Không lâu sau năm 1958, nhà thơ Pháp Lu-i A-ra-gông dịch một truyện vừa của một tác giả trẻ người Cư-rơ-gư-dơ gần như vô danh, và trong lời tựa gọi đó là câu chuyện tình đẹp nhất thế giới. Truyện ấy là Gia-mi-li-a, còn tác giả là Ai-tơ-ma-tốp. Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp (Chinghiz Aitmatov, 1928 – 2008) là nhà văn Cư-rơ-gư-xtan viết bằng tiếng Cư-rơ-gư-dơ và tiếng Nga, tác giả Người thầy đầu tiên, Con tàu trắng, Và một ngày dài hơn thế kỷ. Ở Việt Nam, nhiều tài liệu cũ viết tên ông là Ai-ma-tốp; học sinh gặp ông ở lớp 6, 7 và 8.
Năm 1928 ở làng Sê-kê và người cha bị bắt năm 1937

| Tên đầy đủ | Chinghiz Torekulovich Aitmatov (Trin-ghi-dơ Tô-rê-cu-lô-vích Ai-tơ-ma-tốp); tài liệu cũ: Ai-ma-tốp |
| Năm sinh – năm mất | 12/12/1928 – 10/6/2008 |
| Quê quán | Làng Sê-kê (Sheker), Cư-rơ-gư-xtan (khi ấy thuộc Liên Xô); mất tại Nu-rem-be, Đức |
| Thể loại | Truyện vừa, tiểu thuyết, kịch |
| Tác phẩm tiêu biểu | Gia-mi-li-a (1958), Cây phong non trùm khăn đỏ (1961), Người thầy đầu tiên (1962), Vĩnh biệt Gun-xa-rư (1966), Con tàu trắng (1970), Và một ngày dài hơn thế kỷ (1980), Đoạn đầu đài |
| Giải thưởng | Giải thưởng Lê-nin (1963); Giải thưởng Nhà nước Liên Xô; Anh hùng Lao động Xã hội chủ nghĩa (1978); Anh hùng nước Cộng hòa Cư-rơ-gư-xtan (1997) |
| Trong SGK hiện hành | Người thầy đầu tiên (Ngữ văn 7, 8); Hai cây phong (Ngữ văn 6) |
Ông sinh ngày 12/12/1928, lớn lên ở làng Sê-kê, cha là người Cư-rơ-gư-dơ, mẹ là người Ta-ta. Cái tên Trin-ghi-dơ trùng với danh hiệu của Thành Cát Tư Hãn. Cha mẹ ông đều làm công chức nhà nước. Những năm ông ra đời, xứ sở chăn nuôi du mục này đang bị biến đổi nhanh chóng từ một vùng biên viễn của đế quốc Nga cũ thành một nước cộng hòa Xô viết, với nông trang tập thể và trường học Xô viết.
Năm 1937, người cha bị bắt ở Mát-xcơ-va với tội danh “chủ nghĩa dân tộc tư sản” và bị xử bắn năm 1938. Cậu bé chín tuổi lớn lên trong thân phận con của “kẻ thù nhân dân”. Hơn nửa thế kỷ sau, chính ông góp sức lập nên khu tưởng niệm Ata-Bây-it, nơi chôn những nạn nhân của năm 1938, và ông được an táng ở đó, nơi người cha nhiều khả năng cũng nằm.
Mười bốn tuổi làm thư ký hội đồng làng thời chiến
Chiến tranh Xô – Đức nổ ra khi ông mười hai tuổi. Đàn ông trong làng ra mặt trận; năm mười bốn tuổi, cậu học trò đã làm phụ tá thư ký hội đồng làng, rồi lần lượt làm người thu thuế, công nhân bốc vác, phụ việc cho kỹ sư. Hậu phương thời chiến, nơi phụ nữ, người già và trẻ con gánh việc đồng áng, chở lúa cho mặt trận, về sau chính là khung cảnh của Gia-mi-li-a và nhiều truyện khác.
Kinh nghiệm ấy giải thích một nét quen thuộc trong truyện của ông: người kể chuyện thường là một cậu bé hoặc một người nhìn lại tuổi thơ, và chiến tranh hiện diện như một khoảng vắng, những người đàn ông đi xa, những người ở lại phải tự lo liệu.
Từ trường chăn nuôi đến Viện Văn học Goóc-ki
Năm 1946, ông vào học khoa chăn nuôi của Học viện Nông nghiệp Cư-rơ-gư-dơ ở thủ đô Phrun-dê (nay là Bi-skếch). Văn chương đến sau: hai truyện ngắn đầu tiên in bằng tiếng Nga năm 1952, truyện đầu tiên bằng tiếng Cư-rơ-gư-dơ năm 1954. Từ năm 1956 đến 1958, ông học Viện Văn học Mác-xim Goóc-ki ở Mát-xcơ-va, rồi làm phóng viên báo Sự thật (Pravda) khoảng tám năm.
Như nhiều người Cư-rơ-gư-dơ có học thời ấy, ông thạo cả hai thứ tiếng và từng nói tiếng Nga cũng là tiếng mẹ đẻ của mình như tiếng Cư-rơ-gư-dơ. Phần lớn sáng tác đầu tay viết bằng tiếng Cư-rơ-gư-dơ, một số do ông tự dịch sang tiếng Nga; từ năm 1966 ông chủ yếu viết bằng tiếng Nga.
Gia-mi-li-a và lời tựa của A-ra-gông
Gia-mi-li-a (1958) được kể qua giọng một họa sĩ nhớ lại năm mười lăm tuổi. Chồng của chị dâu cậu, Gia-mi-li-a, đang ở mặt trận; trong những chuyến chở lúa, chị đem lòng yêu Đa-ni-ia-rơ, một thương binh trầm lặng về ở nhờ trong làng. Cậu bé được gia đình giao nhiệm vụ để mắt đến chị dâu, nhưng rốt cuộc lại giữ kín mối tình ấy và coi đó là tự do. Chính trải nghiệm này, theo lời người kể, khiến cậu chọn con đường làm họa sĩ.
Truyện đi ngược khuôn mẫu quen thuộc của văn học Xô viết lúc bấy giờ về người vợ chung thủy chờ chồng ra trận, nên có phần táo bạo. Bản dịch tiếng Pháp và lời tựa của A-ra-gông đưa tên tuổi tác giả ra thế giới. Tuy vậy, câu ca ngợi nổi tiếng kia nên hiểu là cảm xúc của một nhà thơ, không phải một bảng xếp hạng.
Truyện núi đồi và thảo nguyên: bốn truyện vừa, một giải Lê-nin
Năm 1963, tập Truyện núi đồi và thảo nguyên gồm bốn truyện vừa Gia-mi-li-a, Cây phong non trùm khăn đỏ, Mắt lạc đà và Người thầy đầu tiên mang về cho ông Giải thưởng Lê-nin, khi ông mới ba mươi tư tuổi. Ba năm sau, Vĩnh biệt Gun-xa-rư kể về tình bạn giữa một người chăn ngựa già và con tuấn mã của ông, cũng là câu chuyện về những đổ vỡ của đời sống nông trang, được tặng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô.
Người thầy đầu tiên (1962) kể chuyện thầy Đuy-sen, một thanh niên gần như mù chữ, một mình biến cái chuồng ngựa cũ thành trường học ở làng Ku-ku-rêu những năm 1920, và cô bé mồ côi An-tư-nai mà thầy giúp thoát khỏi cuộc hôn nhân ép buộc để đi học. Truyện được dựng thành phim năm 1965.
Người đọc cũng sớm nhận ra hai đặc điểm của ông: con vật gần như luôn là nhân vật thật sự, từ con ngựa Gun-xa-rư đến con lạc đà, bầy sói, và ông thường đưa vào truyện một truyền thuyết hay câu chuyện dân gian, không phải để kể lại chuyện cổ mà để soi vào đời sống hiện tại.
Người man-cớt và con lạc đà: huyền thoại trong tiểu thuyết
Con tàu trắng (1970) đặt một cậu bé mồ côi giữa đời sống thô bạo của một trạm kiểm lâm và truyền thuyết về Mẹ Hươu Sừng, tổ mẫu của tộc người Cư-rơ-gư-dơ. Mười năm sau, Và một ngày dài hơn thế kỷ (1980), tiểu thuyết đầu tiên của ông, đưa người đọc đến một ga xép giữa thảo nguyên Ca-dắc, nơi một công nhân đường sắt đưa tang bạn bằng lạc đà, ngay cạnh một sân phóng tên lửa vũ trụ.
Giữa tiểu thuyết là truyền thuyết về người man-cớt (mankurt): tù binh bị kẻ thù trùm đầu bằng da lạc đà tươi cho đến khi mất hết ký ức, trở thành nô lệ không còn biết cha mẹ, quê hương mình. Hình ảnh ấy nhanh chóng vượt khỏi trang sách, trở thành từ để chỉ người bị cắt lìa khỏi cội nguồn. Cuốn tiểu thuyết được dịch ra nhiều thứ tiếng.
Những tác phẩm cuối, như Đoạn đầu đài mở đầu và kết thúc bằng câu chuyện của sói mẹ Ác-ba-ra, cho thấy ông ngày càng lo âu về quan hệ giữa con người và thiên nhiên.
Nhà văn làm đại sứ và nghĩa trang Ata-Bây-it
Ông vào Đảng Cộng sản năm 1959, từng là đại biểu Xô viết Tối cao, ủng hộ chính sách cởi mở của Goóc-ba-chốp. Tờ New York Times khi đưa tin ông mất gọi ông là bạn và cố vấn của nhà lãnh đạo Liên Xô cuối cùng. Từ năm 1990, ông chuyển sang ngoại giao: đại sứ Liên Xô rồi Nga tại Lúc-xăm-bua, sau đó là đại diện của Cư-rơ-gư-xtan tại Liên minh châu Âu, NATO, UNESCO và các nước Bê-nê-lúc.
Tháng 5/2008, đang tham gia một đoàn làm phim ở Ca-dan (Nga), ông lâm bệnh, được đưa sang Đức chữa trị và mất vì viêm phổi ngày 10/6/2008 tại Nu-rem-be, thọ 79 tuổi. Thi hài được đưa về Cư-rơ-gư-xtan và an táng tại Ata-Bây-it, gần Bi-skếch, khu tưởng niệm ông đã góp công gây dựng. Nhà văn và người cha bị xử bắn bảy mươi năm trước cuối cùng nằm chung một nơi.
Ai-tơ-ma-tốp trong sách giáo khoa: Người thầy đầu tiên, Hai cây phong
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Người thầy đầu tiên (trích) | Ngữ văn 7 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 3 (Cội nguồn yêu thương) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Người thầy đầu tiên (trích) | Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 2 – Bài 6 (Truyện), thực hành đọc hiểu | Tóm tắt · Phân tích nhân vật thầy Đuy-sen |
| Hai cây phong (trích Người thầy đầu tiên) | Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 10 (Mẹ Thiên Nhiên), đọc kết nối chủ điểm | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
Cả hai văn bản đều lấy từ cùng một truyện vừa. Hai cây phong là đoạn mở đầu, khi người họa sĩ nhớ về hai cây phong trên đồi đầu làng Ku-ku-rêu; phần sau mới hé lộ ai đã trồng chúng. Đoạn trích ở lớp 7 và lớp 8 đi vào câu chuyện chính: An-tư-nai, nay là một viện sĩ, kể lại thuở nhỏ và người thầy đầu tiên của mình.
Ai-tơ-ma-tốp mất năm 2008 nên tác phẩm của ông và các bản dịch tiếng Việt đều còn được bảo hộ bản quyền. Các bài trên Văn VN vì vậy chỉ tóm lược và phân tích, không chép lại văn bản; khi học, em đọc toàn văn trong sách giáo khoa.