Viết bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội là kiểu bài Viết lớp 11 mà bộ sách nào cũng dạy. Ngữ văn 11 Kết nối tri thức cho viết hai lần liền: Bài 3 bàn về con người với cuộc sống xung quanh, Bài 4 bàn về việc hình thành lối sống tích cực. Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo đặt đề ở Bài 2 (Hành trang vào tương lai), trong đó học sinh viết bài dự thi gửi câu lạc bộ Văn học. Ngữ văn 11 Cánh diều gọi tên là nghị luận về một hiện tượng đời sống, ở Bài 9 tập hai, đề thực hành bàn về thói sính dùng tiếng nước ngoài của giới trẻ. Dưới đây là yêu cầu kiểu bài, dàn ý chung và 10 bài văn mẫu, mỗi bài một vấn đề khác: từ cái ngăn kéo đầy điện thoại hỏng, căn hộ không biết tên hàng xóm, đến cơn sốt săn vé và những lời quảng cáo thần kì trên mạng. Tên người và nơi chốn xuất hiện trong bài đều do người viết đặt ra.

Yêu cầu của kiểu bài nghị luận về một vấn đề xã hội lớp 11
So với lớp 10, bài nghị luận xã hội lớp 11 đòi hỏi nhìn vấn đề sâu hơn: không chỉ nêu đúng sai mà phải chỉ ra vấn đề sinh ra từ hoàn cảnh nào, có những mặt nào, và người viết đứng ở đâu giữa các luồng ý kiến.
| Tiêu chí | Bài viết đạt khi |
|---|---|
| Chọn vấn đề | Vấn đề có thật, đang diễn ra quanh người viết, đủ hẹp để bàn đến nơi đến chốn. |
| Hoàn cảnh nảy sinh | Mô tả ngắn gọn bối cảnh làm vấn đề xuất hiện (mạng xã hội, đô thị hóa, thay đổi nghề nghiệp…). |
| Quan điểm | Người đọc biết người viết nghĩ gì ngay từ phần đầu; quan điểm giữ nhất quán. |
| Hệ thống luận điểm | Các luận điểm đi theo một trật tự có lí (biểu hiện – nguyên nhân – tác động – giải pháp, hoặc từ gần đến xa); luận điểm nào cũng được chống đỡ bằng lí lẽ và dẫn chứng xác thực. |
| Góc nhìn khác | Có ít nhất một ý kiến trái chiều hoặc một góc nhìn khác, được trình bày công bằng rồi mới phản biện. |
| Ý nghĩa | Kết bài rút ra điều người viết và người đọc cần làm, cần nghĩ lại. |
Điểm nhấn từng bộ sách:
| Bộ sách | Vị trí | Điểm nhấn |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tập một, Bài 3 Cấu trúc của văn bản nghị luận | Vấn đề gợi cách nhìn sâu hơn về quan hệ giữa con người và cuộc sống quanh mình; bài tham khảo bàn về việc lắng nghe những âm thanh nhỏ của đời sống. |
| Kết nối tri thức | Tập một, Bài 4 Tự sự trong truyện thơ dân gian và trong thơ trữ tình | Vấn đề hướng tới lối sống tích cực; sách gợi các đề tài như lối sống xanh, bình đẳng giới, tôn trọng khác biệt; yêu cầu bàn thêm từ một góc nhìn khác. |
| Chân trời sáng tạo | Tập một, Bài 2 Hành trang vào tương lai | Viết bài dự thi chủ đề Những góc nhìn cuộc sống của câu lạc bộ Văn học; gợi ý: tấm gương vượt khó, đại học có phải con đường duy nhất, có nên luôn theo đuổi đam mê. |
| Cánh diều | Tập hai, Bài 9 Văn bản nghị luận | Nghị luận về một hiện tượng đời sống; đề thực hành: hiện tượng sính dùng tiếng nước ngoài trong giao tiếp hằng ngày của giới trẻ. |
Dàn ý bài văn nghị luận về một vấn đề xã hội
1. Mở bài
– Mở lối bằng một cảnh, một con số có nguồn, một câu hỏi.
– Nêu vấn đề, hướng bàn và chỗ đứng của mình.
2. Thân bài
a. Hoàn cảnh và biểu hiện
+ Vấn đề nảy sinh trong bối cảnh nào; biểu hiện cụ thể ở trường, ở nhà, trên mạng.
+ Giải thích khái niệm nếu cần.
b. Phân tích, đánh giá
+ Nguyên nhân: từ phía con người và từ hoàn cảnh.
+ Tác động: tới cá nhân, cộng đồng; mặt tích cực nếu có.
+ Mỗi ý: lí lẽ đi trước, bằng chứng theo sau.
c. Một góc nhìn khác
+ Ý kiến trái chiều, hoặc cách hiểu khác về vấn đề; điểm hợp lí và điểm cần bàn lại.
d. Giải pháp, bài học
+ Việc người trẻ làm được; việc gia đình, nhà trường, xã hội nên làm.
3. Kết bài
– Nhắc lại quan điểm, nói vì sao hiểu đúng chuyện này lại quan trọng.
– Liên hệ bản thân bằng một việc cụ thể.
Với đề hiện tượng đời sống của Cánh diều, phần biểu hiện nên có quan sát tận mắt (một buổi sinh hoạt lớp, một bình luận trên mạng) thay vì kể chung chung. Với đề lối sống tích cực của Kết nối tri thức, luận điểm góc nhìn khác là bắt buộc, nên dành cho nó một đoạn riêng.
Bài văn về con người với cuộc sống xung quanh
Nhóm này gồm ba bài, hợp nhất với đề về con người và cuộc sống quanh mình; gửi dự thi Những góc nhìn cuộc sống cũng được.
Mẫu 1: Sống cạnh nhau mười năm không biết tên nhau
Tôi biết tên cô hàng xóm ở căn hộ đối diện vào một đêm mưa tháng Bảy, sau mười năm sống cách nhau một hành lang rộng chưa đầy hai mét. Đêm ấy khu chung cư mất điện, thang máy dừng, cô bị kẹt dưới sảnh với hai túi đồ và một chiếc chân bó bột. Mẹ tôi xuống giúp, lúc lên mới hỏi: cô tên gì nhỉ? Cô cười: Lựu, nhà chị ở đây lâu hơn tôi đấy. Câu chuyện ấy cứ ở lại trong tôi, như một câu hỏi về lối sống của không ít gia đình thành phố: ta ở cạnh nhau rất gần, mà sống xa nhau rất xa.
Lối sống khép kín ở đô thị là khi mỗi gia đình đóng cửa căn hộ của mình, đi về theo giờ riêng, gần như không trao đổi gì với người sống ngay bên cạnh. Ở quê ngoại tôi, ai đi chợ về cũng ghé ngõ nhà ai đó vài câu; ở khu tôi, người ta gặp nhau trong thang máy chừng ba mươi giây, mắt ai cũng dán vào điện thoại hoặc con số nhảy trên bảng.
Lối sống ấy không tự nhiên mà có. Nhịp làm việc của người lớn kín từ sáng đến tối. Nhà ở chung cư được thiết kế để riêng tư: cửa dày, hành lang không có chỗ ngồi, sân chung bị biến thành bãi để xe. Thêm nữa, nhiều người đến từ những nơi khác nhau, không có họ hàng, không có những sợi dây làng xóm cũ. Và cũng phải nói thật, người ta ngại: ngại làm phiền, ngại bị làm phiền, ngại những rắc rối có thể đến từ việc thân quá với người lạ.
Tôi không cho rằng sự riêng tư là xấu. Mỗi gia đình cần một không gian của mình, và một kiểu hàng xóm ngày nào cũng sang hỏi han chuyện nhà người khác thì cũng mệt. Nhưng khép kín đến mức không biết tên nhau là đã đi quá xa. Cái giá của nó, ta chỉ thấy khi có chuyện: một người già ngã trong nhà không ai hay, một em nhỏ về nhà không có chìa khóa, một đám cháy nhỏ mà không ai biết gọi cửa nhà ai. Hàng xóm, như ông bà ta hay nói, là những người có thể chạy sang trong vài giây, nhanh hơn mọi người thân ở xa. Một khu nhà mà không ai biết ai thì cũng như một khu nhà không có chuông báo động.
Mất mát còn nằm ở những thứ khó đo hơn. Trẻ con lớn lên trong căn hộ khép kín ít có dịp học cách chào hỏi người lạ, chia sẻ một món đồ chơi, chịu đựng tiếng ồn của nhà bên. Đó là những bài học nhỏ của đời sống chung mà không trường lớp nào dạy thay được.
Có người sẽ bảo: thời này ai lo phận nấy là văn minh. Tôi nghĩ văn minh là tôn trọng sự riêng tư của nhau, chứ không phải lờ nhau đi. Giữa hai thái cực ấy có một khoảng rất rộng: một câu chào trong thang máy, một tin nhắn trong nhóm cư dân báo nhà mình sắp sửa chữa, ồn mấy hôm, một túi cam mang sang ngày Tết.
Sau đêm mất điện, tầng tôi lập một nhóm trò chuyện nhỏ cho tám căn hộ. Không có gì to tát: ai cần nhờ nhận hộ đồ thì nhắn, nhà ai có người ốm thì báo. Tháng trước, cô Lựu tháo bột, mang sang mỗi nhà một hộp chè. Lần đầu tiên, tôi thấy cái hành lang hai mét ấy ngắn lại.
Mẫu 2: Cái ngăn kéo đầy điện thoại hỏng
Bài dự thi chủ đề Những góc nhìn cuộc sống.
Ông nội tôi có một ngăn kéo mà cả nhà gọi đùa là bảo tàng. Trong đó có bốn chiếc điện thoại đã chết, hai cái sạc dự phòng phồng lên như bánh bao, một chiếc máy ảnh kĩ thuật số, mấy chục viên pin tiểu đủ màu. Hôm dọn nhà đón Tết, mẹ định đổ cả ngăn kéo vào bao tải rác. Ông giữ tay mẹ lại: không được, đồ này vứt bừa là độc. Ông nói đúng, và cái ngăn kéo ấy làm tôi muốn viết về một thứ rác mà ta ít khi coi là rác: rác thải điện tử.
Rác thải điện tử là những thiết bị điện, điện tử đã hỏng hoặc bị bỏ đi: điện thoại, máy tính, pin, sạc, tai nghe, đồ gia dụng. Khác với vỏ chai hay túi giấy, trong chúng có những kim loại nặng và hóa chất có thể ngấm vào đất, vào nước nếu bị đập vỡ, đốt hoặc chôn lẫn với rác sinh hoạt. Viên pin nhỏ trong chiếc điều khiển ti vi trông vô hại, nhưng nằm ở bãi rác dưới mưa nắng nhiều năm thì chẳng còn vô hại nữa.
Vấn đề này lớn dần cùng với cách ta dùng đồ. Điện thoại ngày càng rẻ, càng nhanh lỗi thời; hãng nào cũng ra mẫu mới mỗi năm; sửa một chiếc máy cũ đôi khi đắt hơn mua chiếc mới. Thế là đồ điện tử đi vào nhà ta nhanh hơn bao giờ hết, còn đường ra của nó thì mù mờ. Phần lớn chúng ta không biết vứt một viên pin hỏng vào đâu cho đúng, nên hoặc ném chung vào thùng rác, hoặc cất vào một cái ngăn kéo như của ông tôi, coi như chuyện của tương lai.
Có ý kiến cho rằng rác điện tử là chuyện của nhà máy, của chính quyền, một học sinh làm được gì. Tôi thấy ý kiến ấy đúng một nửa. Đúng là việc tái chế cần hệ thống, cần doanh nghiệp, cần quy định rõ ràng về trách nhiệm thu hồi của nhà sản xuất. Nhưng mọi hệ thống thu gom đều vô ích nếu người dùng không mang đồ đến. Và người dùng là chúng ta.
Người trẻ làm được nhiều hơn mình nghĩ. Trước hết là giữ đồ lâu hơn: không đổi điện thoại chỉ vì nó không còn là mẫu mới nhất, thay pin thay vì thay máy. Thứ hai là tìm hiểu xem gần mình có điểm thu gom pin, đồ điện tử cũ không: một số siêu thị, cửa hàng điện máy, trường học và tổ chức môi trường có thùng thu gom, thông tin này tra được trên mạng hoặc hỏi ở tổ dân phố. Thứ ba là lan truyền điều mình biết cho người nhà, như ông tôi đã làm với mẹ.
Cuối cùng, ngăn kéo của ông được dọn sạch. Tôi và ông bỏ tất cả vào một hộp các-tông, mang đến thùng thu gom ở một cửa hàng điện máy cách nhà hai cây số. Ông đi bộ cùng tôi, vừa đi vừa kể chiếc điện thoại đầu tiên của ông mua năm nào, nhắn được bao nhiêu chữ. Bảo tàng đóng cửa, nhưng câu chuyện thì tôi giữ lại.
Mẫu 3: Một đoạn clip mười lăm giây và cơn mưa phán xét
Đoạn clip dài mười lăm giây: một anh giao hàng quát lớn với một bà cụ ở cổng chung cư. Chỉ trong một buổi tối, nó được chia sẻ hàng nghìn lần, kèm những lời bình luận nặng nề nhất mà tôi từng đọc. Người ta tìm ra tên anh, trang cá nhân của anh, cả ảnh vợ con anh. Hai ngày sau, một đoạn clip dài hơn xuất hiện: trước đó, bà cụ đã ngã, anh quát vì một chiếc xe máy đang lao vào chỗ bà ngồi. Nhưng lúc ấy, cơn mưa phán xét đã đổ xong. Tôi không nhớ tên anh, chỉ gọi anh là người giao hàng, nhưng câu chuyện của anh khiến tôi nghĩ mãi về chuyện ném đá tập thể trên mạng, và về trách nhiệm của mỗi lời ta gõ ra.
Ném đá tập thể là khi rất nhiều người cùng lúc công kích một cá nhân trên mạng, thường dựa vào một mẩu thông tin ngắn, chưa được kiểm chứng. Nó khác với phê bình: phê bình nhắm vào hành vi và cần lí lẽ; ném đá nhắm vào con người và chỉ cần cảm xúc.
Vì sao chuyện ấy xảy ra dễ dàng đến thế? Vì mạng xã hội thưởng cho tốc độ: người bình luận sớm nhất, gay gắt nhất được nhiều lượt thích nhất. Vì đám đông cho ta cảm giác an toàn: hàng nghìn người cùng nói, lỗi chẳng còn là của riêng ai. Và vì một đoạn clip ngắn rất giống sự thật, dù nó chỉ là một lát cắt của sự thật.
Hậu quả thì không ngắn như đoạn clip. Người bị ném đá có thể mất việc, gia đình bị quấy rối, tinh thần suy sụp, kể cả khi sau đó sự thật được làm rõ. Lời xin lỗi, nếu có, hiếm khi lan nhanh bằng lời chửi. Còn những người ném đá, họ quên rất nhanh. Chính vì quên nhanh nên họ sẵn sàng ném lần nữa, ở một đoạn clip khác.
Có bạn cho rằng mạng xã hội giúp phanh phui cái xấu, nhiều vụ việc sai trái được xử lí nhờ dư luận lên tiếng. Tôi đồng ý. Sức mạnh của đám đông trên mạng có thể làm được việc tốt. Nhưng sức mạnh nào cũng cần trách nhiệm đi kèm. Lên tiếng về một việc sai là khác với kết án một con người khi chưa biết đủ. Người lên tiếng có trách nhiệm sẽ đợi thêm thông tin, nói về hành vi chứ không xúc phạm nhân thân, và không bao giờ đăng thông tin riêng tư của người khác.
Tôi tự đặt cho mình một quy tắc sau chuyện người giao hàng: trước khi bình luận về ai đó, hãy hỏi mình có dám nói câu ấy khi đứng trước mặt họ, trước mặt mẹ họ không. Nếu không, câu ấy không đáng được gõ ra.
Bài văn về lối sống tích cực
Bốn bài tiếp theo bám đề lối sống tích cực (Bài 4 sách Kết nối tri thức), cũng có thể gửi dự thi theo đề Chân trời sáng tạo.
Mẫu 4: Học không dừng ở cổng trường
Bác Thoan, bố của bạn thân tôi, làm thợ sắp chữ rồi thợ in hơn hai mươi năm. Bác kể ngày trước, một trang báo được ghép từ hàng nghìn con chữ chì, mỗi con chữ bác đều nhận ra bằng đầu ngón tay. Rồi máy tính đến, rồi in kĩ thuật số đến, rồi xưởng in nơi bác làm thu hẹp dần. Ở tuổi bốn mươi lăm, bác ngồi vào bàn phím lần đầu tiên, học dàn trang trên máy, học chỉnh màu, học cả những từ tiếng Anh in trên menu phần mềm. Bây giờ bác nhận thiết kế bao bì cho mấy cơ sở sản xuất nhỏ. Câu chuyện của bác là câu trả lời rõ nhất tôi có cho một vấn đề lớn: trong một thế giới đổi thay nhanh, học tập suốt đời không còn là khẩu hiệu mà là điều kiện để sống.
Học tập suốt đời là việc mỗi người tiếp tục học sau khi rời ghế nhà trường, học trong công việc, học qua sách vở, qua mạng, qua người khác, học để làm tốt hơn và để thích nghi. Nó không nhất thiết là thêm một tấm bằng. Bác Thoan không có thêm tấm bằng nào, nhưng bác đã học xong một nghề mới.
Vì sao điều này ngày càng cấp thiết? Lí do dễ thấy nhất là nghề nghiệp thay đổi nhanh hơn một đời người. Nghề sắp chữ chì của bác biến mất trong chưa đầy một thế hệ. Trí tuệ nhân tạo, đề tài của một bài đọc ngay trong Bài 2 sách Chân trời sáng tạo, đang khiến nhiều người phải tự hỏi công việc của mình còn đứng vững được bao lâu. Kiến thức học ở trường, dù tốt đến đâu, cũng sẽ có ngày cũ. Một người ngừng học khi tốt nghiệp giống như một người cầm tấm bản đồ in từ mười năm trước đi tìm đường trong thành phố bây giờ.
Lí do thứ hai ít được nói hơn: học suốt đời giữ cho con người trẻ trong cách nghĩ. Tôi để ý thấy những người lớn tuổi mà vẫn đọc, vẫn hỏi, vẫn chịu thử cái mới thường vui vẻ, cởi mở hơn với con cháu. Bác Thoan bây giờ hay nhờ chúng tôi chỉ cách dùng phần mềm mới, rồi lại chỉ ngược cho chúng tôi những mẹo căn chữ mà máy tính không biết. Học, khi ấy, là một cách giữ mình không bị bỏ lại, cả trong nghề lẫn trong gia đình.
Lí do thứ ba gắn với tuổi của chúng tôi. Nếu học suốt đời là điều tất yếu, thì điều quan trọng nhất trường phổ thông có thể cho ta không phải là một khối lượng kiến thức, mà là cách học: biết tự đặt câu hỏi, biết tìm tài liệu, biết kiểm tra thông tin, biết chịu đựng cảm giác chưa hiểu. Bài viết mẫu mà bộ Chân trời sáng tạo đưa vào phần Viết, bàn về tầm quan trọng của việc học phương pháp học, cũng xoáy vào điểm ấy. Một học sinh chỉ học thuộc lời giải mẫu để thi sẽ rất khổ khi bước vào một thế giới không có lời giải mẫu.
Có ý kiến cho rằng nói học suốt đời là đẩy gánh nặng lên vai từng người: xã hội thay đổi nhanh, sao bắt người lao động tự xoay xở? Tôi thấy ý kiến này đáng lắng nghe. Không phải ai cũng có thời gian, tiền bạc và sức khỏe như nhau để học lại từ đầu ở tuổi bốn mươi. Bác Thoan học được vì có các con đi làm đỡ đần, có một người bạn cũ chỉ dạy miễn phí. Vì vậy, học tập suốt đời không thể chỉ là chuyện của cá nhân. Doanh nghiệp cần đào tạo lại người lao động, các lớp học cộng đồng, thư viện, khóa học trực tuyến miễn phí cần nhiều hơn và dễ tiếp cận hơn. Nhưng dù xã hội có hỗ trợ đến đâu, người phải bước vào lớp học vẫn là chính ta.
Với người mười sáu, mười bảy tuổi, học suốt đời bắt đầu bằng những việc rất nhỏ: đọc thêm một cuốn sách không có trong chương trình, học một kĩ năng không ai bắt học, và quan trọng hơn cả, đừng ghét việc học chỉ vì từng ghét những bài kiểm tra.
Hôm trước, bác Thoan đưa tôi xem con chữ chì cuối cùng bác giữ lại, chữ A in hoa, mòn vẹt một góc. Bác bảo nó nhắc bác rằng mình từng giỏi một nghề đã mất, và vẫn có thể giỏi thêm một nghề nữa. Tôi nghĩ ai cũng nên có một con chữ như thế trong túi.
Mẫu 5: Sợ bỏ lỡ: khi cả lớp đi săn vé
Mười giờ sáng thứ Bảy, lớp tôi im phăng phắc, không phải vì bài kiểm tra, mà vì hai mươi chiếc điện thoại đang cùng mở một trang bán vé buổi diễn của một ban nhạc nổi tiếng. Quế ngồi cạnh tôi bấm làm mới trang liên tục, tay run. Hết vé sau chưa đầy mười phút. Quế khóc, rồi buổi chiều mua lại một vé từ người bán trên mạng với giá gấp ba, bằng tiền dành dụm cả năm. Tôi hỏi bạn có thích ban nhạc ấy lắm không. Bạn nghĩ một lúc rồi bảo: cũng bình thường, nhưng cả lớp đi mà mình không đi thì…
Câu nói bỏ lửng ấy có một cái tên: hội chứng sợ bỏ lỡ. Đó là cảm giác lo lắng rằng người khác đang có những trải nghiệm vui vẻ, đáng giá mà mình không có mặt. Ai cũng từng cảm thấy nó ở mức nhẹ. Nhưng khi nó điều khiển các lựa chọn của ta, từ tiêu tiền, dùng thời gian đến chọn bạn, thì nó thành một vấn đề.
Mạng xã hội là mảnh đất màu mỡ nhất của nỗi sợ này. Mỗi lần lướt, ta thấy hàng chục người đang ở buổi diễn, quán cà phê mới, chuyến đi xa. Ta không thấy những ngày bình thường của họ, nên đời mình bỗng trông nhạt hơn đời người. Những người bán hàng hiểu điều đó rất rõ: chữ số lượng có hạn, đồng hồ đếm ngược, dòng chữ chỉ còn ba suất được đặt ra để đánh thẳng vào nỗi sợ ấy.
Cái hại của nó không chỉ là tiền. Người sợ bỏ lỡ thường sống ở nơi khác với nơi mình đang đứng: ngồi trong lớp mà lo bên ngoài có gì vui, đến buổi diễn mà lo chụp ảnh cho đủ. Họ cũng dần đánh mất khả năng biết mình thật sự thích gì, vì mọi lựa chọn đều được đo bằng việc người khác đang làm gì.
Nỗi sợ ấy còn có một mặt ít ai để ý: nó làm ta không chịu nổi sự bình thường. Một buổi tối thứ Bảy ở nhà đọc sách, giúp mẹ nấu cơm, ngủ sớm, vốn là một buổi tối dễ chịu, bỗng thành một buổi tối thất bại chỉ vì ta vừa thấy ảnh bạn bè ở một nơi nào đó rực rỡ hơn. Người trẻ cần học lại cách bằng lòng với những ngày không có gì để khoe. Phần lớn đời người được làm từ những ngày như thế, và nếu ngày nào cũng phải có gì đó đặc biệt thì ta sẽ chẳng bao giờ thấy đủ.
Tôi không cho rằng muốn có mặt trong những sự kiện chung là xấu. Đi xem một buổi diễn cùng cả lớp có thể là một kỉ niệm đẹp. Điều đáng bàn là lí do. Hãy hỏi mình trước khi bấm mua: nếu không ai biết mình đi, mình có còn muốn đi không?
Quế vẫn đi buổi diễn ấy. Về, bạn kể vui, nhưng cũng kể rằng cả buổi bạn chỉ thuộc lời hai bài. Lần sau, bạn bảo, sẽ chỉ săn vé cho ban nhạc mà mình thuộc hết lời.
Mẫu 6: Nhiều bạn trên mạng, không ai để gọi lúc nửa đêm
Tài khoản của Vũ có hơn hai nghìn người theo dõi. Ảnh nào cậu đăng cũng có hàng trăm lượt thích, bình luận nào cũng có người trả lời. Thế mà đêm bố cậu nhập viện, cậu ngồi ở hành lang bệnh viện với chiếc điện thoại sáng trưng và không biết gọi cho ai. Cậu kể với tôi điều đó nhiều tháng sau, bằng giọng rất bình thản, như kể chuyện của người khác. Tôi thì không bình thản được. Nó làm tôi nghĩ về một nghịch lí của thời mình sống: chưa bao giờ con người kết nối với nhau dễ như thế, và có lẽ cũng chưa bao giờ nhiều người cô đơn đến thế.
Cô đơn ở đây không phải là ở một mình. Ở một mình có thể rất dễ chịu, là lúc ta đọc sách, nghĩ ngợi, nghỉ ngơi. Cô đơn là cảm giác không có ai thật sự hiểu mình, không có ai mình có thể dựa vào khi cần. Một người có thể ở giữa đám đông, giữa hàng nghìn người theo dõi, mà vẫn cô đơn.
Vì sao kết nối nhiều mà gần nhau ít? Tôi nghĩ vì phần lớn những kết nối trên mạng được xây bằng thứ rẻ nhất: một lượt thích, một biểu tượng cảm xúc, một câu bình luận đùa. Chúng nhẹ, nhanh, không đòi hỏi gì. Còn một tình bạn thật thì đắt hơn nhiều: cần thời gian, cần ngồi với nhau những buổi chẳng có gì đặc biệt, cần dám kể cho nhau những chuyện không đẹp. Khi ta tiêu gần hết thời gian và sức lực cho những kết nối rẻ, ta còn rất ít cho những kết nối đắt.
Thêm nữa, mạng xã hội là nơi người ta trình bày phiên bản đẹp nhất của mình. Vũ đăng ảnh đi chơi, ảnh điểm cao, ảnh đội bóng thắng. Cậu không đăng chuyện bố mẹ cãi nhau, chuyện cậu mất ngủ. Hai nghìn người theo dõi biết rất nhiều về phiên bản đẹp của Vũ, và không ai biết gì về cậu thật. Ai cũng làm như vậy, nên ai cũng nghĩ mình là người duy nhất có những ngày tồi tệ. Sự cô đơn, theo cách ấy, lây lan âm thầm qua chính những bức ảnh tươi cười.
Tôi không đổ hết lỗi cho công nghệ. Chính mạng xã hội đã giúp những người ở xa giữ liên lạc, giúp những bạn trẻ có sở thích lạ tìm được người cùng sở thích, giúp những người ngại giao tiếp có chỗ để bắt đầu. Có những tình bạn lớn bắt đầu từ một dòng bình luận. Vấn đề không nằm ở công cụ, mà ở chỗ ta có biết chuyển một kết nối trên mạng thành một sự có mặt ngoài đời hay không.
Theo tôi, chúng ta cần tập lại cách làm bạn theo kiểu đắt tiền. Gọi điện thay vì nhắn tin vào những lúc quan trọng. Hẹn nhau đi bộ một vòng thay vì chỉ thả tim cho nhau. Và đôi khi, dám là người hỏi trước: dạo này cậu ổn không, ổn thật ấy? Câu hỏi đó có thể làm người kia lúng túng, nhưng cũng có thể là câu mà họ đã chờ cả tháng.
Từ sau buổi nói chuyện ấy, Vũ và tôi có một quy ước: ai gọi lúc nửa đêm thì người kia phải nghe máy, không hỏi lí do. Đến giờ chưa ai phải dùng đến quy ước ấy. Nhưng biết là có một người sẽ nghe máy, tự nhiên đêm cũng bớt dài.
Mẫu 7: Người trẻ học nghề thủ công qua màn hình
Bài viết bàn về một hiện tượng tích cực.
Chị Lan Chi, chị họ tôi, tốt nghiệp ngành kế toán, đi làm văn phòng được hai năm thì bắt đầu học làm gốm qua những đoạn video trên mạng. Chị mua đất sét, mượn bàn xoay của một xưởng nhỏ, hỏng không biết bao nhiêu mẻ. Bây giờ chị có một góc xưởng riêng, bán những chiếc cốc men xanh lệch lệch, mỗi chiếc một kiểu. Chị không phải trường hợp hiếm. Quanh tôi, ngày càng nhiều người trẻ tìm đến những nghề thủ công như gốm, thêu, đan lát, làm giấy, qua các khóa học trực tuyến và cộng đồng trên mạng. Tôi cho đây là một hiện tượng đáng mừng, dù không nên lãng mạn hóa nó.
Trước hết, nó cho thấy người trẻ đang tìm lại giá trị của bàn tay. Sau nhiều giờ trước màn hình, làm ra một vật có thể cầm được, dùng được, đem lại một niềm vui mà không lượt thích nào thay thế. Chị Lan Chi nói những lúc nhồi đất là lúc đầu óc chị yên nhất trong ngày.
Thứ hai, hiện tượng này giúp một số nghề truyền thống có thêm người nối nghiệp. Nhiều làng nghề lo không có người trẻ theo, vì nghề vất vả, thu nhập bấp bênh. Khi người trẻ học nghề qua mạng, kể chuyện nghề trên mạng, họ mang nghề đến những người mua mới, và đôi khi kéo được cả những người thợ già vào câu chuyện. Có người học thêu qua mạng rồi tìm về tận làng nghề, ở lại hàng tháng để học tay nghề thật.
Nhưng cần nhìn cả mặt khác. Học qua video chỉ là bước đầu; nghề thủ công cần thầy, cần thời gian, cần trăm lần làm hỏng. Không ít người theo phong trào, mua đồ nghề, đăng vài tấm ảnh rồi bỏ. Cũng có những sản phẩm gắn mác thủ công mà thực ra làm hàng loạt, khiến người mua mất niềm tin. Và nghề thủ công khó nuôi sống người làm nếu chỉ dựa vào cảm hứng.
Điều tôi thấy đáng quý nhất ở hiện tượng này là nó đi ngược với nhịp sống nhanh mà người trẻ hay bị gắn vào. Một chiếc cốc gốm cần nhiều ngày phơi, nung; một tấm khăn thêu có thể mất cả tháng. Người chịu học những nghề như thế là người đang tự tập cho mình sự chậm rãi, tỉ mỉ, chịu trách nhiệm đến từng đường kim. Những phẩm chất ấy, dù sau này họ có sống bằng nghề thủ công hay không, cũng sẽ đi theo họ vào mọi việc khác.
Vì thế, người trẻ đến với nghề thủ công cần sự kiên nhẫn và trung thực: học đến nơi, ghi rõ sản phẩm của mình làm thế nào, tôn trọng người thợ truyền thống. Chị Lan Chi treo ở xưởng một tấm giấy ghi tên người thầy đã dạy chị chuốt men. Chị bảo đó là tấm giấy quan trọng nhất trong xưởng, quan trọng hơn cả biển hiệu.
Bài văn về một hiện tượng đời sống
Ba bài hợp với đề Cánh diều Bài 9; mẫu 8 làm đúng đề thực hành trong sách.
Mẫu 8: Hiện tượng sính dùng tiếng nước ngoài trong giao tiếp
Bài làm trong 90 phút, theo đề thực hành của Cánh diều.
Buổi họp câu lạc bộ khởi nghiệp của trường tôi tuần trước kéo dài bốn mươi phút. Tôi thử đếm: Đạt, trưởng ban, nói chữ deadline mười một lần, team chín lần, ngoài ra còn có pitching, feedback, brainstorm, và một câu khiến cả phòng cười: chúng ta cần chill hơn với cái plan này. Không ai trong phòng thiếu từ tiếng Việt để nói những điều ấy. Đó là hình ảnh nhỏ của một hiện tượng khá phổ biến trong giới trẻ: sính dùng tiếng nước ngoài trong giao tiếp hằng ngày.
Cần phân biệt sính dùng với dùng đúng chỗ. Có những từ mượn đã thành một phần của tiếng Việt, hoặc những thuật ngữ chuyên ngành chưa có từ tương đương gọn gàng, như tên một ngôn ngữ lập trình. Dùng chúng là bình thường. Sính dùng là khi chen tiếng nước ngoài vào chỗ tiếng Việt nói được, nói hay, chỉ vì thấy như thế sang hơn, trẻ hơn, giống người trong nghề hơn.
Hiện tượng này có nhiều nguyên nhân. Người trẻ học ngoại ngữ sớm, xem phim, nghe nhạc, chơi trò chơi bằng tiếng Anh nhiều giờ mỗi ngày, nên những từ ấy bật ra rất tự nhiên. Môi trường làm việc ở nhiều công ty cũng quen pha trộn như vậy, và người trẻ bắt chước để tỏ ra chuyên nghiệp. Nhưng cũng phải thẳng thắn: có một phần là tâm lí muốn khoe, muốn được nhìn nhận là thuộc về một nhóm hiện đại, hiểu biết.
Cái giá phải trả lớn hơn vẻ ngoài vô hại ấy. Câu nói pha trộn khiến người nghe lớn tuổi, người không biết ngoại ngữ thấy bị đẩy ra ngoài cuộc trò chuyện. Bà nội tôi đã từng hỏi lại, cháu nói chill là cái gì. Lâu dần, người nói cũng mất khả năng tìm từ tiếng Việt cho chính xác: muốn nói hạn chót, hạn nộp mà không nghĩ ra, đành nói deadline. Một ngôn ngữ mà người dùng không chịu dùng thì sẽ nghèo đi, không phải vì nó thiếu từ, mà vì người ta quên mất những từ nó có.
Có bạn sẽ phản đối: ngôn ngữ nào cũng vay mượn, tiếng Việt đã vay hàng nghìn từ gốc Hán, gốc Pháp, sao giờ lại khắt khe với tiếng Anh? Tôi thấy lập luận này có lí. Vay mượn làm giàu ngôn ngữ, nếu từ mượn lấp vào một chỗ trống và được Việt hóa dần. Nhưng chen tiếng Anh vào chỗ đã có từ tiếng Việt quen thuộc không phải là vay mượn, mà là thay thế. Hai việc ấy khác nhau như việc mua thêm một món đồ cần thiết và việc vứt đồ cũ còn tốt đi để khoe đồ mới.
Giải pháp không phải là cấm đoán hay chế giễu người chen tiếng nước ngoài. Mỗi người có thể tự đặt cho mình một thói quen: nói tiếng Việt khi nói tiếng Việt, nói tiếng Anh khi nói tiếng Anh, và nói cả hai cho thật tốt. Câu lạc bộ có thể có một tờ giấy dán tường ghi những từ hay dùng kèm từ tiếng Việt tương đương. Nhà trường, truyền thông cũng có thể góp phần bằng chính cách dùng chữ của mình.
Buổi họp tuần này, Đạt mở đầu bằng câu: hạn nộp kế hoạch là thứ Sáu nhé cả nhóm. Cả phòng vỗ tay, nửa trêu, nửa thật lòng. Đạt cười, bảo nghe cũng gọn đấy chứ.
Mẫu 9: Khi người nổi tiếng trên mạng bán một lời hứa chữa bệnh
Mẹ tôi từng mua ba hộp viên uống vì một người nổi tiếng trên mạng nói rằng chị đã khỏi đau dạ dày nhờ nó. Đoạn video quay ở một căn bếp sáng sủa, chị cười rất tươi, phía dưới hàng nghìn bình luận cảm ơn. Ba hộp hết, mẹ vẫn đau, và cuối cùng phải đi khám, uống thuốc theo đơn bác sĩ. Chuyện của mẹ không hiếm. Nó cho thấy một hiện tượng đáng lo: người có ảnh hưởng trên mạng quảng cáo sản phẩm, nhất là sản phẩm liên quan đến sức khỏe, bằng những lời hứa không có căn cứ.
Những người có lượng theo dõi lớn trên mạng có một thứ quý giá: lòng tin của người xem. Người xem coi họ như một người bạn, một người chị đáng tin, nên một lời giới thiệu của họ thuyết phục hơn hẳn một mẩu quảng cáo truyền hình. Chính vì vậy, khi họ dùng lòng tin ấy để bán một lời hứa sai, cái hại lớn hơn hẳn.
Với sản phẩm sức khỏe, cái hại ấy cụ thể đến đáng sợ. Theo các quy định về quảng cáo mà Cục An toàn thực phẩm thuộc Bộ Y tế nhắc lại nhiều lần, quảng cáo thực phẩm bảo vệ sức khỏe phải có dòng khuyến cáo: “Thực phẩm này không phải là thuốc và không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh”. Một người nói rằng mình khỏi bệnh nhờ uống viên này là đã nói ngược lại chính dòng chữ ấy. Người bệnh tin theo có thể bỏ lỡ thời gian vàng để chữa trị, như mẹ tôi suýt bỏ lỡ.
Vì sao hiện tượng này tồn tại? Vì tiền: một video quảng cáo có thể mang lại khoản thu lớn. Vì nhiều người nổi tiếng không thật sự hiểu sản phẩm mình bán, chỉ đọc kịch bản nhãn hàng đưa. Và vì người xem chúng ta dễ tin những câu chuyện cá nhân hơn tin những lời khuyên khô khan của bác sĩ.
Có người cho rằng người nổi tiếng cũng chỉ đi làm kiếm tiền, người mua phải tự chịu trách nhiệm. Tôi đồng ý rằng người xem cần tỉnh táo. Nhưng trách nhiệm không thể chỉ đặt lên vai người yếu thế hơn về thông tin. Người dùng ảnh hưởng của mình để bán hàng phải chịu trách nhiệm về điều mình nói, như bất kì người bán hàng nào khác.
Người trẻ, những người sành mạng nhất trong nhà, có thể làm một việc thiết thực: làm người kiểm chứng cho cha mẹ, ông bà. Khi thấy người thân sắp mua một sản phẩm thần kì, hãy cùng họ tìm xem sản phẩm có dòng khuyến cáo kia không, có thông tin rõ ràng không, và khuyên họ hỏi bác sĩ trước. Từ hôm ấy, mẹ tôi có thói quen gửi cho tôi đường link trước khi mua bất cứ thứ gì để uống.
Mẫu 10: Thần tượng không phải là chiếc khiên che mắt
Bài viết ngắn.
Hồng Ân, bạn cùng lớp tôi, thức đến hai giờ sáng để bình chọn cho nhóm nhạc mình yêu thích, bằng sáu tài khoản khác nhau. Có lần, khi một bạn khác chê bài hát mới của nhóm, Ân đã lập một nhóm chat để cùng mọi người vào nhắn tin công kích bạn ấy. Hôm cô chủ nhiệm hỏi, Ân nói: em chỉ bảo vệ thần tượng. Câu trả lời ấy dẫn tôi đến một câu hỏi: yêu thần tượng đến đâu thì thành mù quáng?
Có thần tượng là điều đẹp. Một ca sĩ, một vận động viên, một nhà khoa học có thể truyền cho ta cảm hứng để tập luyện, để học, để vượt qua những ngày khó. Nhiều cộng đồng người hâm mộ còn cùng nhau làm từ thiện, trồng cây nhân sinh nhật thần tượng.
Thần tượng trở nên mù quáng khi tình yêu ấy che mắt ta trước sự thật và trước người khác. Biểu hiện của nó là bỏ học, bỏ ngủ, tiêu quá sức mình cho thần tượng; coi mọi lời góp ý về thần tượng là xúc phạm cá nhân; sẵn sàng tấn công người khác để bảo vệ một người mà mình chưa từng gặp. Khi ấy, người hâm mộ không còn được truyền cảm hứng, mà bị chính tình yêu của mình điều khiển.
Vì sao một bộ phận người trẻ đi đến mức ấy? Ở tuổi mới lớn, ta cần một nơi để thuộc về, và cộng đồng người hâm mộ cho ta điều đó: bạn bè cùng sở thích, những biệt danh chung, cảm giác cùng chiến đấu cho một điều gì. Khi cảm giác thuộc về ấy trở thành tất cả, mọi lời chê thần tượng đều nghe như một đòn đánh vào chính mình. Các chiến dịch bình chọn, bảng xếp hạng lại liên tục khơi thêm tinh thần thi đua, khiến tình yêu thành một cuộc đua không có vạch đích.
Người thần tượng được hâm mộ vì tài năng và sự nỗ lực của họ. Một người hâm mộ đúng nghĩa nên học từ chính điều ấy: chăm chỉ, tử tế, có chính kiến, chứ không phải bắt chước cơn giận của đám đông. Nếu thần tượng của bạn biết bạn đã tấn công một người vì họ, chắc gì họ đã vui.
Người lớn cũng không nên chỉ cấm đoán hay chê bai sở thích ấy, vì càng bị chê, người hâm mộ càng co cụm lại. Một câu hỏi tò mò, con thích nhóm nhạc ấy ở điểm nào, có khi mở ra được nhiều hơn mười lời cấm.
Sau buổi nói chuyện với cô, Ân xóa nhóm chat, nhắn xin lỗi bạn kia. Ân vẫn yêu nhóm nhạc ấy, vẫn bình chọn, nhưng chỉ bằng một tài khoản, và đi ngủ trước mười hai giờ.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi | Sửa thế nào |
|---|---|
| Chọn vấn đề to (môi trường, mạng xã hội) và viết như bài báo tổng hợp. | Thu về một biểu hiện cụ thể: pin cũ trong ngăn kéo, ném đá một người trên mạng, sính chữ deadline. |
| Đưa số liệu không nguồn, khảo sát không biết của ai. | Chỉ dùng con số tra lại được; không có thì quan sát tận mắt cũng là bằng chứng tốt. |
| Bỏ qua phần hoàn cảnh nảy sinh, nhảy thẳng vào phê phán. | Dành một đoạn cho câu hỏi vì sao vấn đề xuất hiện bây giờ, ở đây. |
| Góc nhìn khác chỉ là bình phong để đánh đổ. | Trình bày ý kiến ngược lại một cách công bằng, nhận chỗ nó đúng; bài có chiều sâu hơn hẳn. |
| Giải pháp chung chung (mỗi người cần nâng cao ý thức). | Nêu việc làm có địa chỉ: ai làm, làm gì, bắt đầu khi nào. |
| Dùng những câu mở bài sáo, những từ to tát. | Mở bằng một cảnh nhỏ có thật, viết bằng giọng của chính mình. |
Gợi ý bài nói: Trình bày ý kiến về một vấn đề xã hội
Ba bộ sách đều có phần Nói và nghe đi liền: trình bày ý kiến đánh giá, bình luận về một vấn đề xã hội (Chân trời sáng tạo, và Bài 3 của Kết nối tri thức), về một hiện tượng đời sống (Cánh diều); riêng Kết nối tri thức Bài 4 là thảo luận về một vấn đề trong đời sống. Vài cách đổi bài viết sang lời nói:
- Rút bài viết còn ba ý lớn, mỗi ý một câu chốt dễ nhớ.
- Giữ lại một câu chuyện mở đầu (mẫu 1, 2, 8 rất hợp), kể bằng lời tự nhiên.
- Chuẩn bị một đến hai bằng chứng cụ thể để trả lời khi có người phản biện.
- Khi nghe ý kiến ngược lại, tóm tắt điều bạn vừa nói rồi mới đáp, giữ giọng bình tĩnh.
Có thể mở lời như sau: Thưa cô và các bạn, nhà ông nội mình có một ngăn kéo cả nhà gọi là bảo tàng. Trong đó có bốn chiếc điện thoại hỏng, hai cục sạc phồng, mấy chục viên pin cũ. Mình đoán nhà nhiều bạn cũng có một cái ngăn kéo như vậy. Hôm nay mình muốn nói về chuyện nên làm gì với nó.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Với đề con người và cuộc sống xung quanh, đọc mẫu 1, 2, 3; đề lối sống tích cực ở Bài 4 có mẫu 4 đến mẫu 7, trong đó mẫu 4 và mẫu 6 dài, có phần góc nhìn khác rõ. Học sinh Cánh diều nên đọc mẫu 8, viết đúng đề thực hành, rồi mẫu 9, 10 để thấy cùng kiểu bài hiện tượng đời sống mà triển khai khác nhau. Mẫu 5 và mẫu 10 ngắn gọn, dùng để tập viết nhanh trong 45 phút.
Xem thêm:
- Soạn bài Cầu hiền chiếu, Một thời đại trong thi ca, Tôi có một ước mơ (Kết nối tri thức 11, Bài 3)
- Soạn bài Dương phụ hành, Thuyền và biển, Lời tiễn dặn (Kết nối tri thức 11, Bài 4)
- Soạn bài Người trẻ và những hành trang vào thế kỉ XXI, Công nghệ AI của hiện tại và tương lai, Một cây bút và một quyển sách có thể thay đổi thế giới (Chân trời sáng tạo 11, Bài 2)
- Soạn bài Tôi có một giấc mơ (Cánh diều 11)
- Nghị luận về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ (lớp 12)
- Bài luận thuyết phục từ bỏ một thói quen hay quan niệm (lớp 10)
- Nghị luận về một vấn đề cần giải quyết (lớp 9)