Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích hồi V bi kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng) cho hai bộ sách lớp 11: Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo (tập một, Bài 5 Băn khoăn tìm lẽ sống, trang 112–119) và Ngữ văn 11 Cánh diều (tập hai, Bài 8 Bi kịch, trang 88–95). Hai bộ đặt câu hỏi khác nhau, nên mỗi bộ có một phần soạn riêng.
Nếu bạn học bộ Kết nối tri thức, hãy xem Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – Ngữ văn 11 Kết nối tri thức.
Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – Chân trời sáng tạo 11 (trang 112–119)
Đoạn trích trong sách Chân trời sáng tạo gồm chín lớp kịch của hồi V, từ lúc Đan Thiềm hốt hoảng báo tin có loạn đến khi Cửu Trùng Đài bốc cháy và Vũ Như Tô bị dẫn ra pháp trường.

Trước khi đọc (trang 112)
Câu 1 (trang 112): Tôi là ai? Ước mơ lớn nhất của tôi là gì?
Đã bao giờ bạn tự hỏi mình là ai, ước mơ lớn nhất của mình là gì và có thể làm gì để đạt được ước mơ ấy? Hãy chia sẻ với các bạn những suy nghĩ đó.
Trả lời (gợi ý): Em từng tự hỏi những câu ấy khi phải chọn khối thi. Em nhận ra mình là người thích tìm hiểu cơ thể con người và mong trở thành bác sĩ nhi khoa. Để đạt ước mơ, em cần học vững Sinh học, Hóa học, rèn sức khỏe, tập kiên nhẫn và tìm hiểu công việc thực tế của người thầy thuốc. Khi bàn với các bạn, em cũng hiểu ước mơ chỉ đẹp khi nó có ích cho người khác – điều sẽ gặp lại khi đọc câu chuyện về người kiến trúc sư Vũ Như Tô.
Đọc văn bản (trang 113–118)
Câu 1 (trang 113): Quan điểm của Vũ Như Tô và Đan Thiềm về hành động, cảm xúc của quần chúng
Lời thoại của Vũ Như Tô và Đan Thiềm cho thấy họ có quan điểm như thế nào về hành động và cảm xúc của quần chúng nhân dân?
Trả lời: Cả hai đều không hiểu vì sao dân chúng và thợ xây lại oán giận mình. Vũ Như Tô ngạc nhiên, cho rằng công trình của mình làm đẹp cho non sông, không làm gì nên tội. Đan Thiềm thì nhận ra cơn giận dữ của đám đông là mối nguy thật sự, nhưng vẫn cho rằng họ hiểu lầm ông Cả. Lời thoại cho thấy khoảng cách lớn giữa người nghệ sĩ say mê cái đẹp với nỗi khổ thực tế của nhân dân.
Câu 2 (trang 113): Vì sao Đan Thiềm luôn lo lắng còn Vũ Như Tô lại không?
Trả lời: Đan Thiềm tỉnh táo, nắm được tình hình: phe Trịnh Duy Sản làm loạn, dân chúng và thợ đang căm ghét Vũ Như Tô, tính mạng ông bị đe dọa. Vũ Như Tô thì sống trọn trong giấc mộng Cửu Trùng Đài, tin rằng mình trong sạch, làm việc vì lợi ích chung nên không có lí do phải trốn. Sự khác nhau ấy xuất phát từ việc một người nhìn thấy hiện thực, một người chỉ nhìn thấy lí tưởng.
Câu 3 (trang 114): Từ lời của Nguyễn Vũ, dự đoán điều gì sẽ xảy ra
Trả lời: Lời Nguyễn Vũ cho biết Trịnh Duy Sản là kẻ hiểm độc, đã nổi loạn và sẽ không dừng tay. Em dự đoán vua Lê Tương Dực sẽ bị giết; những người gắn với nhà vua và với Cửu Trùng Đài như Vũ Như Tô, Đan Thiềm, các cung nữ sẽ bị truy đuổi; công trình Cửu Trùng Đài khó tránh khỏi bị phá hủy.
