“Đối kính họa mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm” (soi gương vẽ mày, một nét hóa thành hai nét): tương truyền đó là vế đối người anh ra cho cô em đang ngồi trước gương. Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), hiệu Hồng Hà nữ sĩ, là nữ sĩ thời Lê trung hưng, tác giả tập truyện chữ Hán Truyền kỳ tân phả, trong đó có truyện Hải khẩu linh từ học ở Ngữ văn 12. Theo truyền thống, bà cũng là người diễn Nôm khúc ngâm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, dù đến nay việc này vẫn còn tranh luận.
Hồng Hà nữ sĩ, con gái nhà họ Đoàn ở Giai Phạm

| Tên, hiệu | Đoàn Thị Điểm (段氏點), hiệu Hồng Hà nữ sĩ |
| Năm sinh – năm mất | 1705 – 1748 (năm Mậu Thìn; ngày mất âm lịch tài liệu ghi 11/9, có nơi ghi 9/11); có tài liệu ghi năm mất 1746 hoặc 1749 |
| Quê | Làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (về sau thuộc huyện Yên Mỹ); nay thuộc tỉnh Hưng Yên |
| Gia đình | Cha Đoàn Doãn Nghi (Hương cống, dạy học, làm thuốc); anh Đoàn Doãn Luân; chồng là tiến sĩ Nguyễn Kiều |
| Thể loại | Truyện truyền kỳ chữ Hán, thơ chữ Hán và chữ Nôm, diễn Nôm ngâm khúc |
| Tác phẩm tiêu biểu | Truyền kỳ tân phả (còn gọi Tục truyền kỳ); bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm (tương truyền); một số thơ văn trong Hồng Hà phu nhân di văn |
| Trong SGK | Hải khẩu linh từ – Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập một; các đoạn trích Chinh phụ ngâm ở Ngữ văn 9 |
Theo gia phả họ Đoàn (Đoàn thị thực lục), tổ tiên bà vốn mang họ Lê, đến đời cha mới đổi sang họ Đoàn. Cha bà, Đoàn Doãn Nghi, đỗ Hương cống nhưng thi Hội không đỗ, làm quan nhỏ một thời gian rồi về dạy học, bốc thuốc. Người anh Đoàn Doãn Luân đỗ đầu kỳ thi Hương, cũng chỉ làm quan ít lâu rồi về dạy học. Tuổi nhỏ, bà sống với cha và anh ở nơi cha dạy học, làng Lạc Viên (huyện An Dương, nay thuộc Hải Phòng). Nhà nho nghèo nhưng nhiều sách: đó là môi trường đã làm nên một người con gái giỏi chữ hiếm có ở thế kỷ XVIII.
Dạy học, làm thuốc và một cuộc hôn nhân muộn
Năm 1729 cha mất, bà theo gia đình anh dời về làng Vô Ngại, huyện Đường Hào (Hưng Yên). Sáu năm sau người anh cũng mất, để lại đàn con nhỏ; bà vừa dạy học vừa làm thuốc để nuôi mẹ, giúp chị dâu nuôi các cháu. Có tài liệu (Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, được Wikipedia dẫn) kể bà từng được vời vào phủ chúa dạy các cung nữ, đến năm 1739 thì xin về xã Chương Dương mở trường.
Tài sắc của bà nổi tiếng, nhiều người đến hỏi, kể cả người quyền quý, nhưng bà đều từ chối. Mãi đến năm 1742, ba mươi bảy tuổi, bà mới nhận lời lấy tiến sĩ Nguyễn Kiều, một người góa vợ nổi tiếng hay chữ. Cưới xong chưa bao lâu, Nguyễn Kiều được cử đi sứ sang Trung Quốc, đến năm 1745 mới về. Năm 1748 ông nhận chức ở Nghệ An; bà theo chồng vào nhiệm sở, dọc đường bị cảm nặng và mất ở Nghệ An năm Mậu Thìn (1748), năm bốn mươi ba tuổi. Nguyễn Kiều làm văn tế khóc vợ, hết lời khen văn tài và đức hạnh của bà.
Đời bà vì thế có hai nửa rất khác: hơn mười năm làm chỗ dựa cho cả một gia đình, và sáu năm làm vợ mà quá nửa là xa chồng. Người đọc hôm nay nhìn những nhân vật nữ trong truyện bà viết sẽ dễ nhận ra bóng dáng một người đàn bà tự lập như vậy.
Truyền kỳ tân phả: sáu truyện hay ba truyện?
Truyền kỳ tân phả (Cuốn phả mới về chuyện lạ), còn gọi Tục truyền kỳ (viết nối truyện truyền kỳ), là tập truyện chữ Hán có xen thơ, văn tế, nối theo lối Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ hai thế kỷ trước. Sách được khắc in năm Tân Mùi (1811), hơn sáu mươi năm sau khi bà mất, và chính vì thế mà câu hỏi tác giả trở nên phức tạp.
| Truyện | Nội dung chính | Gia phả họ Đoàn ghi của bà? |
|---|---|---|
| Hải khẩu linh từ (Đền thiêng cửa bể) | Cung phi Bích Châu gieo mình xuống biển cứu đoàn thuyền vua Trần Duệ Tông, sau được phong thần | Có |
| Vân Cát thần nữ (Nữ thần Vân Cát) | Chuyện bà chúa Liễu Hạnh, một trong “tứ bất tử” của tín ngưỡng Việt | Có |
| An Ấp liệt nữ (Người liệt nữ ở An Ấp) | Người vợ của Đinh Nho Hoàn (đời Lê Dụ Tông) tuẫn tiết theo chồng | Có |
| Bích Câu kỳ ngộ (Cuộc gặp gỡ lạ ở Bích Câu) | Tú Uyên gặp tiên nữ Giáng Kiều ở Bích Câu | Chưa rõ; Trần Văn Giáp cho là của bà |
| Hoành Sơn tiên cục, Nghĩa khuyển khuất miêu (tùy bản in) | Cuộc cờ tiên; chuyện chó và mèo | Chưa rõ người viết |
Theo Wikipedia tiếng Việt (dẫn Từ điển văn học bộ mới), Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí liệt kê sáu truyện. Nhưng gia phả họ Đoàn chỉ ghi ba truyện đầu là của bà, và các nhà nghiên cứu như Đặng Thị Hảo, Nguyễn Đăng Na đồng tình: theo họ, nhà in năm 1811 đã thêm truyện của người khác vào. Truyện Bích Câu kỳ ngộ về sau được Vũ Quốc Trân diễn thành truyện thơ Nôm. Học sinh ghi theo SGK là đủ; điều đáng nhớ là “tác giả Truyền kỳ tân phả” chắc chắn nhất là ở ba truyện có nhân vật nữ làm trung tâm.
Những người phụ nữ phi thường trong truyện của bà
Ba truyện được ghi chắc chắn là của bà (một bài nghiên cứu về truyện truyền kỳ thế kỷ XVIII cũng xếp đúng ba truyện này cho bà) đều kể về phụ nữ: một cung phi, một nữ thần, một người vợ lẽ. Điểm chung không nằm ở phép lạ mà ở cách nhân vật tự quyết định số phận. Bích Châu dâng bài biểu mười điều can vua trước khi đi theo đoàn quân, và khi cái chết đến thì nàng chọn nó, kèm lời dặn vua lo việc nước. Liễu Hạnh là nữ thần không chịu khuôn phép thiên đình. Người liệt nữ ở An Ấp giữ trọn tình nghĩa theo cách nghiệt ngã của đạo lý thời ấy.
Văn của bà nhiều điển cố, câu chữ trau chuốt. Phan Huy Chú (theo Wikipedia dẫn sách của ông) khen lời văn đẹp nhưng chê khí cách yếu, không bằng Nguyễn Dữ. Nhận xét ấy công bằng ở phần kết cấu: truyện nhiều đoạn dàn trải. Nhưng nếu đặt cạnh văn xuôi đương thời, việc một người phụ nữ viết truyện để đề cao phụ nữ đã là chuyện hiếm, và đó là lý do Hải khẩu linh từ được chọn vào sách giáo khoa.
Bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm: vì sao vẫn ghi “tương truyền”
Suốt thế kỷ XIX, bản diễn Nôm theo thể song thất lục bát của Chinh phụ ngâm, mở đầu bằng câu “Thuở trời đất nổi cơn gió bụi”, được coi là của Đoàn Thị Điểm. Từ năm 1926, khi con cháu Phan Huy Ích lên tiếng, có thêm ý kiến cho rằng bản phổ biến hiện nay là của Phan Huy Ích, hoặc là bản của bà đã được Phan Huy Ích nhuận sắc. GS Nguyễn Lộc trong Từ điển văn học (bộ mới) khẳng định ít nhất một điều: bản dịch của Đoàn Thị Điểm là bản dịch đầu tiên của tác phẩm. Có ý kiến cho rằng bà dịch trong mấy năm chồng đi sứ.
Cuộc tranh luận này đã được trình bày kỹ ở trang về Đặng Trần Côn, tác giả nguyên tác Chinh phụ ngâm, kèm cách mỗi bộ sách Ngữ văn 9 ghi tên người dịch. Về thể thơ của bản diễn Nôm, xem thêm bài thơ song thất lục bát.
Đoàn Thị Điểm trong sách giáo khoa Ngữ văn
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Hải khẩu linh từ (Đền thiêng cửa bể), trích Truyền kỳ tân phả | Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập một, Bài 4: Yếu tố kì ảo trong truyện kể | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm |
| Nỗi niềm chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm, bản dịch ghi của Đoàn Thị Điểm) | Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, tập một, Bài 2: Những cung bậc tâm trạng | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Phân tích |
| Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm) | Ngữ văn 9 Cánh diều, tập một, Bài 1 (thực hành đọc hiểu) | — |
SGK dùng bản dịch Hải khẩu linh từ của Ngô Lập Chi, chỉnh lí theo sách Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại do Nguyễn Đăng Na biên soạn. Khi trả lời câu hỏi về yếu tố kì ảo, nên nhớ truyện lấy nhân vật lịch sử (vua Trần Duệ Tông, vua Lê Thánh Tông) làm khung, rồi mới mở ra thế giới thần linh dưới biển.
Giai thoại ứng đối: đọc như truyện kể
Quanh tên tuổi Đoàn Thị Điểm có rất nhiều giai thoại đối đáp. Vế đối “soi gương vẽ mày” ở đầu bài được kể là của người anh Đoàn Doãn Luân; cô em nhìn anh đang rửa tay bên ao liền đối “Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân” (ra ao ngắm trăng, một vầng hóa hai vầng), chữ “luân” cũng là tên anh. Dân gian còn kể những cuộc đối đáp của bà với Trạng Quỳnh, với các nho sĩ kinh kỳ, với sứ thần phương Bắc.
Những chuyện ấy cho thấy người đời quý tài bà đến mức nào, nhưng phần lớn là truyện truyền miệng, có nhiều dị bản và không thấy trong sử sách. Có thể đọc chúng ở các trang Đối đáp với Đoàn Thị Điểm và Tài ứng đối của Đoàn Thị Điểm và Trạng Quỳnh, với tinh thần thưởng thức văn chương dân gian.
Bà thường được nhắc cùng các nữ sĩ thời trung đại như Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan. Chồng bà, tiến sĩ Nguyễn Kiều, người làng Phú Xá (Phú Thượng, Tây Hồ, Hà Nội), sống thêm mấy năm sau khi bà mất. Ngày nay nhiều trường học, đường phố trong cả nước mang tên Đoàn Thị Điểm.