Viết bài nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí là bài Viết của Bài 1 (Thơ và truyện thơ) trong sách Ngữ văn 11 Cánh diều tập một, trang 25–29. Đề thực hành của sách yêu cầu bàn về một câu cách ngôn; ngoài đời, đề thi thường đưa ra một câu tục ngữ, một câu thơ, một lời của người xưa và hỏi em nghĩ gì về lẽ sống nằm trong đó. Bên dưới có các yêu cầu sách đặt ra cho kiểu bài, một dàn ý chung áp được vào nhiều đề, 10 bài mẫu có độ dài chênh nhau (trong đó có bài làm đúng đề của sách), bảng lỗi hay gặp và gợi ý chuyển bài viết thành bài nói. Nhân vật, trường lớp trong các bài mẫu đều do người viết hình dung ra, trừ những người và tác phẩm có thật được ghi rõ.

Yêu cầu của kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
Đối tượng của kiểu bài này không phải một hiện tượng đang diễn ra (như rác thải, nghiện mạng) mà là một quan niệm: cách con người nên nghĩ, nên sống, nên đối xử với nhau. Quan niệm ấy thường được gói trong một câu ngắn, giàu hình ảnh, nên việc đầu tiên luôn là mở được lớp nghĩa của câu chữ. Sách Cánh diều nhấn vào mấy việc sau:
| Tiêu chí | Bài viết đạt khi |
|---|---|
| Nhận đúng dạng đề | Thấy được tư tưởng nằm trong câu danh ngôn, tục ngữ, câu thơ, câu ca dao mà đề đưa ra; phân biệt với đề bàn về hiện tượng đang xảy ra quanh ta. |
| Giải thích | Làm rõ từ ngữ, hình ảnh chưa rõ (nghĩa đen, nghĩa bóng), rồi nói lại cả câu bằng một nhận định gọn: câu ấy khuyên, khẳng định hay phê phán điều gì. |
| Luận đề, luận điểm | Một luận đề rõ ở mở bài; các luận điểm ở thân bài đều xuất phát từ luận đề, nối với nhau bằng câu chuyển đoạn. |
| Lí lẽ và dẫn chứng | Trả lời được câu hỏi vì sao tư tưởng ấy đúng, nó thể hiện ra sao; dẫn chứng lấy từ đời sống, lịch sử, tác phẩm văn học, chọn ít mà chắc, có thể kiểm chứng. |
| Bàn luận nhiều chiều | Chỉ ra giới hạn của câu nói hoặc cách hiểu sai thường gặp; phê phán lối sống trái ngược; nêu tính thời sự của vấn đề với người trẻ. |
| Thái độ và trải nghiệm | Người viết bày tỏ rõ mình đồng tình đến đâu, vận dụng hiểu biết và trải nghiệm riêng; rút ra việc làm cụ thể. |
| Mở bài, kết bài | Mở bằng một trong các cách sách gợi ý: nêu phản đề, đặt câu hỏi, so sánh; kết bằng tóm lược hoặc phát triển vấn đề. Tránh mở và kết bằng những câu dùng được cho mọi đề. |
Sách cũng lưu ý cấu trúc quen thuộc của thân bài: giải thích (là gì), phân tích (nó biểu hiện ra sao), chứng minh (lấy ví dụ nào), bình luận (giá trị, tác động ra sao). Đó là bộ khung để tìm ý, không phải trình tự bắt buộc phải đi đủ bốn bước cứng nhắc. Các bài mẫu dưới đây có bài đi đúng khung, có bài đặt phần phản đề lên trước hoặc dồn giải thích vào một tình huống mở đầu.
Dàn ý bài nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí
1. Mở bài
- Dẫn vào vấn đề bằng một tình huống, một câu hỏi, một ý kiến trái chiều hoặc một phép so sánh.
- Nêu câu nói (tư tưởng) cần bàn và luận đề của bài: em hiểu và đánh giá nó thế nào trong một câu.
2. Thân bài
- Giải thích: từ ngữ, hình ảnh then chốt hiểu theo mặt chữ và theo lớp nghĩa ẩn; ý nghĩa cả câu.
- Bàn luận vì sao đúng: hai hoặc ba luận điểm, mỗi ý lớn đều kèm lí lẽ và một dẫn chứng tiêu biểu (người thật, việc thật, nhân vật văn học, trải nghiệm của chính mình).
- Mở rộng, phản đề: câu nói có giới hạn không, dễ bị hiểu sai ở đâu; phê phán lối sống ngược lại.
- Ý nghĩa với hôm nay: vấn đề đặt ra gì cho người trẻ, cho lứa tuổi học sinh.
3. Kết bài
- Khẳng định lại giá trị của tư tưởng (tóm lược) hoặc mở sang một suy nghĩ mới (phát triển).
- Nêu một việc làm cụ thể của bản thân, hoặc quay về hình ảnh ở mở bài.
Bài văn bàn về câu nói, câu thơ, lời văn bia
Mẫu 1: Cứ hướng về phía Mặt Trời, bóng tối sẽ ngả sau lưng bạn (đề trong sách, bài thi 90 phút)
Bảy giờ sáng, đứng xếp hàng chào cờ quay mặt về hướng đông, tôi chưa bao giờ để ý đến cái bóng của mình. Phải đến buổi trường dựng sân khấu ở phía bên kia, cả khối quay lưng về phía nắng, tôi mới thấy những cái bóng dài đổ thẳng trước mũi giày, bước tới đâu giẫm lên bóng mình tới đó. Một chuyện vật lí rất thường, vậy mà người ta đã nhìn ra trong đó cả một cách sống và gói lại trong câu cách ngôn: “Cứ hướng về phía Mặt Trời, bóng tối sẽ ngả sau lưng bạn.”
Mặt Trời trong câu nói là nguồn sáng, cũng là những gì khiến con người muốn sống tốt hơn: một mục tiêu, một niềm tin, một việc tử tế đáng làm. Bóng tối là phần khuất của đời người: thất bại, mất mát, những ngày thấy mình kém cỏi. Điều đáng chú ý là câu nói không hứa bóng tối sẽ biến mất. Ai đứng dưới nắng cũng có bóng. Câu nói chỉ bàn về vị trí của nó: bóng nằm trước mặt hay sau lưng là do ta quay về hướng nào. Đó là chỗ tinh tế nhất của câu cách ngôn, cũng là chỗ dễ bị hiểu sai nhất.
Trước hết, con người thường đi về phía mình đang nhìn. Một học sinh thi trượt mà ngày nào cũng mở lại tờ kết quả thì mỗi bước tiếp theo đều đạp lên nỗi buồn ấy. Nếu em đặt cho mình một mốc mới, dù nhỏ, chẳng hạn làm lại cho bằng được chương hình học đã bỏ trống trong bài thi, thì thất bại vẫn còn đó nhưng đã ra phía sau, thành một đoạn đường đã đi chứ không còn là bức tường chắn trước mặt. Hướng nhìn quyết định nơi ta dồn sức.
Thứ hai, người hướng về ánh sáng thường kéo người khác đi theo. Nhiều thế hệ học trò biết chuyện thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký: năm lên bốn tuổi, một trận bệnh làm cả hai tay ông không cử động được nữa. Cậu bé ấy tập viết bằng chân, đi học tiếp, rồi trở thành nhà giáo và viết sách. Nếu chỉ nhìn vào đôi tay, cuộc đời ông đã có thể dừng ở bậu cửa nhà mình. Ông chọn nhìn vào trang vở, và chính lựa chọn ấy về sau trở thành điều ông trao cho học trò nhiều hơn mọi bài giảng.
Tuy vậy, hướng về phía Mặt Trời không có nghĩa là nhắm mắt trước bóng tối. Có một kiểu lạc quan gượng ép đòi người đang buồn phải cười ngay, coi mọi lời than là yếu đuối. Lối nghĩ ấy giống người đứng giữa trưa mà khăng khăng mình không có bóng. Muốn bóng ngả ra sau, trước hết phải biết nó nằm ở đâu: nhìn thẳng vào lỗi của mình, gọi đúng tên nỗi sợ, rồi mới xoay người. Thầy Ký đâu có quên đôi tay của mình; ông chỉ không để nó quyết định thay ông.