Câu 4 (trang 117): Giọng điệu các lời thoại của Đan Thiềm trong đoạn này
Trả lời: Lời Đan Thiềm lúc này khẩn khoản, van lơn, đầy đau đớn. Nàng hạ mình xin phe nổi dậy rủ lòng thương ông Cả, nhận hết tội về mình, nói rằng nước còn cần người tài như ông. Đến khi bị giải đi, lời nàng chuyển sang giọng nghẹn ngào vĩnh biệt. Giọng điệu ấy cho thấy tấm lòng hi sinh, sự trân trọng tài năng đến quên mình của Đan Thiềm.
Câu 5 (trang 118): So sánh biểu cảm của Vũ Như Tô và quân sĩ trước sự sụp đổ của Cửu Trùng Đài
Trả lời: Khi lửa bốc lên, Vũ Như Tô rú lên đau đớn, than trời, gọi tên Đan Thiềm và Cửu Trùng Đài – mộng lớn cả đời ông tan thành tro. Ngược lại, quân sĩ hò reo vui vẻ, coi việc đài cháy là đáng ăn mừng. Một bên là tuyệt vọng, một bên là hả hê – sự đối lập ấy làm nổi bật bi kịch không được thấu hiểu của người nghệ sĩ.
Sau khi đọc (trang 119)
Câu 1 (trang 119): Tóm tắt diễn biến sự kiện và hành động của nhân vật từ lớp I đến lớp IX
Trả lời:
- Lớp I – III: Đan Thiềm hớt hải báo tin có loạn, nhiều lần giục Vũ Như Tô trốn; ông nhất quyết ở lại vì đài chưa xong và tin mình vô tội; Nguyễn Vũ đến báo tình hình nguy cấp.
- Lớp IV: tin vua Lê Tương Dực bị giết; thợ xây và dân chúng theo phe nổi loạn, quay sang căm giận Vũ Như Tô.
- Lớp V – VI: người thân cận với vua bị truy lùng; Đan Thiềm biết ông Cả không còn đường thoát; cung nữ hoảng loạn khi quân phá cửa điện.
- Lớp VII: quân khởi loạn ập vào, Vũ Như Tô và Đan Thiềm bị kết tội, sỉ nhục, bắt trói; Đan Thiềm cầu xin cho ông Cả được sống, rồi bị quân lính dẫn đi trong lời từ biệt đau đớn.
- Lớp VIII: Vũ Như Tô vẫn tin mình không có tội, đòi gặp An Hòa Hầu để được tiếp tục xây đài.
- Lớp IX: Cửu Trùng Đài bị đốt; Vũ Như Tô đau đớn tột cùng, chấp nhận bị dẫn ra pháp trường.
Câu 2 (trang 119): Những xung đột cơ bản của văn bản qua hệ thống nhân vật
Trả lời:
- Xung đột giữa nhân dân (thợ, quân khởi loạn) với tập đoàn phong kiến ăn chơi xa xỉ (Lê Tương Dực và những người bị coi là tay chân của vua) – xung đột xã hội, bùng nổ thành bạo loạn.
- Xung đột giữa khát vọng nghệ thuật cao cả của Vũ Như Tô với quyền lợi thiết thực của người dân – Cửu Trùng Đài là giấc mộng đẹp nhưng được dựng bằng mồ hôi, xương máu của dân.
- Xung đột giữa Vũ Như Tô, Đan Thiềm với phe nổi loạn (Ngô Hạch, quân sĩ) – những người không hiểu và kết tội họ.
- Các xung đột đan cài, dồn đẩy nhau, khiến kết cục trở nên bi thảm không thể tránh.
Câu 3 (trang 119): Hình dung về Cửu Trùng Đài; có phải nguyên nhân chính của bạo loạn?
Bạn hình dung thế nào về công trình “Cửu Trùng Đài” mà Vũ Như Tô đang xây dựng dở dang? Việc xây dựng công trình ấy có phải là nguyên nhân chính gây nên bạo loạn và kết cuộc bi thảm ở cuối vở kịch không? Vì sao?
Trả lời:
- Hình dung: một tòa đài chín tầng nguy nga, tráng lệ, kết tinh tài năng kiến trúc kiệt xuất, muốn sánh với kì quan các nước, đủ làm rạng danh đất nước; nhưng để xây nó cần vô số tiền của, gỗ đá và sức người.
- Có phải nguyên nhân chính? Cửu Trùng Đài là nguyên nhân trực tiếp: việc xây đài làm dân phải đóng thêm sưu thuế, thợ bị bắt làm, chết chóc, khiến lòng dân oán giận. Nhưng nguyên nhân sâu xa là sự hoang dâm, tàn bạo của Lê Tương Dực và cuộc tranh giành quyền lực trong triều; phe Trịnh Duy Sản lợi dụng lòng oán giận ấy để làm loạn, lấy Cửu Trùng Đài làm cớ.
Câu 4 (trang 119): Ngôn ngữ đối thoại, độc thoại của Vũ Như Tô và Đan Thiềm
Trả lời:
- Đan Thiềm: lời thoại gấp gáp, nhiều câu hỏi, câu cầu khiến, lời van xin; thể hiện sự tỉnh táo, lo lắng và tình cảm sâu nặng với người tài.
- Vũ Như Tô: lời thoại thẳng thắn, cương trực, nhiều câu khẳng định sự vô tội của mình; đến cuối là những câu cảm thán dồn dập, độc thoại than trời, gọi tên Đan Thiềm, Cửu Trùng Đài – bộc lộ sự ngây thơ chính trị và nỗi đau vỡ mộng.
- Ngôn ngữ kịch giàu tính hành động, góp phần khắc họa tính cách nhân vật và đẩy xung đột lên cao trào.
Câu 5 (trang 119): Tương đồng, khác biệt trong tính cách Đan Thiềm và Vũ Như Tô
Chỉ ra điểm tương đồng, khác biệt trong tính cách của hai nhân vật Đan Thiềm, Vũ Như Tô trước tình huống bạo loạn nguy hiểm đối với sinh mệnh của Cửu Trùng Đài và đối với bản thân họ. Các nhân vật này mang đặc điểm gì của nhân vật chính trong bi kịch?
Trả lời:
- Tương đồng: cả hai đều say mê, trân trọng cái đẹp, cái tài; gắn bó với Cửu Trùng Đài; sẵn sàng hi sinh cho lí tưởng.
- Khác biệt: Đan Thiềm sáng suốt, thực tế, biết lúc nào phải lùi để giữ người tài; Vũ Như Tô say mê đến mức mù quáng, không hiểu thời cuộc, cố chấp ở lại chờ chết cùng giấc mộng.
- Đặc điểm nhân vật bi kịch (rõ nhất ở Vũ Như Tô): mang khát vọng lớn lao, cao đẹp; có “sai lầm” trong cách thực hiện khát vọng; rơi vào xung đột không thể giải quyết với hoàn cảnh; chịu kết cục thảm khốc nhưng vẫn khơi gợi niềm thương cảm, ngưỡng mộ.
Câu 6 (trang 119): Những mất mát mà nhân vật chính phải gánh chịu
Trả lời: Vũ Như Tô mất tất cả: mất lòng tin của nhân dân và những người thợ; mất danh dự khi bị gán là kẻ gian phu, tội đồ làm hao công khố; mất Đan Thiềm – người tri kỉ duy nhất; mất Cửu Trùng Đài – giấc mộng cả đời bị thiêu thành tro; và cuối cùng mất mạng sống nơi pháp trường.
Câu 7 (trang 119): Vở kịch có một chủ đề hay nhiều chủ đề? Thể hiện trong hồi V thế nào?
Trả lời: Theo em, vở kịch không chỉ có một chủ đề. Ở hồi V có thể thấy: (1) mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật thuần túy với quyền lợi người dân (người nghệ sĩ không thể sáng tạo bằng mồ hôi xương máu dân lành); (2) bi kịch của người tài không gặp thời, không được thấu hiểu (Vũ Như Tô và Đan Thiềm bị coi là tội đồ); (3) tình tri kỉ và sự trân trọng cái tài (Đan Thiềm liều mình xin tha cho ông Cả); (4) sự tàn phá mù quáng của bạo lực trước cái đẹp (Cửu Trùng Đài bị đốt trong tiếng hò reo).
Câu 8 (trang 119): Tư tưởng, thông điệp của tác giả và ý nghĩa hôm nay
Trả lời: Nguyễn Huy Tưởng vừa trân trọng, thương xót người nghệ sĩ tài hoa, vừa chỉ ra rằng nghệ thuật dù đẹp đến đâu cũng phải gắn với đời sống và quyền lợi người dân; đồng thời lên án sự phá hoại cái đẹp một cách mù quáng. Thông điệp ấy vẫn còn nguyên giá trị: người làm nghệ thuật, làm khoa học hôm nay cần cống hiến vì cộng đồng; xã hội cần biết quý trọng, bảo vệ người tài và những công trình văn hóa.
Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – Cánh diều 11 (trang 88–95)
Đoạn trích trong sách Cánh diều gồm lớp I và các lớp V – IX của hồi V (các lớp II – IV được lược), kèm tám câu hỏi bên lề và sáu câu hỏi Đọc hiểu.
Chuẩn bị (trang 88)
Sách yêu cầu xem lại Kiến thức ngữ văn về bi kịch (xung đột, nhân vật, lời thoại, chỉ dẫn sân khấu); đọc trước đoạn trích, tìm hiểu về Nguyễn Huy Tưởng và đọc phần tóm tắt vở kịch.
- Tác giả: Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960), quê Hà Nội (huyện Đông Anh), nhà văn, nhà viết kịch có nhiều đóng góp cho văn học hiện đại, nổi bật với cảm hứng lịch sử: Vũ Như Tô, Bắc Sơn, Sống mãi với Thủ đô, Lá cờ thêu sáu chữ vàng…
- Vở kịch: Vũ Như Tô viết năm 1941, gồm năm hồi, lấy chuyện thời Lê Tương Dực; người thợ tài ba Vũ Như Tô bị ép xây Cửu Trùng Đài, được Đan Thiềm khuyên mượn tay vua để thực hiện mộng lớn, nhưng công trình làm dân khổ, dẫn đến bạo loạn.
Câu hỏi bên lề khi đọc Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trang 90–95)
Câu 1 (trang 90): Vũ Như Tô hoàn toàn “sống” với Cửu Trùng Đài và không biết gì về thế cuộc
Trả lời: Khi Đan Thiềm hớt hải báo tin, Vũ Như Tô hỏi dồn rằng cớ sao phải chạy, nói công trình còn dang dở thì không thể rời đi, mình không làm gì nên tội, chắc người ta hiểu nhầm. Những câu hỏi ngơ ngác ấy cho thấy ông chỉ nghĩ tới công trình, hoàn toàn mù mờ về loạn lạc và lòng dân đang sôi sục.
Câu 2 (trang 91): Những cái chết ở đây có phải là cái chết của nhân vật bi kịch không?
Trả lời: Không. Những cái chết được nhắc tới (vua Lê Tương Dực, các quan, người hầu bị giết trong cơn loạn) là hậu quả của cuộc tranh giành quyền lực và sự trừng phạt của dân chúng đối với bạo chúa. Đó không phải những con người mang khát vọng cao đẹp rồi vấp phải xung đột không thể giải quyết; người chết như một nhân vật bi kịch đích thực là Vũ Như Tô (và Đan Thiềm) ở cuối đoạn trích.
Câu 3 (trang 91): Tác dụng của những chỉ dẫn sân khấu trong văn bản
Trả lời: Các chỉ dẫn trong ngoặc (tiếng quân reo, tiếng trống, tiếng chiêng, nhân vật thở hổn hển, chạy vào, ánh lửa sáng rực…) giúp người đọc hình dung bối cảnh hỗn loạn, nhịp độ gấp gáp của biến cố; thể hiện cử chỉ, tâm trạng nhân vật; tạo không khí căng thẳng và hướng dẫn cách dàn dựng trên sân khấu.
Câu 4 (trang 92): Vì sao quân khởi loạn xếp Vũ Như Tô cùng hạng với những cung nữ?
Trả lời: Phe nổi dậy nhìn Vũ Như Tô và các cung nữ như nhau, vì cả hai bên đều là người của Lê Tương Dực, sống nhờ triều đình, góp phần vào cảnh ăn chơi xa xỉ khiến dân khổ. Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài cho vua hưởng lạc, còn cung nữ là những người hầu hạ vua, nên họ bị coi chung là đối tượng phải tiêu diệt.
Câu 5 (trang 93): Hình ảnh Đan Thiềm trong mắt quân khởi loạn và Ngô Hạch
Trả lời: Họ coi Đan Thiềm là cung nữ lẳng lơ, kẻ xiểm nịnh vua, có tư tình với Vũ Như Tô – bị sỉ nhục là “dâm phụ”. Đó là cái nhìn méo mó, thô bạo; thực chất Đan Thiềm là người tri kỉ, yêu cái tài, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ người nghệ sĩ.
Câu 6 (trang 93): Lúc này, có phải Vũ Như Tô hoàn toàn cô độc?
Trả lời: Vũ Như Tô gần như cô độc giữa đám đông thù địch: thợ xây, quân sĩ, dân chúng đều quay lưng. Nhưng ông chưa hoàn toàn một mình, vì vẫn còn Đan Thiềm bên cạnh – người hiểu và thương ông, liều mình van xin cho ông sống. Chỉ khi Đan Thiềm bị giải đi, ông mới thật sự cô độc.
Câu 7 (trang 94): Phản ứng của quân sĩ trước lời nói của Vũ Như Tô
Trả lời: Khi Vũ Như Tô nói về Cửu Trùng Đài, về việc đòi gặp An Hòa Hầu để được xây tiếp, quân sĩ cười nhạo, mắng ông là điên, cho rằng đài sắp thành đống tro tàn, nói chi đến chuyện xây. Phản ứng ấy cho thấy sự đối lập tuyệt đối giữa giấc mộng nghệ thuật của ông với cách nhìn của những người lính.
Câu 8 (trang 95): Câu nói cuối cùng của Vũ Như Tô thể hiện tâm trạng gì?
Trả lời: Câu “Thôi thế là hết. Dẫn ta đến pháp trường!” được nói một cách chua chát. Nó thể hiện sự tuyệt vọng hoàn toàn của người nghệ sĩ khi giấc mộng lớn đã thành tro; ông không còn thiết sống, bình thản đón cái chết vì công trình đã mất thì đời ông cũng chẳng còn ý nghĩa.
Đọc hiểu – trả lời câu hỏi sau Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trang 95)
Câu 1 (trang 95): Ví dụ cho thấy vai trò của chỉ dẫn sân khấu
Tìm những ví dụ tiêu biểu cho thấy các chỉ dẫn sân khấu của tác giả có vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ bối cảnh, hành động, tâm trạng nhân vật, xung đột trong lời thoại của nhân vật.
Trả lời:
| Chỉ dẫn sân khấu | Vai trò |
| Tiếng quân reo đòi giết Vũ Như Tô và lũ cung nữ; tiếng trống, tiếng chiêng | Làm rõ bối cảnh bạo loạn đang lan tới, tạo áp lực bao trùm. |
| Đan Thiềm thở hổn hển, chạy vào | Thể hiện hành động gấp gáp và nỗi lo sợ của nhân vật. |
| Quân sĩ xông vào, trói, dẫn Đan Thiềm ra | Đẩy xung đột lên cao, chia lìa hai nhân vật. |
| Vũ Như Tô nhìn ra, rú lên; ánh lửa sáng rực, tàn than bay vào | Diễn tả khoảnh khắc Cửu Trùng Đài bị đốt và nỗi đau tột cùng của Vũ Như Tô. |
| Có tiếng hô vui vẻ; Vũ Như Tô chua chát; màn hạ nhanh | Làm nổi bật đối lập giữa niềm vui của đám đông và sự tuyệt vọng của nhân vật; khép lại bi kịch dứt khoát. |
Câu 2 (trang 95): Thống kê nhân vật ở từng lớp kịch và nhận xét
Thống kê các nhân vật xuất hiện ở từng lớp kịch theo hướng dẫn trong bảng (lớp I, V, VI, VII, VIII, IX). Em có nhận xét gì về sự xuất hiện và vai trò của các nhân vật trong các lớp kịch?
Trả lời:
| Lớp | Diễn biến chính | Nhân vật |
| I | Đan Thiềm báo tin Trịnh Duy Sản làm phản, tìm Vũ Như Tô để giết; khuyên ông trốn nhưng ông từ chối (mẫu của sách). | Đan Thiềm, Vũ Như Tô |
| V | Đan Thiềm lại thúc giục, Vũ Như Tô vẫn khăng khăng ở lại vì tin mình vô tội; Đan Thiềm hiểu ông khó thoát. | Đan Thiềm, Vũ Như Tô |
| VI | Cung nữ hoảng loạn, than khóc khi quân khởi loạn phá cửa điện. | Kim Phượng, Đan Thiềm, các cung nữ |
| VII | Quân khởi loạn ập vào; Kim Phượng đổ tội cho Đan Thiềm để thoát thân; Đan Thiềm van xin Ngô Hạch tha cho ông Cả rồi bị giải đi. | Quân khởi loạn, Ngô Hạch, Kim Phượng, Đan Thiềm, cung nữ, Vũ Như Tô |
| VIII | Vũ Như Tô bị trói, đòi gặp An Hòa Hầu để được xây tiếp đài; quân sĩ chế giễu. | Vũ Như Tô, Ngô Hạch, quân sĩ |
| IX | Cửu Trùng Đài bốc cháy; Vũ Như Tô đau đớn rồi chấp nhận ra pháp trường. | Vũ Như Tô, Ngô Hạch, quân sĩ |
Nhận xét: số nhân vật tăng dần theo diễn biến loạn lạc (từ hai người đến cả đám đông), rồi thu lại quanh Vũ Như Tô ở cuối. Đan Thiềm giữ vai trò cảnh báo, che chở; cung nữ, Kim Phượng phản ánh sự hỗn loạn và thói đời; Ngô Hạch, quân sĩ đại diện cho phe đối lập. Cách sắp xếp này đẩy xung đột lên đỉnh điểm và làm nổi bật sự cô độc của nhân vật chính.
Câu 3 (trang 95): Xung đột quan điểm về Cửu Trùng Đài giữa Ngô Hạch, quân sĩ và Vũ Như Tô
Trong đoạn trích, sự xung đột trong quan điểm của Ngô Hạch và quân sĩ với quan điểm của Vũ Như Tô về Cửu Trùng Đài được thể hiện như thế nào? Vì sao có sự khác biệt này?
Trả lời:
- Vũ Như Tô: Cửu Trùng Đài là công trình nghệ thuật vĩ đại, tâm huyết cả đời, làm đẹp cho non sông, đáng được hoàn thành; ông không thấy mình có tội.
- Ngô Hạch, quân sĩ: Cửu Trùng Đài là biểu tượng của sự xa hoa, là nguyên nhân làm dân khổ, thợ chết; người xây nó là kẻ có tội, phải bị giết; đài phải đốt đi, và việc đốt đài là đáng ăn mừng.
- Vì sao khác biệt: Vũ Như Tô nhìn công trình bằng con mắt nghệ sĩ, hướng tới cái đẹp vĩnh cửu; quân sĩ và Ngô Hạch nhìn bằng con mắt của người chịu khổ và của phe làm chính biến, gắn công trình với sưu thuế, xương máu. Hai cách nhìn đều có lí riêng – đó là gốc rễ của bi kịch.
Câu 4 (trang 95): Diễn biến tâm trạng Vũ Như Tô và bi kịch của nhân vật
Trả lời:
- Đầu đoạn trích: ngơ ngác, ngạc nhiên trước tin dữ; tự tin mình vô tội, nhất quyết ở lại cùng đài.
- Khi bị bắt: vẫn ngây thơ tin rằng có thể giải bày, đòi gặp An Hòa Hầu để được tiếp tục xây đài.
- Khi Cửu Trùng Đài cháy: đau đớn tột cùng, than trời, gọi tên Đan Thiềm và Cửu Trùng Đài.
- Cuối cùng: chua chát, tuyệt vọng, bình thản nhận cái chết.
Bi kịch của Vũ Như Tô: đó là bi kịch của một tài năng nghệ thuật mang khát vọng sáng tạo cái đẹp lớn lao nhưng thực hiện nó bằng tiền của, sức lực của nhân dân dưới tay một bạo chúa; khát vọng chân chính mà con đường sai lầm, nên không được nhân dân thấu hiểu, bị hủy diệt cùng tác phẩm của mình.
Câu 5 (trang 95): Chủ đề của đoạn trích
Trả lời: Đoạn trích thể hiện tấn bi kịch của một tài năng và một khát vọng nghệ thuật bị hủy diệt vì cái đẹp thuần túy đi ngược quyền lợi thiết thực của người dân; qua đó bày tỏ niềm trân trọng, xót thương đối với Vũ Như Tô, Đan Thiềm và đặt ra câu hỏi: nghệ thuật nên đứng ở đâu trong đời sống con người.
Câu 6 (trang 95): Vũ Như Tô “phải” hay những kẻ giết Vũ Như Tô “phải”?
Trong lời đề tựa vở kịch Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng có viết: “Than ôi! Như Tô phải hay những kẻ giết Như Tô phải? Ta chẳng biết.”. Theo em, Vũ Như Tô “phải” hay những kẻ giết Vũ Như Tô “phải”? Vì sao?
Trả lời: Theo em, cả hai phía đều có phần đúng và phần sai. Vũ Như Tô đúng ở khát vọng: ông mong non sông có một kì quan sánh với thiên hạ, chứng minh tài năng người Việt; ông không tham danh lợi. Nhưng ông sai khi dựng cái đẹp ấy bằng mồ hôi, nước mắt của nhân dân, dựa vào một bạo chúa và không nhìn thấy nỗi khổ của người thợ. Những người giết ông đúng khi đứng lên chống lại sự áp bức, nhưng sai khi phá hủy mù quáng một công trình nghệ thuật và giết chết một tài năng hiếm có. Chính vì vậy, tác giả để câu hỏi bỏ ngỏ, buộc người đọc tự suy ngẫm: nghệ thuật cần hướng tới con người, còn con người cần biết trân trọng cái đẹp và người tài.

Kết luận
Soạn bài Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, dù theo sách Chân trời sáng tạo hay Cánh diều, em cần nắm được các xung đột cơ bản của bi kịch, diễn biến tâm trạng và bi kịch của Vũ Như Tô, vẻ đẹp của Đan Thiềm, vai trò của lời thoại và chỉ dẫn sân khấu, cùng câu hỏi lớn mà Nguyễn Huy Tưởng gửi lại về chỗ đứng của nghệ thuật trong đời sống.
Xem thêm: