Soạn bài Kép Tư Bền dưới đây giải phần Tự đánh giá cuối Bài 3 sách Ngữ văn 11 Cánh diều tập một (trang 100 – 101), gồm 5 câu trắc nghiệm và 5 câu tự luận. Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan kể về người diễn viên hài phải làm trò mua vui cho khán giả trong khi cha mình đang hấp hối – một tình huống trớ trêu đến xót xa.
Tìm hiểu chung về truyện Kép Tư Bền
Một vài thông tin nền giúp em trả lời chính xác các câu hỏi trong phần Tự đánh giá.

Tác giả Nguyễn Công Hoan
Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977), quê làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Ông từng dạy học nhiều năm trước khi trở thành nhà văn chuyên nghiệp. Ông là cây bút hiện thực trào phúng bậc thầy với hàng trăm truyện ngắn như Kép Tư Bền, Người ngựa ngựa người, Đồng hào có ma, Tinh thần thể dục… và các tiểu thuyết Lá ngọc cành vàng, Bước đường cùng. Sau Cách mạng, ông là Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam; năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Thể loại và tình huống truyện
- Thể loại: truyện ngắn hiện thực, viết trước Cách mạng tháng Tám, in trong tập truyện ngắn cùng tên.
- Tình huống: Tư Bền, kép hát nổi tiếng chuyên vai hài, nghỉ diễn hơn tháng để chăm cha ốm nặng. Vì đã vay tiền của chủ rạp, anh buộc phải trở lại sân khấu đúng lúc cha đang nguy kịch. Anh vừa làm trò cho khán giả cười, vừa ruột gan rối bời vì lo cho cha.
- Ý nghĩa tình huống: nụ cười trên sân khấu đối lập với nỗi đau sau cánh gà, phơi bày bi kịch của người nghệ sĩ nghèo trong xã hội cũ.
Soạn bài Kép Tư Bền – Ngữ văn 11 Cánh diều (Tự đánh giá)
Năm câu đầu là trắc nghiệm (trang 100), năm câu sau là tự luận (trang 101).
Câu 1: Sự thay đổi điểm nhìn trong truyện (trang 100)
Nhận định nào đúng về sự thay đổi điểm nhìn trong truyện Kép Tư Bền? A. Chủ yếu chuyển từ điểm nhìn của người kể chuyện sang khán giả. B. Chủ yếu chuyển từ điểm nhìn của người kể chuyện sang kép Tư Bền. C. Chủ yếu chuyển từ điểm nhìn của người kể chuyện sang ông chủ rạp. D. Chủ yếu chuyển từ điểm nhìn của người kể chuyện sang người bạn hát của kép Tư Bền.
Trả lời: Chọn B. Phần lớn truyện, người kể đứng ở vị trí của Tư Bền để kể: những gì anh nghĩ, anh lo, anh cố gắng chịu đựng trên sân khấu. Nhờ điểm nhìn này, người đọc thấy rõ nỗi đau giấu sau tiếng cười mà khán giả không hề hay biết. (Một số tài liệu chọn A vì có đoạn tả phản ứng của khán giả, nhưng đó không phải điểm nhìn chủ yếu.)
Câu 2: Câu chuyện chính của truyện (trang 100)
Truyện Kép Tư Bền chủ yếu kể câu chuyện gì? A. Kép Tư Bền là người hát bội rất giỏi ở Hà Nội đã ba năm nay. B. Kép Tư Bền hát bội rất giỏi nhưng anh phải nghỉ việc vì cha ốm. C. Cha của kép Tư Bền ốm, để có tiền mua thuốc và trả nợ, anh phải đi diễn hài. D. Cha của kép Tư Bền mất trong lúc anh đang đi hát để trả nợ cho chủ rạp hát.
Trả lời: Chọn D. Đây là sự việc bao trùm, tạo nên bi kịch: người con phải mua vui cho thiên hạ đúng lúc cha mình qua đời. Các phương án A, B, C chỉ là những chi tiết nằm trong câu chuyện.
Câu 3: Phương diện không được khắc họa ở nhân vật (trang 100)
Nhân vật kép Tư Bền không được khắc họa ở phương diện nào? A. Ngoại hình. B. Hành động. C. Lời nói. D. Nội tâm.
Trả lời: Nhiều tài liệu chọn D, với cách hiểu truyện ít để nhân vật tự bộc bạch bằng lời độc thoại mà chủ yếu thể hiện tâm trạng qua cử chỉ. Tuy vậy, khi làm bài em nên đối chiếu với văn bản: truyện tả khá kĩ những lo âu, rối bời của Tư Bền (Câu 7 cũng hỏi về tâm trạng nhân vật), còn diện mạo của anh hầu như không được miêu tả. Nếu thầy cô yêu cầu chọn theo văn bản, phương án hợp lí hơn là A. Ngoại hình.
Câu 4: Điều tác giả chủ yếu ca ngợi ở nhân vật (trang 100)
Qua tác phẩm, tác giả chủ yếu ca ngợi điều gì ở nhân vật kép Tư Bền? A. Tài năng. B. Sự cống hiến. C. Lòng hiếu thảo. D. Lòng tự trọng.
Trả lời: Chọn C. Tư Bền nghỉ diễn suốt hơn tháng để chăm cha; khi buộc phải lên sân khấu, lòng anh vẫn chỉ hướng về người cha đang ốm. Tình thương cha là phẩm chất nổi bật nhất được tác giả trân trọng.
Câu 5: Phương án không phải thành công nghệ thuật (trang 100)
Phương án nào sau đây không phải là thành công về mặt nghệ thuật của tác phẩm? A. Xây dựng tình huống truyện độc đáo. B. Kết hợp giữa cái bi với cái hài. C. Kết hợp giữa điểm nhìn của tác giả và nhân vật. D. Ngôn ngữ giàu chất thơ.
Trả lời: Chọn D. Ngôn ngữ truyện là ngôn ngữ đời thường, sắc sảo, nhiều chất trào phúng, không thiên về chất thơ. Ba phương án còn lại đều là thành công của tác phẩm.
Câu 6: Đặc điểm nhân vật kép Tư Bền (trang 101)
Nêu đặc điểm (hoàn cảnh, tính cách, phẩm chất) của nhân vật kép Tư Bền. Ở mỗi đặc điểm, nêu một số dẫn chứng cụ thể.
Trả lời:
- Hoàn cảnh: là kép hát hài được khán giả mến mộ, nhưng nghèo, cha ốm nặng, phải vay nợ chủ rạp. Ông chủ rạp lấy món nợ ấy để ép anh phải trở lại diễn.
- Tính cách: có tinh thần trách nhiệm với nghề – đã lên sân khấu thì vẫn cố hò hét, làm điệu bộ, cười ha hả để khán giả vui, dù lòng như lửa đốt.
- Phẩm chất: hiếu thảo, thương cha. Giữa các cảnh diễn, anh tranh thủ nhờ người chạy về nhà hỏi thăm bệnh tình của cha; nghe tin xấu, “Anh Tư Bền bỗng ứa hai hàng nước mắt, rồi khóc nức khóc nở”; càng không có tin nhà, anh càng lo đến mức tác giả tả “ruột anh càng nhàu như dưa, xót như muối”.
Câu 7: Biểu hiện tâm trạng của Tư Bền trong đoạn cuối (trang 101)
Chỉ ra những biểu hiện tâm trạng của nhân vật kép Tư Bền trong đoạn trích từ “Một hồi chuông vừa dứt.” đến hết.
Trả lời:
- Lúc bước ra sân khấu: anh chậm chạp bước ra, chào khán giả xong thì đứng sững hồi lâu – tâm trí đang ở bên giường bệnh của cha.
- Khi phải diễn: anh gượng ép bản thân hò hét, dằn giọng, ngân câu, làm điệu bộ, cười to như cảnh trước – sự giằng xé giữa bổn phận với nghề và nỗi lo cho cha.
- Khi nghe tin cha nguy kịch: anh đau đớn tột cùng, bật khóc nức nở sau cánh gà.
- Khi chờ tin: sốt ruột, rối bời, ruột gan như thiêu như đốt; mỗi tràng cười, tiếng vỗ tay của khán giả lại càng làm nỗi đau ấy thêm nhức nhối.
Câu 8: Điều em thích nhất trong nghệ thuật kể chuyện (trang 101)
Em thích nhất điều gì trong nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Công Hoan ở tác phẩm Kép Tư Bền? Lí giải cụ thể.
Trả lời: Điều em thích nhất là thế đối lập mà nhà văn dựng nên giữa sân khấu và hậu trường. Bên ngoài, khán giả cười nghiêng ngả, vỗ tay rầm rập, càng thấy Tư Bền diễn “đạt”; bên trong, người nghệ sĩ đang chết lặng vì cha. Tác giả để hai không gian ấy đan xen liên tục, không cần bình luận nhiều mà người đọc vẫn thấy nghẹn ngào. Cách kể này làm tiếng cười trở thành chất xúc tác cho nỗi đau, khiến bi kịch của Tư Bền ám ảnh hơn bất cứ lời than vãn nào.
Câu 9: Triết lí nhân sinh rút ra từ truyện (trang 101)
Có thể rút ra triết lí nhân sinh nào từ truyện ngắn Kép Tư Bền?
Trả lời: Sau nụ cười của người khác có thể là những nỗi đau ta không nhìn thấy; vì thế cần biết cảm thông, đừng vô tâm trước số phận con người. Đồng thời, truyện cho thấy trong một xã hội coi trọng đồng tiền, con người có khi bị tước cả quyền được làm tròn chữ hiếu – lời tố cáo xã hội cũ đã đẩy người nghệ sĩ vào nghịch cảnh trong lòng khóc mà ngoài mặt phải cười.
Câu 10: Đoạn văn về một vấn đề xã hội đặt ra từ truyện (trang 101)
Viết một đoạn văn (khoảng 12 – 15 dòng) nêu suy nghĩ của em về một vấn đề xã hội đặt ra từ truyện Kép Tư Bền.
Trả lời: (đoạn văn tham khảo)
Truyện Kép Tư Bền gợi cho em suy nghĩ về sự vô tâm trước nỗi đau của người khác. Khán giả trong rạp không có lỗi khi đến để cười, nhưng họ càng cười, càng đòi diễn tiếp thì người nghệ sĩ càng đau. Ngày nay, sự vô tâm ấy vẫn còn dưới nhiều dạng: ta xem một video hài, một buổi phát trực tiếp mà không nghĩ người đứng trước ống kính có thể đang mệt mỏi, buồn khổ; ta đòi hỏi người phục vụ luôn tươi cười mà quên rằng họ cũng có gia đình, có những lo toan riêng. Mỗi người không thể biết hết hoàn cảnh của người khác, nhưng có thể chọn cách ứng xử tử tế: một lời cảm ơn, một sự kiên nhẫn, một chút quan tâm khi thấy ai đó gượng cười. Xã hội văn minh không chỉ là nơi có nhiều niềm vui, mà là nơi niềm vui của người này không được xây trên nỗi đau thầm lặng của người kia.
Kết luận
Soạn Kép Tư Bền, em cần nắm tình huống truyện trớ trêu, điểm nhìn đặt vào nhân vật, sự kết hợp giữa cái bi và cái hài, lòng hiếu thảo của Tư Bền và giá trị hiện thực, nhân đạo của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan.
Xem thêm: