Soạn bài Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân theo SGK Ngữ văn 11 Cánh diều, tập một, Bài 3 (Truyện), từ trang 77 đến trang 84. Bài soạn gồm phần Chuẩn bị, mười một câu hỏi gợi ý bên lề văn bản và bảy câu hỏi Đọc hiểu cuối bài; văn bản trong sách Cánh diều được chia làm ba phần đánh số.
Nếu bạn học bộ Kết nối tri thức (lớp 10), hãy xem Soạn bài Chữ người tử tù – Ngữ văn 10 Kết nối tri thức. Muốn nắm cốt truyện trước khi trả lời, bạn có thể đọc Tóm tắt Chữ người tử tù.
Chuẩn bị – soạn bài Chữ người tử tù Cánh diều (trang 77)
Sách yêu cầu tìm hiểu về Nguyễn Tuân, ghi lại những thông tin giúp đọc hiểu truyện, đọc trước truyện và tham khảo vài bài viết bình giá tác phẩm.

Những điều cần biết về Nguyễn Tuân
- Nguyễn Tuân (1910 – 1987) sinh tại Hà Nội, trong một gia đình nhà nho lúc nền học chữ Hán đã suy. Ông tài hoa, hiểu biết rộng, có cá tính độc đáo, suốt đời đi tìm cái đẹp.
- Trước Cách mạng tháng Tám, ông nổi tiếng với các tập Vang bóng một thời, Một chuyến đi, Thiếu quê hương…; sau Cách mạng có Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi… Sở trường của ông là tùy bút, kí.
- Phong cách: luôn nhìn sự vật ở phương diện văn hóa, thẩm mĩ; câu văn công phu, giàu hình ảnh, ngôn ngữ phong phú, sáng tạo.
Xuất xứ truyện Chữ người tử tù
- Truyện ban đầu có tên Dòng chữ cuối cùng, đăng trên tạp chí Tao đàn năm 1939, sau in trong tập Vang bóng một thời (1940) và đổi tên thành Chữ người tử tù.
- Nhân vật Huấn Cao được xây dựng từ hình mẫu Cao Bá Quát – nhà thơ nổi tiếng viết chữ đẹp, từng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống triều đình.
- Văn bản trong SGK gồm ba phần: (1) quản ngục và thơ lại bàn về việc đón tù; (2) Huấn Cao ở trong ngục, được quản ngục biệt đãi; (3) cảnh cho chữ.
Câu hỏi bên lề khi đọc truyện Chữ người tử tù (trang 77–83)
Mười một ô gợi ý đặt cạnh văn bản trong sách Cánh diều:
Câu 1 (trang 77): Xác định ngôi kể và điểm nhìn của truyện
Trả lời: Truyện được kể ở ngôi thứ ba, người kể giấu mình. Điểm nhìn linh hoạt: phần lớn là điểm nhìn của người kể từ bên ngoài, nhưng nhiều đoạn chuyển vào bên trong nhân vật quản ngục (những suy nghĩ, lo lắng, mong ước của ông), giúp người đọc thấy Huấn Cao qua con mắt ngưỡng mộ của quản ngục.
Câu 2 (trang 77): Chú ý cách nhà văn giới thiệu nhân vật Huấn Cao
Trả lời: Huấn Cao không xuất hiện ngay mà được giới thiệu gián tiếp qua lời bàn bạc giữa viên coi ngục với thơ lại lúc vừa nhận công văn: đó là kẻ cầm đầu bọn phản nghịch, có tài bẻ khóa vượt ngục, lại nổi tiếng có tài viết chữ vừa nhanh vừa đẹp. Cách giới thiệu này tạo sự tò mò, đồng thời cho thấy ngay từ đầu Huấn Cao là người tài hoa và có khí phách.
Câu 3 (trang 78): Chú ý những từ ngữ chỉ không gian, thời gian trong truyện
Trả lời:
- Thời gian: buổi chiều tàn với tiếng trống thu không, chiều hôm, buổi sớm hôm sau, những ngày Huấn Cao ở trong ngục, và đêm sau chót ông còn ở trại giam.
- Không gian: trại giam tỉnh Sơn, chòi canh, dãy nhà ngục, buồng giam tối tăm ẩm thấp.
- Không gian, thời gian ấy u ám, tàn lụi, gợi cảnh một thời đã qua và sự ngột ngạt nơi ngục tù – nền cho vẻ đẹp tỏa sáng ở cuối truyện.
Câu 4 (trang 79): Ấn tượng của em về hình ảnh nhân vật quản ngục là gì?
Trả lời: Quản ngục hiện lên là người đứng tuổi, đầu điểm hoa râm, khuôn mặt từng đầy lo nghĩ nhưng lúc này bình lặng như “mặt nước ao xuân”. Ấn tượng nhất là con người ấy, dù sống giữa chốn độc ác, gian dối, vẫn giữ được sự hiền hậu, biết quý người tài, trọng người ngay thẳng. Nhà văn ví ông như âm thanh trong vắt lọt vào giữa một bản nhạc hỗn loạn – một tâm hồn trong sạch bị đặt nhầm chỗ.
Câu 5 (trang 80): Huấn Cao có những hành động, cử chỉ, lời nói như thế nào?
Trả lời: Lúc bị giải vào ngục, Huấn Cao lạnh lùng, ung dung “dỗ gông” – thúc mạnh đầu gông xuống thềm đá để rũ bỏ rệp, mặc kệ lời đe dọa của lính áp giải. Trong ngục, ông thản nhiên nhận rượu thịt như việc vẫn làm trong hứng sinh bình. Khi quản ngục khép nép hỏi có cần gì, ông đáp một cách khinh bạc, chỉ mong quản ngục đừng đặt chân vào buồng giam. Mọi cử chỉ, lời nói đều toát lên khí phách hiên ngang, coi thường cái chết và cường quyền.
Câu 6 (trang 80): Vì sao quản ngục đối xử đặc biệt với Huấn Cao?
Trả lời: Vì quản ngục là người yêu cái đẹp, say mê chữ đẹp; ông vốn kính phục tài viết chữ và khí phách của Huấn Cao, tiếc thương một người tài sắp phải chết. Ông còn ấp ủ ước nguyện có được chữ của Huấn Cao để treo trong nhà. Vì thế, ông chấp nhận nguy hiểm, lén biệt đãi người tù.
Câu 7 (trang 81): Chú ý thái độ, hành động, ngôn ngữ của Huấn Cao và viên quản ngục
Trả lời:
- Huấn Cao: kiêu bạc, lạnh lùng, nghi ngờ lòng tốt của quản ngục, nói lời khinh miệt, đuổi quản ngục ra.
- Quản ngục: nhẫn nhịn, lễ phép, khép nép; bị xua đuổi vẫn không giận, chỉ lui ra với một câu nhún nhường, rồi vẫn tiếp tục biệt đãi đều đặn.
- Sự đối lập này tạo kịch tính, đồng thời làm nổi bật khí phách của Huấn Cao và tấm lòng chân thành, kiên nhẫn của người say mê cái đẹp.
Câu 8 (trang 82): Quản ngục mong muốn điều gì? Vì sao ông lại có mong muốn đó?
Trả lời: Quản ngục mong có được chữ của Huấn Cao – một đôi câu đối do chính tay ông Huấn viết – để treo trong nhà. Ông mong vậy vì ông là người biết chữ, say mê thư pháp, coi chữ của Huấn Cao là báu vật, và biết rằng nếu không xin ngay thì cái đẹp ấy sẽ mất theo người tài khi Huấn Cao bị hành hình.
Câu 9 (trang 83): Vì sao Huấn Cao đồng ý cho viên quản ngục chữ?
Trả lời: Khi nghe quản ngục bày tỏ thật lòng, Huấn Cao xúc động vì tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” – quý trọng người tài – của ông ta. Huấn Cao nhận ra giữa chốn ngục tù vẫn có một người có sở thích cao quý, và tự thấy suýt nữa mình đã phụ một tấm lòng. Ông vốn không vì vàng bạc hay quyền thế mà cho chữ; ông cho chữ vì tri âm, vì một thiên lương đồng điệu.
Câu 10 (trang 83): Cảnh cho chữ diễn ra trong không gian, thời gian như thế nào?
Trả lời:
- Thời gian: đêm khuya – đêm sau chót của Huấn Cao ở trại giam, sáng hôm sau ông bị giải về kinh chịu án; trại giam chỉ còn tiếng mõ trên vọng canh.
- Không gian: buồng giam tối, hẹp, ẩm thấp, mạng nhện giăng kín tường, nền đất đầy phân chuột, phân gián; khói đuốc tỏa mù mịt.
- Đó là không gian, thời gian của cái xấu, cái chết – càng làm nổi bật cảnh tượng hiếm có ở cuối truyện.
Câu 11 (trang 83): Tư thế của các nhân vật được tác giả miêu tả ra sao?
Trả lời: Người tù cổ đeo gông, chân vướng xiềng nhưng ở tư thế chủ động, ung dung, đang dậm tô từng nét chữ. Ngược lại, viên quản ngục – người có quyền – lại khúm núm đặt từng đồng tiền kẽm làm dấu ô chữ; thầy thơ lại gầy gò run run bưng chậu mực. Vị thế xã hội bị đảo ngược: kẻ tử tù trở thành người trao tặng cái đẹp, người coi ngục thành kẻ cung kính đón nhận.
Đọc hiểu – trả lời câu hỏi sau truyện Chữ người tử tù (trang 84)
Bảy câu hỏi Đọc hiểu cuối văn bản trong sách Ngữ văn 11 Cánh diều tập một:
Câu 1 (trang 84): Truyện kể câu chuyện gì? Nhận xét về không gian, thời gian
Tác phẩm Chữ người tử tù kể câu chuyện gì? Hãy nhận xét về không gian, thời gian của câu chuyện đó.
Trả lời:
- Câu chuyện: viên quản ngục ở trại giam tỉnh Sơn, người say mê chữ đẹp, nhận một tử tù đặc biệt: Huấn Cao, người có tài viết chữ lừng danh. Ông lén biệt đãi Huấn Cao, bị khinh bạc vẫn kiên nhẫn, chỉ mong xin được chữ. Vào đêm sau chót Huấn Cao còn ở trại giam, hiểu được tấm lòng quản ngục, Huấn Cao cho chữ ngay trong buồng giam và khuyên ông bỏ nghề về quê giữ thiên lương.
- Không gian: nhà ngục – nơi tù túng, bẩn thỉu, đại diện cho cái ác và cường quyền; vậy mà ở đó lại có cuộc tương ngộ giữa hai con người cùng yêu cái đẹp.
- Thời gian: những ngày cuối của một người tử tù, khép lại bằng một đêm khuya; cũng là thời của một lớp nhà nho đang tàn, một nghệ thuật chữ đang chỉ còn “vang bóng”. Không gian, thời gian ấy tô đậm sự đối lập và vẻ bi tráng của câu chuyện.
Câu 2 (trang 84): Tình huống truyện và tác dụng
Xác định tình huống truyện. Tình huống ấy có tác dụng gì trong việc thể hiện đặc điểm của các nhân vật và tạo nên kịch tính cho câu chuyện?
Trả lời:
- Tình huống: cuộc gặp gỡ éo le giữa Huấn Cao – người tử tù, nghệ sĩ viết chữ đẹp, kẻ chống lại triều đình – với viên quản ngục – người thay mặt bộ máy cai trị ấy nhưng lại say mê chữ của Huấn Cao. Xét theo vị trí xã hội, hai người đối địch nhau; còn xét theo tình yêu cái đẹp, họ là đôi bạn tri kỉ. Phần Tự đánh giá cuối Bài 3 cũng có tình huống trớ trêu: anh kép hát mua vui lúc cha hấp hối, xem soạn bài Kép Tư Bền Cánh diều.
- Tác dụng với nhân vật: tình huống làm nổi bật vẻ đẹp của Huấn Cao (tài viết chữ, khí phách hiên ngang, tấm lòng trong sạch) và tấm lòng biệt nhỡn liên tài của quản ngục.
- Tác dụng tạo kịch tính: mâu thuẫn được đẩy lên từng bước (quản ngục biệt đãi – Huấn Cao khinh bạc – quản ngục kiên nhẫn – công văn hành hình đến – tâm sự được nói ra) rồi được giải quyết ở cảnh cho chữ, khiến câu chuyện căng thẳng, hồi hộp.
Câu 3 (trang 84): Cảm nhận về nhân vật Huấn Cao
Trả lời:
- Người nghệ sĩ tài hoa: chữ ông vuông vức, đẹp đến mức gửi gắm cả chí lớn một đời; có được chữ ông là có một báu vật.
- Người anh hùng có khí phách: dám chống lại triều đình; vào ngục vẫn ung dung, khinh bạc, không sợ cái chết.
- Một tấm lòng trong sạch: không vì tiền bạc, quyền thế mà ép mình cho chữ; nhưng khi hiểu tấm lòng quản ngục thì sẵn sàng cho chữ, còn ân cần khuyên người xin chữ về quê để giữ cái đời lương thiện.
- Ở Huấn Cao, tài năng, tấm lòng và dũng khí hòa làm một – hình tượng đẹp nhất trong thế giới nhân vật “vang bóng” của Nguyễn Tuân.
Câu 4 (trang 84): Suy nghĩ về nhân vật viên quản ngục
Nhân vật viên quản ngục để lại cho em những suy nghĩ gì? Vì sao nhân vật này được coi là “một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn xô bồ”?
Trả lời:
- Suy nghĩ: quản ngục là người có tâm hồn nghệ sĩ: biết đọc sách thánh hiền, say mê chữ đẹp, quý trọng người tài. Ông dám liều mình biệt đãi tử tù, kiên nhẫn chịu đựng thái độ khinh bạc chỉ vì yêu cái đẹp. Cuối truyện, ông cảm động vái lạy người tù và tự nhận là kẻ mê muội – cho thấy ông biết nhận ra lẽ phải, có khả năng hướng thiện.
- Vì sao là thanh âm trong trẻo: nhà ngục là bản đàn hỗn loạn, nơi sự độc ác và dối trá là lẽ thường; giữa môi trường ấy, sự hiền hậu và lòng trọng người ngay của quản ngục là một nét đẹp hiếm hoi, lạc điệu với xung quanh. Hình ảnh so sánh cũng thể hiện niềm tin của Nguyễn Tuân: cái đẹp, cái thiện vẫn có thể sống sót ngay giữa chốn bạo tàn.
Câu 5 (trang 84): Phân tích cảnh cho chữ và nhận xét
Phân tích cảnh Huấn Cao cho viên quản ngục chữ và nêu nhận xét của em về cảnh tượng ấy.
Trả lời:
- Bối cảnh: đêm khuya trong buồng giam bẩn thỉu, khói đuốc mù mịt – chốn chẳng ai nghĩ có thể sáng tạo nghệ thuật.
- Hình ảnh trung tâm: ba cái đầu người chụm lại trên tấm lụa trắng dưới ánh đuốc đỏ rực. Lụa trắng, mực thơm, nét chữ tươi tắn đặt giữa bóng tối và rác bẩn – cái đẹp lấn át cái xấu.
- Vị thế đảo ngược: người tù đeo gông lại đường hoàng như một người ban ơn; quản ngục khúm núm, thơ lại run run. Trật tự nhà tù bị đảo lộn, nhường chỗ cho trật tự của cái đẹp.
- Lời khuyên của Huấn Cao: chốn này hỗn tạp, khó giữ lòng trong sạch, nên bỏ nghề về quê rồi mới tính chuyện chơi chữ – cái đẹp phải gắn với cái thiện.
- Kết thúc: quản ngục vái người tù, nghẹn ngào nói câu “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” – cái đẹp đã cảm hóa con người.
- Nhận xét: nhà văn gọi đây là một cảnh tượng chưa từng thấy; cảnh ấy cho thấy ánh sáng thắng bóng tối, của cái đẹp, cái thiện trước cái xấu, cái ác; đồng thời thể hiện quan niệm thẩm mĩ tiến bộ của Nguyễn Tuân.

Câu 6 (trang 84): Biện pháp đối lập trong truyện và tác dụng
Đối lập là biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong các tác phẩm văn học lãng mạn. Hãy chỉ ra các biểu hiện và phân tích tác dụng của biện pháp đó trong truyện ngắn Chữ người tử tù.
Trả lời:
| Bình diện | Biểu hiện của sự đối lập |
| Nhân vật | Huấn Cao: tử tù mà hiên ngang, làm chủ; quản ngục: người có quyền mà khép nép, nhún nhường. |
| Bên trong mỗi nhân vật | Quản ngục làm nghề coi ngục mà có tâm hồn thanh cao; Huấn Cao vốn khinh bạc kẻ có quyền mà lại mềm lòng trước tấm lòng yêu chữ. |
| Không gian – hoạt động | Việc cho chữ thanh cao diễn ra trong buồng giam hôi hám; ánh đuốc đỏ, lụa trắng giữa bóng tối, mạng nhện. |
| Cái đẹp – cái xấu | Thiên lương, tài hoa đối lập với môi trường tàn nhẫn, lừa lọc của nhà ngục. |
Tác dụng: làm nổi bật vẻ đẹp phi thường của Huấn Cao và tấm lòng của quản ngục; tạo kịch tính, sức hấp dẫn; thể hiện chủ đề tác phẩm: cái đẹp, cái thiện bất tử, có sức cảm hóa con người dù ở nơi tăm tối nhất. Đây cũng là đặc trưng bút pháp lãng mạn của Nguyễn Tuân.
Câu 7 (trang 84): Điều tâm đắc và quan niệm về “chữ”, “thú chơi chữ”
Điều em tâm đắc nhất sau khi đọc truyện Chữ người tử tù là gì? Theo em, qua tác phẩm, nhà văn Nguyễn Tuân đã thể hiện quan niệm về “chữ” và “thú chơi chữ” như thế nào?
Trả lời:
- Điều tâm đắc (gợi ý): em tâm đắc nhất với tư tưởng cái đẹp không thể sống chung với cái ác: muốn giữ được cái đẹp, con người phải giữ thiên lương trong sạch. Lời khuyên cuối cùng của Huấn Cao khiến em hiểu rằng chơi chữ, chơi đẹp trước hết phải là người tốt.
- Quan niệm về chữ: chữ không chỉ là kí hiệu mà là một môn nghệ thuật (thư pháp), kết tinh tài năng, nhân cách và hoài bão của người viết; qua nét chữ Huấn Cao, người ta thấy được chí lớn và khát vọng của ông.
- Quan niệm về thú chơi chữ: là thú chơi thanh cao của người có văn hóa; người cho chữ phải đặt chữ đúng chỗ, cho đúng người tri âm; người chơi chữ phải có thiên lương, phải sống ở nơi trong sạch. Cái tài, cái đẹp phải đi liền với cái tâm, cái thiện.
Kết luận
Soạn bài Chữ người tử tù theo sách Ngữ văn 11 Cánh diều, em cần nắm được tình huống truyện độc đáo, vẻ đẹp của Huấn Cao và quản ngục, ý nghĩa đêm cho chữ cùng nghệ thuật đối lập – những nội dung trọng tâm khi học truyện trong Bài 3.
Nếu hay bí ở câu đầu và đoạn cuối, em có thể đọc các mẫu kết bài Chữ người tử tù.
Em nào thấy khó khi viết thân bài có thể xem cách triển khai trong bài phân tích Chữ người tử tù và lập dàn ý cảm nhận.
Xem thêm: