Bỏ qua tới nội dung
Thư viện văn học số
Tra chính tả
Lớp mấy?

Nghị luận về vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học – Dàn ý + 10 bài văn mẫu (lớp 11)

Cập nhật 08/10/2026·MMavrick Nguyễn·58 phút đọc·Ngữ văn 11·Bài 3: Truyện
Nội dung chính
  • Yêu cầu của kiểu bài nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
  • Bài văn bàn về con người và tự nhiên (đề Chân trời sáng tạo, Bài 6)
  • Bài văn bàn về những phận người trong truyện (đề Cánh diều, Bài 3)
  • Bài văn đi từ Truyện Kiều và thơ Nguyễn Du (đề Chân trời sáng tạo, Bài 7)

Nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học là kiểu bài Viết học sinh lớp 11 gặp ở hai bộ sách. Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo đặt nó ở Bài 6 Sống với biển rừng bao la (tập hai), rồi mở rộng thêm một lần ở Bài 7 Những điều trông thấy với đề cho phép chọn cả tác phẩm nghệ thuật; Ngữ văn 11 Cánh diều đặt ở Bài 3 (Truyện, tập một). Bạn sẽ tìm thấy ở đây yêu cầu của kiểu bài, một dàn ý khung và 10 bài văn mẫu, bài nào cũng xuất phát từ một văn bản trong sách (Muối của rừng, Kiến và người, Chiều sương, Chữ người tử tù, Chí Phèo, Kép Tư Bền, Tấm lòng người mẹ, Truyện Kiều, Độc Tiểu Thanh kí) để bàn một chuyện có thật của đời sống hôm nay. Những người, quán xá, khu phố được nhắc trong phần liên hệ là tình huống giả định để minh họa.

nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
Nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học – văn mẫu lớp 11

Yêu cầu của kiểu bài nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

Kiểu bài này có hai chân. Chân thứ nhất đứng trong tác phẩm: người viết chỉ ra vấn đề xã hội mà truyện, thơ gợi lên và những chi tiết làm căn cứ. Chân thứ hai đứng ngoài đời: bàn vấn đề ấy ở thời điểm hiện tại, với lí lẽ, bằng chứng và thái độ của mình. Sách Cánh diều nói rõ phần bàn trong đời sống mới là trọng tâm; phần tác phẩm là điểm xuất phát, phải đúng và gọn, đừng để bài viết sa vào bình giảng tác phẩm.

Tiêu chí Bài viết đạt khi
Gọi tên vấn đề Vấn đề hẹp, nói được bằng một câu (vd người ra tù và cánh cửa của cộng đồng), không dừng ở chủ đề chung như tình người, thiên nhiên.
Căn cứ trong tác phẩm Dẫn đúng chi tiết, đúng nhân vật, đúng lời văn; kể lược đủ cho người đọc hiểu vì sao tác phẩm gợi ra vấn đề.
Quan điểm Nói ra ngay phần mở hoặc câu đầu thân bài: ủng hộ, phản đối hay chỉ ủng hộ một phần; giữ nhất quán đến cuối.
Hệ thống lập luận Ít nhất hai luận điểm về đời sống; bằng chứng là trải nghiệm, quan sát, văn bản pháp luật hay sự kiện kiểm chứng được. Tuyệt đối không bịa số liệu hay gán câu nói cho danh nhân.
Ý kiến trái chiều Nêu được một cách nghĩ khác, nhận phần hợp lí của nó rồi mới phản bác.
Đề xuất, bài học Cụ thể, làm được; kết bài quay về tác phẩm hay để lại một câu hỏi cho người đọc.

Ba mục Viết của hai bộ sách giống nhau về kiểu bài nhưng khác ngữ liệu:

Bộ sách Vị trí Đề và điểm nhấn
Chân trời sáng tạo Tập hai, Bài 6 Sống với biển rừng bao la Bàn về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, lấy từ Chiều sương, Muối của rừng hoặc Kiến và người, ba truyện ngắn của bài học. Sách gợi ý đề tài săn bắt thú rừng, cách chung sống với môi trường, mưu sinh trên biển.
Chân trời sáng tạo Tập hai, Bài 7 Những điều trông thấy Vấn đề xã hội gợi ra từ một tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật tùy chọn; văn bản mẫu trong sách bàn về một bức tranh dân gian. Có thể dùng Truyện Kiều và thơ Nguyễn Du vừa học.
Cánh diều Tập một, Bài 3 Truyện Bài viết gồm hai ý: giới thiệu, phân tích vấn đề trong tác phẩm và bàn vấn đề ấy trong đời sống (ý sau là trọng tâm). Bài tập của sách: từ Chí Phèo, bàn về sức mạnh của tình yêu thương giữa con người với con người.
Dàn ý

Dàn ý bài nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

412 từ

1. Mở bài

– Dẫn vào từ một chi tiết trong tác phẩm, một cảnh đời thường, một điều chính người viết thắc mắc.
– Nêu tác phẩm, tác giả và vấn đề xã hội cần bàn; nói luôn quan điểm của mình.

2. Thân bài

a. Vấn đề trong tác phẩm
+ Tóm lược tình huống, nhân vật liên quan đến vấn đề (vài câu, không kể lại cả truyện).
+ Chỉ ra chi tiết then chốt và cách nhà văn đặt vấn đề: phê phán, cảm thông, cảnh báo hay đặt câu hỏi.

b. Vấn đề trong đời sống hôm nay
+ Làm rõ khái niệm (nếu có); vấn đề đang hiện ra thế nào quanh người viết.
+ Nguyên nhân, tác động; mỗi ý cần lí lẽ đi kèm bằng chứng (quan sát, trải nghiệm, quy định pháp luật, sự kiện có nguồn).
+ Ý kiến trái chiều: thừa nhận chỗ hợp lí, chỉ ra chỗ chưa ổn.

c. Đề xuất
+ Cá nhân, gia đình, nhà trường, cộng đồng có thể làm những việc gì, việc nào làm được trước.

3. Kết bài

– Khẳng định lại quan điểm; đánh giá đóng góp của tác phẩm với vấn đề.
– Quay về một hình ảnh trong truyện hoặc để lại một câu hỏi.

Thứ tự trên không cố định. Có bài đặt phần tác phẩm ở đầu thân bài, có bài xen tác phẩm vào từng luận điểm; có bài mở bằng cảnh đời rồi mới gọi tên truyện. Điều không đổi là tỉ lệ: phần tác phẩm chừng một phần ba, phần bàn về đời sống chiếm phần còn lại.

Bài văn bàn về con người và tự nhiên (đề Chân trời sáng tạo, Bài 6)

Mẫu 1

Mẫu 1: Muối của rừng và những con thú trong lồng quán đặc sản

1.049 từ

Viết cho số bản tin tháng này của nhóm học sinh bảo vệ môi trường (quán và các nhân vật là tình huống giả định).

Trên đường về quê ngoại dịp nghỉ lễ, xe nhà tôi dừng ăn trưa ở một quán ven quốc lộ. Tấm biển tôn sơn đỏ kể đủ tên món: nhím, dúi, rắn, chim rừng. Phía sau bếp có mấy cái lồng sắt, một con nhím cuộn tròn nằm im trên nền xi măng ướt. Người lớn trong đoàn bàn nhau gọi một món lạ cho biết. Tôi không ăn, và suốt bữa cứ nghĩ đến ông Diểu trong Muối của rừng mà lớp vừa học.

Truyện của Nguyễn Huy Thiệp kể một chuyến đi săn mùa xuân. Ông Diểu vào rừng, bắn trúng một con khỉ đực. Ông tưởng sẽ vác được chiến lợi phẩm về, nhưng rồi phải nhìn con khỉ cái liều mình mon men lại gần con đực bị thương, nhìn con khỉ con lao ra giật khẩu súng và lăn xuống vực cùng nó. Người thợ săn cuối cùng băng bó cho con khỉ đực, thả nó đi và về nhà tay không, gặp những bông hoa tử huyền trắng mà người ta gọi là muối của rừng. Nhà văn không giảng đạo lí. Ông để một gia đình khỉ dạy con người về tình thân, và để người cầm súng tự thấy mình nhỏ lại.

Ông Diểu còn có lúc dừng tay. Những con thú ở quán kia thì không có may mắn ấy, vì giữa chúng với người ăn là cả một chuỗi người: kẻ đặt bẫy, kẻ gom hàng, xe chở, quán nấu, cuối cùng là thực khách trả tiền. Mỗi người chỉ thấy phần việc nhỏ của mình nên ai cũng tin mình vô can. Người bẫy bảo có người mua mới bẫy, chủ quán bảo khách đòi thì phải có, khách bảo quán nấu sẵn rồi thì ăn một bữa có sao. Vòng tròn ấy khép kín đến mức không ai phải nhìn vào mắt con vật như ông Diểu đã phải nhìn.

Pháp luật đã gọi tên việc này. Bộ luật Hình sự năm 2015 có riêng Điều 244 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm. Săn, nhốt, mua bán những loài trong danh mục bảo vệ vì thế không còn là chuyện ăn cho biết mà có thể dẫn tới phiên tòa. Có điều, luật chỉ chặn được phần nổi. Người ăn hầu như không biết con vật trên đĩa thuộc loài nào, và chính sự mập mờ ấy giúp việc buôn bán sống tiếp.

Có bạn trong câu lạc bộ hỏi: đồng bào miền núi từ xưa vẫn săn bắt để sống, sao giờ lại cấm? Câu hỏi có lí. Nhưng săn để ăn, lấy vừa đủ, theo mùa, khác hẳn săn để bán cho những bàn tiệc ở thành phố, nơi thú rừng là món để khoe hơn là món để no. Ông Diểu cũng không đói. Ông vào rừng vì thú vui và cái tự hào của người có súng. Lòng ham chinh phục ấy, khi được trả bằng tiền, mới là thứ làm rừng trống dần.

Câu lạc bộ mình làm được gì? Tôi nghĩ có ba việc vừa sức. Một, khi đi ăn cùng gia đình, không gọi và không chụp ảnh khoe món thú rừng. Hai, nói với người thân bằng một câu bình tĩnh, kể cho họ nghe về con nhím trong lồng chứ không lên lớp. Ba, khi thấy nơi bày bán con vật nghi là loài được bảo vệ thì báo kiểm lâm hoặc chính quyền địa phương, thay vì đăng lên mạng cho hả giận. Mỗi việc đều nhỏ, nhưng nó cắt bớt một mắt xích ở cuối chuỗi.

Hôm ấy ở quán ven đường, tôi chỉ làm được một việc rất nhỏ là không ăn. Lần sau, tôi muốn đủ lời để nói với bố mẹ vì sao. Rừng hẳn cũng có muối của nó: đó là những lần con người chịu hạ súng xuống.

Mẫu 2

Mẫu 2: Kiến và người – tiếng cười trên nền nhà cháy

940 từ

Có một chi tiết trong Kiến và người của Trần Duy Phiên khiến tôi phải đọc chậm lại. Ba hôm sau cuộc tháo chạy, người bố dẫn con trai quay về chỗ ngôi nhà cũ. Nhà, vườn, rẫy đã cháy thành một bãi tro than. Vậy mà ông đứng trên nền nhà mà cười, cười đến trào nước mắt, như người vừa thắng một trận lớn. Người vợ của ông sau đó cũng mất. Tôi cứ tự hỏi: ông thắng ai?

Truyện được kể bằng lời người con trai lớn xưng cháu. Người bố đưa cả nhà ra vùng ven thị xã, phá rừng dựng nhà, làm rẫy. Được một vụ mùa thì kiến kéo tới. Nhờ người đến diệt không xong, gia đình tự chống đỡ: bịt từng kẽ hở, chèn giẻ, ngủ trong mùng. Kiến vẫn tràn vào giếng, vào nhà, đuổi gà heo chạy tán loạn. Cuối cùng người bố tẩm dầu, châm lửa vào mái tranh và đống rơm rồi dẫn vợ con chạy ra quốc lộ. Lửa diệt được kiến, và diệt luôn mọi thứ gia đình gây dựng.

Tiếng cười kia cho thấy đến phút cuối người bố vẫn nghĩ bằng ngôn ngữ chiến tranh. Với ông, đàn kiến là kẻ thù, khu vườn là trận địa, đốt sạch là chiến thắng. Ông chưa từng hỏi vì sao kiến đến. Người con thì nhìn ra điều ấy: anh ví việc bố làm như đào một con sông chảy ngược vào núi, sai từ đầu nên càng gắng càng sai. Mảnh đất kia là nhà của kiến trước khi thành nhà của người. Vì thế truyện không kể chuyện con người bị trời phạt. Nó kể chuyện một người lấn vào chỗ ở của sinh vật khác, bị chống trả thì leo thang, cho đến khi tự tay đốt nhà mình.

Đọc xong, tôi nghĩ đến những chuyện rất gần. Khu dân cư mới cạnh trường tôi (tình huống giả định) được làm bằng cách san một quả đồi thấp và lấp mấy cái ao. Mùa mưa năm sau, rắn và chuột bò vào các ngôi nhà mới xây; nhà nào cũng than, ít ai nhắc rằng chúng vừa mất chỗ ở. Bác Lự hàng xóm thấy ong làm tổ dưới mái hiên liền phun thuốc cả tổ, hôm sau xác ong rơi đầy sân, lũ trẻ đi chân đất bị đốt sưng chân. Chuyện nhỏ, nhưng cùng một lối nghĩ với người bố trong truyện: thấy sinh vật khác là thấy mối đe dọa phải xóa đi, không nghĩ đến cách nhờ người chuyển tổ ong đi nơi khác.

Nói thế không có nghĩa con người phải nhường hết. Người ta vẫn phải dựng nhà, làm rẫy, phải trừ mối mọt để giữ cái cột, cái kèo. Điều truyện cảnh báo không phải chuyện con người sống trên đất, mà là cách sống trên đất như thể chỉ có mình. Người mẹ trong truyện hiểu điều ấy sớm nhất. Khi chồng châm lửa vào mái nhà, bà xông lại níu tay ông. Tiếng nói chậm và mềm ấy bị gạt đi, cũng như ngoài đời, lời khuyên khảo sát kĩ trước khi san lấp, khai phá thường bị coi là làm chậm việc.

Truyện khép lại bằng nhận xét buồn của người con: người bố sẽ hóa điên khi nhận ra sai lầm của mình. Tôi mong chúng ta không phải đợi đến lúc đứng trên tro than mới nhận ra. Trước mỗi lần chặt, lấp, phun, đốt, có lẽ chỉ cần hỏi một câu mà người bố chưa bao giờ hỏi: ai đã sống ở đây trước mình?

Mẫu 3

Mẫu 3: Chiều sương và bàn tay vớt người giữa biển (bài ngắn)

785 từ

Chiều sương của Bùi Hiển khép lại bằng hai câu rất lặng: vợ những người bạn chài đã chết vẫn sống trong góa bụa, và hi vọng chồng trở về của họ đã tắt từ lâu. Đọc đến đó, tôi lật lại đoạn giữa truyện, nơi có một người đã không phải để vợ mình chờ như thế.

Truyện là lời lão Nhiệm Bình kể cho chàng trai trẻ về một chuyến biển khi lão còn trẻ, làm chú trai cho thuyền của ông Phó Nhụy. Thuyền gặp bão, phải chặt dây neo, thả cánh buồm xuống nước cho bớt trôi. Hừng sáng, trong màn sương dày, chú trai thấy một vật trôi lềnh bềnh. Một bác dùng sào khều lại: người thật, tay còn cắp chặt mái chèo. Cả thuyền xúm vào hà hơi cho anh. Người ấy tên Hoe Chước; trên chiếc thuyền ông Xin Kính vỡ vào núi đá, chỉ mình anh còn sống.

Những người vừa thoát chết sau một đêm bão, mệt đến tê dại, vẫn không ai bỏ qua một cái bóng nổi trên mặt nước. Đó là luật bất thành văn của người đi biển: gặp người gặp nạn thì cứu, chưa cần hỏi họ là ai, thuyền nào. Họ hiểu biển dữ đến đâu, hiểu hôm nay mình vớt người thì có ngày người vớt mình. Lòng tốt ở đây không có lời nào hoa mĩ; nó là phản xạ.

Chi tiết chiếc thuyền lạ càng làm điều ấy rõ hơn. Giữa sương mù, thuyền nhà ông Xin Kính lặng lẽ đi trước như dẫn đường, đến khi người còn sống được vớt lên thì biến mất. Lão Nhiệm Bình kể chuyện ấy bình thản như kể chuyện người trên dương gian. Trong cách nghĩ của dân chài, người đã chết ngoài khơi vẫn thương bạn đồng nghề, vẫn muốn đưa người sống về bờ. Tin hay không tin chuyện ma, ta vẫn thấy ở đó tình nghĩa của một cộng đồng sống nhờ biển và chết cũng vì biển, một tình nghĩa mà cái chết không cắt đứt.

Trên bờ, phản xạ ấy hay bị đem ra cân: sợ phiền, sợ dính líu, sợ mất thời gian, sợ người kia không xứng. Tôi nghĩ cách sống của những người trên thuyền ông Phó Nhụy vẫn đáng học với cả người chưa từng ra khơi. Khi ai đó đang chìm, trong nước hay trong một cơn khủng hoảng, việc đầu tiên là đưa tay ra; tính toán để sau. Ở lớp tôi, khi một bạn nghỉ học dài ngày vì nhà có tang (tình huống giả định), người đầu tiên mang vở đến chép bài giúp không phải bạn thân nhất mà là bạn ngồi bàn bên, chẳng ai bảo.

Có thể chiếc thuyền ma chỉ là hình bóng của nỗi sợ hiện lên trong sương. Nhưng người được vớt lên là thật, và những bàn tay đã kéo anh khỏi mặt nước cũng thật.

Bài văn bàn về những phận người trong truyện (đề Cánh diều, Bài 3)

Mẫu 4

Mẫu 4: Từ Chí Phèo, nghĩ về con đường trở lại của người mãn hạn tù

1.382 từ

Đề: Từ truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, hãy bàn về cách xã hội đón nhận những người lầm lỡ trở về. (Bài làm trong 90 phút)

Mỗi năm có những người chấp hành xong án tù và trở về nhà. Họ mang theo giấy tờ của trại giam và một câu hỏi không ai trả lời hộ: liệu có ai chịu tin mình lần nữa? Hơn tám mươi năm trước, Nam Cao đã đặt câu hỏi ấy vào cuộc đời Chí Phèo. Theo tôi, cách một cộng đồng đón người lầm lỡ quay về là phép thử cả lòng nhân ái lẫn sự tỉnh táo của cộng đồng ấy; đóng sập cửa với họ không làm làng xóm an toàn hơn mà chỉ đẩy họ về đúng con đường cũ.

Chí Phèo in năm 1941, lần đầu nhà xuất bản tự đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi. Chí vốn là anh canh điền hiền lành của nhà lí Kiến. Rồi theo lời đồn trong làng, vì một cơn ghen của lí Kiến, anh bị giải lên huyện và đi tù. Bảy, tám năm sau, Chí trở về với cái đầu trọc, hình xăm kín ngực, rạch mặt ăn vạ và làm tay sai đâm thuê chém mướn cho chính lí Kiến, nay đã thành cụ bá. Nhà tù không sửa được Chí; nó chỉ trả về làng một con người đã bị bẻ gãy.

Nhưng Nam Cao không dừng ở đó. Sau cái đêm được Thị Nở nấu cho ăn cháo hành, Chí tỉnh dậy trong cơn hết say, lắng nghe tiếng chim và tiếng người đi chợ, và nhà văn viết rằng “hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao!” Chí trông vào Thị Nở như cây cầu đưa mình về với làng. Cây cầu ấy gãy ngay hôm sau, khi bà cô Thị Nở cấm cháu lấy một thằng chỉ biết rạch mặt ăn vạ. Chí tìm đến nhà Bá Kiến, gào lên “Tao muốn làm người lương thiện!”, rồi tự trả lời bằng câu hỏi nổi tiếng: ai cho tao lương thiện? Hắn đâm chết Bá Kiến và tự sát. Bi kịch của Chí không nằm ở chỗ hắn không muốn đổi thay, mà ở chỗ không một cánh cửa nào chịu mở khi hắn muốn.

Hôm nay, người ra tù không phải đối mặt với một bà cô của Thị Nở, nhưng họ gặp những thứ tương tự: lời xì xào, cái nhìn dè chừng, những cuộc phỏng vấn kết thúc ngay khi chuyện cũ bị nhắc đến. Pháp luật đã đi trước một bước. Theo Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 2015, “người được xóa án tích coi như chưa bị kết án”. Song xóa án tích trên giấy chưa phải là xóa nó khỏi ánh nhìn của hàng xóm. Tôi hình dung trường hợp chú Tạo ở đầu một con ngõ (tình huống giả định): ra tù sau ba năm vì đánh nhau gây thương tích, chú xin rửa xe ở ba tiệm, tiệm nào cũng nhận lời rồi đổi ý khi biết chuyện. Nếu không có ông chủ xưởng mộc chịu nhận chú làm phụ, những buổi chiều rảnh rỗi ngồi quán nước rất dễ kéo chú quay lại với đám bạn cũ.

Vì sao cộng đồng khó mở cửa? Một phần vì nỗi sợ có thật: người đã phạm tội có thể phạm lại. Một phần vì thói quen coi tội lỗi là bản chất, như người làng Vũ Đại coi Chí là con quỷ dữ, thấy hắn là tránh. Cái giá của thói quen ấy rơi trở lại cộng đồng: một người không có việc, không có bạn tốt, không ai tin, thì gần như chỉ còn những người sẵn sàng lợi dụng mình, như Bá Kiến từng lợi dụng Chí.

Sẽ có ý kiến cho rằng cộng đồng có quyền tự bảo vệ, nhất là trước người từng phạm tội nghiêm trọng. Tôi đồng ý rằng tin người không đồng nghĩa với nhắm mắt. Giao ngay két tiền cho người vừa mãn hạn tù vì trộm cắp là thiếu thận trọng, với cả hai bên. Nhưng thận trọng là mở cửa có điều kiện: có người bảo lãnh, có thời gian thử việc, có người theo sát lúc đầu; còn từ chối mọi cơ hội chỉ vì quá khứ là một bản án thứ hai không tòa nào tuyên.

Vậy cần làm gì? Gia đình là nơi đón đầu tiên, và một bữa cơm không nhắc chuyện cũ đáng giá hơn mọi lời khuyên. Các tổ chức ở địa phương có thể giới thiệu học nghề, việc làm. Người tuyển dụng nên nhìn tay nghề và thái độ hiện tại. Mỗi người chúng ta, kể cả học sinh, có thể bắt đầu từ cách nói: đừng biến lỗi lầm của ai đó, kể cả một người bạn từng bị kỉ luật, thành biệt danh đi theo họ mãi.

Truyện khép lại khi Thị Nở đưa mắt nhìn xuống bụng, như nghĩ tới một đứa con có thể đang thành hình, rồi chợt hình dung ra cái lò gạch hoang vắng ngoài làng, nơi Chí từng bị bỏ rơi lúc mới lọt lòng. Vòng đời ấy có thể lặp lại nếu làng Vũ Đại không thay đổi. Câu hỏi của Chí Phèo vẫn đang chờ một lời đáp, và lần này, người phải trả lời là chúng ta.

Mẫu 5

Mẫu 5: Chữ người tử tù và chuyện giữ mình giữa chốn lẫn lộn

785 từ

Bài cho chuyên mục Nghề và người của tập san lớp (nhân vật trong phần liên hệ là giả định).

Sau giờ học Chữ người tử tù, một bạn hỏi tôi: viên quản ngục ăn lương triều đình mà lén biệt đãi kẻ tử tù, vậy ông là người tốt hay là người làm sai phận sự? Câu hỏi ấy theo tôi về đến nhà, vì nó không chỉ là chuyện của một nhân vật trong truyện Nguyễn Tuân.

Viên quản ngục sống giữa nhà giam, nơi người ta quen sống bằng sự tàn nhẫn và lừa lọc. Vậy mà khi Huấn Cao bị giải tới, ông lén đối đãi tử tù bằng rượu thịt, chịu cả những lời lạnh lùng, coi thường của người tù mà không giận. Điều ông ao ước là xin được một bức chữ của người nổi danh viết đẹp ấy. Đêm cuối, trong buồng giam tối, Huấn Cao cho chữ, rồi khuyên quản ngục bỏ chỗ ở ấy đi, về quê mà giữ lấy cái thiên lương. Quản ngục vái người tù một vái và xin nhận lời. Nguyễn Tuân ví nhân vật này như một “thanh âm trong trẻo” giữa bản đàn hỗn loạn.

Tôi trả lời bạn rằng ông vừa sai phận sự vừa đúng với lương tâm, và chính chỗ giằng co ấy làm truyện còn nói được với hôm nay. Nhiều nghề vẫn đặt người làm nghề vào một chốn lẫn lộn. Người bán hàng được dặn nói quá công dụng sản phẩm. Người nhân viên được nhờ kí vào biên bản mà mình không chứng kiến. Chị Ngải, chị họ của một bạn cùng lớp, làm kế toán ở một công ty nhỏ và được cấp trên gợi ý làm đẹp chứng từ cho kịp quyết toán. Chị từ chối, chịu bị trừ thưởng quý đó, rồi nửa năm sau xin chuyển việc.

Giữ thiên lương, hiểu theo cách giản dị, là giữ phần tử tế vốn có khi xung quanh coi cái sai là chuyện thường. Huấn Cao chỉ cho quản ngục một lối: rời khỏi nơi ô uế. Đôi khi rời đi là lựa chọn đúng, như chị Ngải đã làm. Nhưng không phải ai cũng rời được ngay; người còn ở lại có thể giữ những ranh giới nhỏ: không kí cái mình không hiểu, ghi lại những yêu cầu bất thường, hỏi đến người có thẩm quyền, tìm một người cùng nghĩ như mình để không phải đứng một mình.

Có người sẽ bảo nước trong quá thì không có cá, ai cũng làm thế cả. Câu nói ấy đúng ở chỗ môi trường có sức kéo rất mạnh. Nhưng nó sai khi biến sức kéo thành lời bào chữa. Quản ngục trong truyện cũng ở giữa một bộ máy mà ai cũng làm thế, vậy mà ông vẫn biết nhận ra cái đẹp và biết cúi đầu trước nó.

Chữ người tử tù không dạy ta phá luật. Nó nhắc ta đừng để nơi mình đang đứng quyết định mình là ai.

Mẫu 6

Mẫu 6: Phăng-tin, những người mẹ làm xa và những đứa trẻ ở lại

1.128 từ

Bài dự thi viết với chủ đề Mẹ và con do Đoàn trường tổ chức.

Sim, bạn ngồi cạnh tôi năm lớp 10 (nhân vật giả định), có một chiếc điện thoại cũ mà bạn chỉ thật sự dùng vào tối thứ Bảy. Đó là giờ mẹ bạn gọi về từ khu công nghiệp cách nhà mấy trăm cây số. Sim ở với bà ngoại từ năm lên sáu. Mỗi tối thứ Bảy, bạn kể chuyện điểm số, chuyện con mèo, chuyện bà đau lưng, và luôn kết bằng câu con ổn, kể cả những tuần không ổn chút nào. Khi đọc Tấm lòng người mẹ, đoạn trích từ tiểu thuyết Những người khốn khổ của Huy-gô, tôi đã nghĩ đến Sim và mẹ bạn.

Phăng-tin là một người mẹ nghèo một mình nuôi con. Để đi làm kiếm sống, chị gửi con gái nhỏ là Cô-dét cho vợ chồng Tê-nác-đi-ê nuôi hộ, tháng tháng gửi tiền về. Bị đuổi khỏi xưởng, chị càng khốn đốn, trong khi những lá thư đòi tiền của vợ chồng chủ quán cứ tới. Nghe nói con không có quần áo ấm, chị bán mái tóc để mua đồ len gửi về, mà món đồ ấy rồi lại về tay Ê-pô-nin, con gái nhà Tê-nác-đi-ê. Nghe nói con ốm, chị bán hai chiếc răng cửa lấy hai đồng vàng. Cuối cùng, chị sa vào con đường nhục nhã nhất của một người đàn bà nghèo. Huy-gô không để người đọc khinh chị. Ông buộc ta nhìn vào những kẻ đã dồn chị đến đó: nơi làm việc đuổi chị, chủ nợ, kẻ nuôi trẻ thuê để moi tiền, và cả đám đông chỉ thấy một người đàn bà sa ngã.

Câu chuyện thế kỉ XIX ấy đặt ra ba vấn đề vẫn còn nguyên. Vấn đề thứ nhất là sự lựa chọn đau đớn của người mẹ nghèo: ở cạnh con thì không đủ tiền nuôi con, đi làm xa để nuôi con thì không được ở cạnh con. Mẹ của Sim chọn như Phăng-tin đã chọn, không phải vì thương con ít hơn ai mà vì đó là cách duy nhất chị thấy. Vấn đề thứ hai là ánh nhìn của xã hội. Người ta dễ nói một người mẹ đi làm xa là bỏ con, dễ gán cho người đàn bà làm mẹ đơn thân những lời khó nghe, mà không mấy ai hỏi chị đã phải gánh những gì. Phăng-tin bị khinh rẻ đúng ở lúc chị đang hi sinh nhiều nhất.

Vấn đề thứ ba là đứa trẻ ở lại. Đứa trẻ ấy cần tiền mẹ gửi, nhưng cần hơn là những người lớn đáng tin ở ngay bên cạnh. Vợ chồng Tê-nác-đi-ê là mặt trái của chuyện gửi con: người nhận chăm đứa trẻ chỉ để kiếm lời. Sim may mắn có bà ngoại thương bạn. Nhưng bà già yếu, không biết dùng mạng, không đọc được tin nhắn của cô chủ nhiệm. Có những đứa trẻ ở lại mà không ai biết các em vừa bị điểm kém, vừa bị bạn bè trêu chọc, hay vừa bị một người lạ trên mạng làm quen.

Có người cho rằng nghèo đến mấy cũng phải giữ con bên mình, gửi con đi là ích kỉ. Tôi hiểu mong muốn ấy, vì trẻ con cần mẹ. Nhưng đòi một người mẹ không có việc ở quê phải ở lại bằng mọi giá là bắt chị chọn giữa đói và xa con. Điều nên hỏi không phải là có nên đi hay không, mà là làm sao để những đứa trẻ ở lại không bị bỏ rơi lần thứ hai.

Theo tôi, mỗi phía đều có phần việc. Gia đình, nếu nhờ ông bà hay họ hàng chăm con, cần nói rõ với nhà trường ai là người liên lạc. Thầy cô chủ nhiệm có thể để ý hơn tới những học sinh sống với ông bà, mời các em ở lại sau giờ học khi thấy các em lặng đi. Chúng ta, những người bạn, có thể là người hỏi han đầu tiên. Và mỗi lần định buông một lời phán xét về người mẹ của ai đó, hãy nhớ tới mái tóc Phăng-tin đã bán đi để con có đồ ấm.

Tối thứ Bảy tuần trước, Sim nói với mẹ một câu mới: con nhớ mẹ. Bạn bảo mẹ im lặng rất lâu ở đầu dây bên kia. Tôi muốn bài viết này là một lời cảm ơn gửi những người mẹ ở xa, và một lời nhắc với những người ở gần: hãy làm người lớn đáng tin của một đứa trẻ nào đó.

Mẫu 7

Mẫu 7: Kép Tư Bền và quyền được buồn của người phải luôn tươi cười

750 từ

Đăng ở chuyên mục Sau giờ đọc trên trang thảo luận của học sinh (tình huống giả định).

Trong nhóm lớp, sau tiết đọc Kép Tư Bền, có bạn gõ một câu hỏi: diễn viên hài có được phép buồn khi đang đứng trên sân khấu không? Nhiều người thả biểu tượng cười. Tôi thì nghĩ đó là câu hỏi nghiêm túc nhất của buổi học.

Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan kể về Tư Bền, một kép hát chuyên vai hài, rất đắt khách. Cha ốm nặng, anh nghỉ diễn để trông. Ông chủ rạp liền đòi món nợ anh đã vay, ép anh lên sân khấu đúng những ngày ấy. Giữa các cảnh, anh nhờ người chạy về xem cha thế nào, nghe tin xấu thì khóc, rồi lại phải ra pha trò, cười to, nhại giọng. Khán giả cười vang và vỗ tay. Buổi diễn kết thúc thì tin cha mất mới tới. Tiếng cười ở đây không vô tội: nó được mua bằng nỗi đau của chính người đang làm người khác cười.

Hôm nay, nghề bán nụ cười đã nhiều hơn hẳn. Người dẫn chương trình tiệc cưới, nhân viên tổng đài chăm sóc khách hàng, người phục vụ quán ăn, người làm nội dung trên mạng: họ đều phải giữ một vẻ mặt vui vì đó là một phần của công việc. Anh Duẫn, người dẫn tiệc cưới mà tôi quen qua chị gái, từng có hôm vừa nhận tin bà nhập viện thì đến giờ lên sân khấu. Anh dẫn trọn buổi tiệc, đứng sau cánh gà mới dám gọi điện về nhà.

Luật pháp hôm nay đã thừa nhận nỗi đau là lí do chính đáng để dừng việc. Theo Điều 115 Bộ luật Lao động năm 2019, khi cha đẻ, mẹ đẻ chết, người lao động được nghỉ ba ngày mà vẫn hưởng nguyên lương. Tư Bền không có quyền ấy. Nhưng nỗi buồn không chỉ đến vào ngày có tang. Áp lực phải tươi cười trong lúc lòng nặng trĩu, kéo dài ngày này qua ngày khác, là một gánh nặng tinh thần ít được gọi tên.

Có người sẽ bảo nghề nào chẳng có cái giá của nó, đã nhận tiền thì phải chuyên nghiệp. Đúng, chuyên nghiệp là giữ được buổi diễn, cuộc gọi, bữa tiệc cho trọn. Nhưng chuyên nghiệp không có nghĩa là xóa đi con người đang làm nghề. Người quản lí có thể bố trí người dự phòng, cho phép đổi ca khi nhà có việc gấp. Còn khách hàng như chúng ta có thể bớt coi nụ cười của người phục vụ là món đã trả tiền.

Câu trả lời của tôi cho bạn trong nhóm lớp: có, họ được phép buồn. Và những người ngồi dưới khán phòng nên nhớ rằng sau tiếng cười của mình có thể là một người đang cố gắng rất nhiều.

Bài văn đi từ Truyện Kiều và thơ Nguyễn Du (đề Chân trời sáng tạo, Bài 7)

Mẫu 8

Mẫu 8: Kiều bán mình chuộc cha – hi sinh vì gia đình đến đâu là đủ?

1.037 từ

Trong buổi thảo luận về Truyện Kiều, Nhất phát biểu rằng Thúy Kiều là tấm gương hiếu thảo mà con cái hôm nay phải học theo. Tôi đồng ý với nửa đầu câu ấy và muốn tranh luận với nửa sau. Học lòng hiếu của Kiều thì nên; coi việc Kiều bán mình là khuôn mẫu cho người con hôm nay thì không.

Hãy bắt đầu từ chính tác phẩm. Gia đình Kiều gặp nạn: cha và em trai bị bắt vì lời vu oan của thằng bán tơ, nhà bị sai nha vơ vét. Kiều quyết bán mình lấy tiền chuộc cha. Khi Vương ông định liều chết, nàng khuyên cha bằng những câu đặt thân mình nhẹ như không: “Vẻ chi một mảnh hồng nhan”, “Tóc tơ chưa chút đền ơn sinh thành”. Trước hôm theo Mã Giám Sinh, nàng gửi lại mối tình với Kim Trọng cho Thúy Vân, mở lời bằng một cử chỉ lạ lùng của người chị: “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”. Một cô gái mười mấy tuổi đã tự gánh cả món nợ của gia đình lẫn món nợ tình của mình.

Phía Nhất có lí ở chỗ: tấm lòng ấy đẹp thật. Kiều không bị ai bắt buộc; nàng tự chọn vì thương cha. Ở đời sống hôm nay vẫn có những người con như thế: anh chị bỏ dở việc học để đi làm nuôi em, người con gái gửi gần hết tiền lương về quê, người con trai về gần cha mẹ già thay vì ở lại thành phố. Những lựa chọn ấy đáng trân trọng, và một xã hội mà con cái không còn biết chia gánh với cha mẹ là một xã hội nghèo đi.

Nhưng đọc kĩ thì Nguyễn Du không ca ngợi việc bán mình như một lí tưởng. Ông đặt nó trong một thế giới mà đồng tiền và quan lại tham nhũng ép một cô gái phải tự định giá chính mình. Nàng trao duyên trong nước mắt, cái lạy dành cho Vân là cái lạy của người biết mình đang mất tất cả. Những năm lưu lạc sau đó không phải phần thưởng của lòng hiếu, mà là cái giá. Kiều đáng thương trước khi đáng học.

Chỗ tôi lo là khi câu chuyện ấy bị dùng như một bài học áp đặt. Có những người con bị đòi hi sinh không phải vì nhà gặp nạn, mà vì người lớn coi đó là bổn phận đương nhiên: bỏ ngành mình thích để học ngành bố mẹ chọn, gánh khoản nợ do người khác gây ra, lấy người mà gia đình thấy có lợi. Khi sự hi sinh không còn là tự nguyện, không có giới hạn và bị lợi dụng, nó không còn là hiếu nữa mà đã thành một kiểu bóc lột tình thân.

Vậy hi sinh vì gia đình đến đâu là đủ? Tôi nghĩ có ba điều để tự kiểm. Một, mình có thật sự được chọn không, hay chỉ được báo trước. Hai, sự hi sinh ấy có giải quyết được việc chính, hay chỉ làm người lớn nhẹ lòng nhất thời. Ba, sau khi hi sinh, mình còn giữ được sức khỏe, việc học, khả năng tự đứng vững không. Một người con có nghề vững vàng, tinh thần khỏe mạnh mới đỡ được cha mẹ lâu dài; một người con kiệt sức thì chỉ thêm một gánh nặng nữa cho chính gia đình mình.

Quyền được sống cho mình, vì thế, không đối lập với lòng hiếu thảo. Nó là điều kiện để lòng hiếu thảo đi được đường dài. Cha mẹ cũng nên đọc lại Kiều như một lời cảnh báo: đừng để con mình phải ở vào thế không còn cách nào khác ngoài tự đem mình ra đổi.

Cuối buổi thảo luận, tôi nói với Nhất: hãy học Kiều ở tấm lòng, đừng học ở hoàn cảnh. Hoàn cảnh ấy, xã hội của chúng ta có bổn phận làm sao để không ai phải gặp lại.

Mẫu 9

Mẫu 9: Đọc Tiểu Thanh kí, nghĩ về cách xã hội đối đãi người tài

944 từ

Bài trình bày tại buổi chuyên đề do nhóm yêu thơ cổ của trường tổ chức.

Nhan đề bài thơ Nguyễn Du viết bằng chữ Hán bắt đầu bằng chữ Độc, nghĩa là đọc. Bài thơ ra đời từ một lần đọc: đọc tập sách chép về Tiểu Thanh, một người con gái đời Minh. Và thứ được đọc chỉ là phần sót lại, vì thơ của nàng đã bị đốt. Tôi muốn bắt đầu buổi chuyên đề từ chi tiết nhỏ ấy, bởi nó gói cả câu chuyện xã hội đối xử thế nào với người có tài.

Tiểu Thanh là người tài sắc, phận lẽ mọn, bị vợ cả ghen, phải sống một mình cạnh Tây Hồ, rồi buồn mà chết trẻ. Thơ văn nàng bị đem đốt, may còn vài bài lọt lại. Nguyễn Du qua đó, thấy vườn hoa xưa đã thành gò hoang, chỉ còn biết đọc một tập sách bên song cửa mà viếng nàng. Từ nỗi oan của một người, nhà thơ nghĩ tới mối hận chung của những người tài hoa xưa nay, rồi khép bài bằng câu hỏi hướng về chính mình: “Bất tri tam bách dư niên hậu”, “Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?”, nghĩa là chẳng biết qua ba thế kỉ nữa, người đời có ai còn rơi nước mắt vì Tố Như.

Bài thơ cho thấy ba cách một xã hội làm tổn thương người tài. Cách thứ nhất là vùi dập: Tiểu Thanh không chết vì thiếu tài mà vì tài và sắc của nàng không có chỗ đứng trong một gia đình, một trật tự coi người phụ nữ làm lẽ là phận thấp. Cách thứ hai là im lặng: không ai đọc, không ai giữ, để thơ cháy dở. Cách thứ ba là tôn vinh muộn: người đời sau tiếc thương khi người ấy đã nằm dưới mộ.

Ba cách ấy vẫn còn, dưới dáng khác. Có những người trẻ giỏi một việc lạ, như đẽo gỗ, chơi một nhạc cụ cổ, viết thơ chữ Hán, nhưng không vừa vào khuôn thi cử nên bị coi là lệch hướng. Có những người làm nghề lặng lẽ cả đời, đến khi họ mất người ta mới làm phim, mới đặt tên đường. Mạng xã hội thì tạo ra một kiểu đối xử mới: nâng ai đó lên rất nhanh vì một khoảnh khắc nổi bật, rồi bỏ quên cũng nhanh như thế. Người tài thật sự cần thời gian và sự đọc kĩ, hai thứ mà sự chú ý vội vàng không cho.

Một thành viên của nhóm cho rằng người tài thật thì sớm muộn cũng được công nhận, Nguyễn Du chẳng phải đã được người đời sau đọc và thương đó sao. Đúng là câu hỏi ba trăm năm của nhà thơ đã có câu trả lời. Nhưng Nguyễn Du may mắn, còn bao người như Tiểu Thanh mà ngay cả tên tuổi cũng không ai giữ lại. Một sự công nhận đến sau khi người ta đã khổ sở, đã chết, chỉ làm hậu thế thấy nhẹ lòng.

Việc chúng ta làm được không lớn: đọc kĩ người khác khi họ còn sống. Trong lớp, đó là chịu nghe hết bài thơ bạn đọc trong giờ sinh hoạt thay vì cười cợt. Trong cuộc sống, đó là mua một cuốn sách, đến một buổi biểu diễn, viết một lời nhận xét chân thành cho người làm nghề sáng tạo. Tri âm không phải là chuyện của thiên tài với thiên tài; nó bắt đầu từ một người chịu lắng nghe.

Nguyễn Du hỏi về ba trăm năm. Những người tài quanh ta không cần chờ lâu như thế; họ chỉ cần ai đó đọc mình ngay bây giờ.

Mẫu 10

Mẫu 10: Thúy Kiều hầu rượu và kiểu làm nhục không để lại vết bầm (bài ngắn)

739 từ

“Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm”. Câu thơ của Nguyễn Du trong đoạn Thúy Kiều hầu rượu Hoạn Thư – Thúc Sinh tả đúng một kiểu bạo lực mà đến nay ta vẫn hay bỏ qua: làm nhục người khác bằng nụ cười.

Hoạn Thư biết chồng lén lấy Kiều ở bên ngoài nhưng không làm ầm. Bà sai người bắt Kiều về, đổi tên thành Hoa nô, cho làm con ở. Khi Thúc Sinh về nhà, bà bày tiệc, bắt Kiều đứng hầu, “Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay”, rồi bắt nàng gảy đàn cho chồng nghe. Thúc Sinh đau đến nát ruột mà không dám nói; Kiều nuốt nước mắt mà vẫn phải mời rượu. Trong lúc ấy Hoạn Thư cười nói như một bà chủ hiền. Chính Kiều đã nhận ra bản chất của người đàn bà này: “Mà trong nham hiểm giết người không dao”.

Ngày nay, kiểu làm nhục không cần dao ấy vẫn có mặt ở nhiều nơi: trong gia đình là lời chì chiết lặp đi lặp lại, là việc bắt một người làm việc hầu hạ trước mặt người khác để hạ thấp họ; ở trường là những trò chọc ghẹo được gọi là đùa; trong nhóm chat là một lời mỉa mai mà ai cũng hiểu là nhắm vào ai. Vết thương không có hình, nên người chịu đựng khó kể, người ngoài khó tin.

Vì sao kiểu bạo lực này đáng sợ? Vì nó không chừa cho nạn nhân chỗ nào để phản kháng. Thúc Sinh không thể trách vợ khi vợ đang cười nói, mời mọc. Kiều không thể kêu oan khi người hành hạ mình được cả nhà coi là hiền. Kẻ gây đau giữ được vẻ ngoài tử tế, còn người xung quanh, thấy toàn tiếng cười, tưởng chẳng có gì xảy ra. Nguyễn Du còn để Hoạn Thư tự nhủ rằng cuộc vui đêm ấy đã bõ những đau ngầm bấy lâu của bà.

Pháp luật đã không coi đó là chuyện nhỏ. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 xếp hành vi “lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm” vào hành vi bạo lực gia đình. Nghĩa là bạo lực không chỉ được đo bằng vết bầm.

Người bị làm nhục thường im lặng như Kiều vì không còn chỗ dựa. Vì thế, phần việc lớn thuộc về người chứng kiến: đừng cười theo, đừng coi là chuyện riêng nhà người ta, và khi có thể thì đứng về phía người đang phải cúi đầu. Một lời hỏi han riêng sau bữa tiệc, sau buổi học, đôi khi đủ để người kia biết mình không đơn độc. Kiều năm ấy không có được lời hỏi han như vậy; người hôm nay thì có thể có, nếu chúng ta chịu nhìn qua những tiếng cười.

Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao

Lỗi thường gặp Sửa thế nào
Viết thành bài phân tích tác phẩm, đến đoạn cuối mới có vài câu liên hệ. Giữ tỉ lệ: phần tác phẩm khoảng một phần ba. Ngay từ mở bài phải gọi tên vấn đề xã hội, không chỉ gọi tên tác phẩm.
Chọn vấn đề quá rộng (tình người, thiên nhiên, xã hội cũ bất công). Khoanh vấn đề lại, hỏi một điều cụ thể của đời sống: người ra tù tìm việc, ăn thú rừng ở quán, người mẹ đi làm xa.
Sai chi tiết tác phẩm vì đọc qua tóm tắt trên mạng. Mở sách đọc lại đoạn cần dẫn; không chắc chi tiết nào thì đừng dùng. Ví dụ: trong Kiến và người, chính người bố châm lửa đốt nhà.
Bằng chứng xã hội là số liệu nhớ mang máng, câu nói không rõ của ai. Chỉ đưa số liệu, điều luật khi kiểm chứng được; nếu không, dùng quan sát và trải nghiệm, nói rõ là tình huống của mình.
Bỏ qua ý kiến trái chiều hoặc dựng một ý kiến quá dễ bác. Chọn ý kiến khác mà nhiều người thật sự nghĩ, thừa nhận phần đúng của nó rồi mới phản bác.
Đề xuất kiểu khẩu hiệu: ai cũng phải có ý thức hơn. Nêu việc cụ thể, gắn với tuổi mình: không gọi món thú rừng, không biến lỗi lầm của bạn thành biệt danh, hỏi han bạn sống với ông bà.
Kết bài lặp lại mở bài. Quay về một hình ảnh của tác phẩm với nghĩa mới, hoặc đáp lại điều đã hỏi ở đầu bài.

Mẹo nhỏ: lúc chưa đặt bút, hãy trả lời ba câu bằng ba dòng nháp. Tác phẩm gợi ra vấn đề gì, nhờ chi tiết nào? Vấn đề ấy hôm nay hiện ra ở đâu quanh tôi? Tôi muốn người đọc làm gì sau khi đọc xong? Ba dòng ấy rõ thì bài viết sẽ có xương sống.

Gợi ý bài nói: trình bày ý kiến và thảo luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

Ở Bài 6, bộ Chân trời sáng tạo dựng tình huống Đoàn Thanh niên mời học sinh lên nói chuyện, chủ đề là văn chương phản ánh cách con người cư xử với thiên nhiên; ở Bài 3, bộ Cánh diều yêu cầu thảo luận nhóm về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm. Từ bài viết sang bài nói, có thể làm như sau:

  • Gọt bài viết lại thành ba ý: vấn đề trong tác phẩm (một chi tiết đắt nhất), vấn đề trong đời sống (một ví dụ gần gũi), đề xuất (một việc làm được ngay).
  • Mở đầu bằng hình ảnh hoặc câu hỏi, không đọc tiểu sử tác giả. Câu trích ngắn, đọc chậm.
  • Khi thảo luận nhóm, ghi lại ý kiến khác mình bằng đúng lời của bạn rồi mới phản hồi; tránh ngắt lời.
  • Chuẩn bị sẵn lời đáp cho câu hỏi khó nhất mà khán giả dễ hỏi nhất, ví dụ: luật đã cấm rồi thì cần gì học sinh lên tiếng?

Thử một đoạn mở bài nói (từ Muối của rừng):

Thưa các bạn, có một người thợ săn đã vào rừng với khẩu súng và trở về với hai bàn tay trắng, nhưng lại là người thắng cuộc. Đó là ông Diểu trong truyện Muối của rừng. Hôm nay mình không kể lại câu chuyện ấy; mình muốn hỏi các bạn một câu: nếu ông Diểu không bắn con khỉ mà mua nó ở một quán ven đường, liệu ông có bao giờ dừng tay? Từ câu hỏi đó, mình xin trình bày ý kiến về việc ăn và buôn bán thú rừng hiện nay.

Chọn mẫu nào để luyện?

Nếu làm đề Bài 6 của bộ Chân trời sáng tạo, hãy đọc mẫu 1, 2, 3: ba bài đi từ ba truyện ngắn trong bài học, một bài cho bản tin, một bài đọc chậm một chi tiết, một bài ngắn. Với đề Bài 3 của bộ Cánh diều, mẫu 4 theo đúng cấu trúc một bài kiểm tra 90 phút từ Chí Phèo; mẫu 5, 6, 7 cho thấy ba hình thức khác nhau. Với đề mở ở Bài 7 của bộ Chân trời sáng tạo, dùng mẫu 8 (bài tranh luận), 9 và 10 từ thơ Nguyễn Du. Khi luyện, đừng chép nguyên bài: giữ cách đặt vấn đề, cách dẫn chi tiết, rồi thay phần đời sống bằng chuyện chính bạn biết.

Xem thêm:

Vietnammm
VJOL
s666
s666
cakhiatv
xoilac
gavangtv
trực tiếp bóng đá
xoilac tv
xoilac tv
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
xem bóng đá trực tiếp
socolive
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
thapcamtv
90phut
luongsontv
Socolive
Cakhiatv
Tiếu lâm tv
90phut
Thapcamtv
Luongsontv
sunwin
hitclub
go88
go88
kèo nhà cái
game bài
sunwin20
lô đề uy tín
https://hitclub3.jp.net/
https://kqbd.deal/
7m
789club
789club
b52
bomwin
https://trangcacuocbongda.bio/
iwin
vaobet
hitclub
https://tylekeonhacai.top/
https://sunwinn.za.com/
https://go881.jp.net/
7m
789club
game bài đổi thưởng
Rikvip
Socolive TV
Socolive TV
kèo nhà cái
hitclub
sunwin
789club
Kèo nhà cái
b52 club
b52 club
sunwin
kèo nhà cái
kèo bóng đá hôm nay
cá cược bóng đá
cakhiatv
socolive
xoilac
Kèo nhà cái
b52 club
ok9
https://fly88h.com/
789bet
tỷ lệ bóng đá hôm nay
tỷ lệ bóng đá hôm nay
Twin68
ww88
hitclub
tỷ lệ kèo
tylekeonhacai
V9bet
tỷ lệ kèo
nổ hũ
sunwin
188bet
Hit club
hitclub
Game bài 789club
BongdaNET
keonhacai5
Sunwin
hitclub
98win
RR88
123Bet
kèo nhà cái 5
NOHU
https://lucky88.us/
kubet
Sunwin
https://da888.app/
five88
da88
vin88
Five88
MAY88
FABET
sunwin
sunwin
sin88
Sumclub
Sao789
tỷ lệ kèo nhà cái
V88
ww88
ww88
Gamvip
Winclub
Xeng88
Vip69
Vic88
Kwin
Sumvip
Hit Club
https://cm88.so/
https://keonhacai.gb.net/
kèo nhà cái
Iwin68
dn88
https://ae8888.gr.com/
cakhiatv
xôi lạc tv
socolive
JBO
CakhiaTV
Socolive
b52club
kèo nhà cái 55
HITCLUB
lô đề online
https://mm88.blog/
8 DAY
kèo nhà cái
88xx
go99
sc88
23win
go8
go8
go99
33win
tỷ lệ kèo
kèo nhà cái
Go88
nowgoal
tỷ lệ kèo bóng đá anh
soi kèo nhà cái
Tài xỉu online
https://keonhacai6.io/
Luck8
B29
go8
https://sunwinor.com/
Rikvip
B52club
Kèo Nhà Cái
Go88
Socolive
Sutbongtv
Socolive
hitclub
bet168
game bài đổi thưởng
w 88
tỷ lệ kèo nhà cái
sun win
kết quả bóng đá
VN88
hello88
sunwin
f168
uu88
nổ hũ
Kèo Nhà Cái
Tài Xỉu
rikvip
xocdia88
xóc đĩa online
88vin
bay789
kwin
sunwin
https://sunwin35.io/
mu88
sunwin
B52
qq887p com
qq88 social
kèo nhà cái
kèo nhà cái
https://sunwins.eu.com
hitclub
Game bài đổi thưởng
v9bet
kubet
go88
b52 club
https://98win.kiwi/
au88
B52club
kèo nhà cái 5
https://sunwinkt.com/
AE888
Sunwin
go88
kqbd
Go88
kèo nhà cái
hit club
https://keonhacaim88.info/
trực tiếp bóng đá
Sunwin
sunwin
ok9
789Club
Sumclub
sonclub
alo789
bet88
123b
cm88
go 88
https://sunwinvy.com/
xoilactv
http://taixiuonline.markets/
nohu90 com
23win
game bai doi thuong
hitclub
sunwin
tài xỉu 789club
Bong88
Tỷ lệ kèo
Sunwin
hitclub
789club
trực tiếp bóng đá socolive
cm88
https://sunwin.vision/
hitclub
du88
du88
9bet
9bet
sunwin
lucky88
uk88
kèo nhà cái 5
Sunwin
https://ae888.co.com/
mu88
sunwin
sunwin
trang cá cược bóng đá
sunwin
GO99
789WIN
Lucky88
AO88
789Club
Nhà cái Xocdia88
8xbet
fb88
https://shbet800.com/
https://789bethv.com/
sunwin
sunwin
HITCLUB
https://keonhacai.forsale/
bay789
mu88
mu88
keo nha cai 5
đánh đề online
qq8876 net
https://metruyen.biz/
789 Club
HITCLUB
tỷ lệ kèo
luck8
tg88
789bet
789club
qh88
kubet
S8
Sunwin
Go88
Hay88
Hay88
Hay88
Hay88
https://go88n.co/
8xbet
b52club
kèo nhà cái
game bài đổi thưởng
https://ae888li.com/
79KING
https://npunks.io/
sun win
sun win
bắn cá đổi thưởng
Luckywin
RIK VIP
UY88
sun win
https://keonhacaingoaihanganh.com/
au88
SUNWIN
mê truyện
Xóc đĩa
tài xỉu
đánh đề online
kèo nhà cái
nhà cái uy tín
https://dstruct.io
sunwin
nha cai uy tin
789 club
99ok
VN88
90phut
trực tiếp bóng đá
Tai xiu
789club
nowgoal
J88
sunwin
go88
https://789betlove.com/
rikvip
hitclub
lô đề online
https://tylekeonhacai.co.com/
789club
Exness
kubet