nho.
- Cách đối “trời” với “đất” làm nổi bật sự lố bịch, nghịch cảnh; cách gọi “mụ đầm” thể hiện thái độ khinh miệt.
- Sự xuất hiện long trọng của quan Pháp trong lễ xướng danh cho thấy kì thi của triều đình đã bị kẻ thù chi phối, đó là nỗi nhục của cả dân tộc.
⇒ Phép đối và ngôn từ giản dị, giàu tính khẩu ngữ đã tạo nên tiếng cười trào phúng sắc sảo, vạch trần sự suy đồi của khoa cử và nỗi nhục mất nước.
Câu 5: Giọng điệu hai câu kết và nỗi lòng của nhà thơ (trang 43)
Xác định sắc thái giọng điệu của tác giả trong hai câu kết. Qua hai câu kết cũng như cả bài thơ, có thể thấy được thái độ và nỗi lòng của Trần Tế Xương trước tình cảnh đất nước như thế nào?
Trả lời:
- Giọng điệu hai câu kết chuyển từ trào phúng sang trữ tình, vừa như câu hỏi, vừa như lời kêu gọi tha thiết, xen lẫn trách móc, chua chát.
- Câu “Nhân tài đất Bắc nào ai đó” hướng tới tầng lớp nho sĩ, những người lẽ ra phải gánh vác việc nước. Câu “Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà” thúc giục họ nhìn lại thực trạng đất nước để thức tỉnh.
- Qua đó, ta thấy Tú Xương đau xót trước cảnh nước mất, nhục nhã vì kẻ thù ngang nhiên chà đạp lên nền văn hóa dân tộc, đồng thời mang trong lòng tình yêu nước và mong muốn đánh thức lương tri của người trí thức, trong đó có chính ông.
Câu 6: Tác dụng của sự kết hợp trào phúng và trữ tình (trang 43)
Theo em, sự kết hợp giữa cảm xúc trào phúng và trữ tình đã giúp nhà thơ thể hiện được điều gì?
Trả lời:
- Cảm xúc trào phúng giúp nhà thơ phơi bày những cảnh khó coi nơi trường thi, phê phán sự suy đồi của khoa cử và sự lố bịch của bọn thực dân.
- Cảm xúc trữ tình giúp nhà thơ bộc lộ trực tiếp nỗi xót xa, hổ thẹn vì đất nước rơi vào tay giặc và lời nhắn gửi tha thiết tới tầng lớp trí thức.
- Sự kết hợp ấy khiến bài thơ vượt lên trên tiếng cười giễu cợt để trở thành tiếng nói của một tấm lòng yêu nước, khiến người đọc vừa cười vừa suy ngẫm, xót xa.
Kết luận
Vịnh khoa thi Hương là bài thơ trào phúng tiêu biểu của Tú Xương, kết hợp tiếng cười sắc sảo với nỗi đau thời thế. Khi soạn bài, em cần nắm vững bố cục bốn phần, các đối tượng trào phúng và tác dụng của phép đối, phép đảo ngữ.
Xem thêm:
- Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương
- Soạn bài Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Kết nối tri thức)
- Mục lục Ngữ văn 8 Cánh diều