Đáng bàn hơn là những người quen đứng quay lưng với ánh sáng. Vấp một lần, họ kết luận mình không có số. Họ tìm sẵn lí do để khỏi phải thử lần thứ hai, hoặc ở rất lâu trong vai người bị thiệt, vì ở đó dễ chịu hơn là bắt đầu lại. Họ không hẳn là người bi quan; họ đang tự chọn hướng đứng mà không biết.
Với người mười bảy tuổi như tôi, quay về phía Mặt Trời có thể là những việc rất nhỏ: sau bài kiểm tra kém, viết ra ba lỗi sai và một việc sẽ làm trong tuần; khi bị bạn hiểu lầm, chủ động nói chuyện thay vì ôm ấm ức cả học kì; khi thấy mình bé nhỏ, tìm một người đi trước để học hỏi. Mỗi lần như thế là một lần xoay người.
Mặt trời không đứng yên, bóng cũng đổi chiều theo giờ. Vì vậy câu cách ngôn kia không phải lời dặn dùng một lần, mà là một thói quen phải làm lại mỗi ngày: tìm nguồn sáng của mình, quay về phía nó, rồi bước.
Mẫu 2: Yêu thương không phải là chiếm hữu (từ bài thơ Tôi yêu em)
Bài thơ Tôi yêu em của Pu-skin khép lại bằng một lời chúc rất lạ. Người đang yêu, yêu đến mức thừa nhận ngọn lửa trong lòng mình chưa tắt hẳn, lại cầu cho người con gái gặp được một người khác yêu nàng chân thành như chính mình đã yêu. Lần đầu đọc, cả lớp tôi chia hai phe. Một phe bảo đó là cao thượng. Phe kia cho rằng nhân vật trữ tình yếu đuối, yêu thì phải giành lấy chứ. Tôi viết bài này cho tập san văn học của lớp để đứng hẳn về một phía: yêu thương thật sự không phải là chiếm hữu.
Chiếm hữu là coi người mình thương như một vật thuộc về mình: phải ở gần, phải nghe lời, phải vui theo cách mình muốn. Còn yêu thương là mong người kia được sống tốt, kể cả khi điều tốt ấy không có phần của mình. Hai thứ dễ lẫn vào nhau vì cùng bắt đầu từ sự gắn bó. Chỉ đến lúc người kia muốn khác đi, chúng mới tách ra rõ ràng.
Nhân vật trong bài thơ không phải người không biết ghen. Chàng thừa nhận có lúc rụt rè, có lúc dằn vặt vì ghen tuông, nghĩa là chàng hiểu rất rõ cảm giác muốn giữ người kia cho riêng mình. Nhưng chàng lùi lại, vì không muốn tình yêu của mình thành gánh nặng làm nàng phải bận lòng. Cái đẹp của bài thơ nằm ở chỗ ấy: một tình cảm mãnh liệt tự đặt giới hạn cho nó. Không chiếm hữu, vì thế, chẳng hề là yêu ít đi.
Vì sao nên yêu như vậy? Thứ nhất, vì người kia là một con người có ý muốn riêng. Một tình cảm đòi người khác phải đáp lại bằng mọi giá là tình cảm chỉ thấy mình. Thứ hai, vì sự chiếm hữu đi tới đâu là kiểm soát đi tới đó. Ở tuổi chúng tôi, nó hiện ra rất đời thường: đòi biết mật khẩu điện thoại của bạn, giận dỗi khi bạn chơi với người khác, đọc tin nhắn rồi bắt giải thích từng chữ. Ban đầu người ta gọi đó là quan tâm; lâu dần, người được quan tâm thấy mình như bị giam.
Điều này không chỉ đúng với tình yêu đôi lứa. Có những người cha người mẹ thương con vô cùng mà vẫn chọn ngành học, chọn bạn bè, chọn cả giờ giấc cho con, vì tin rằng mình biết điều gì tốt nhất. Có những tình bạn chỉ bền khi một người luôn đi theo người kia. Ở đâu tình thương biến thành quyền sở hữu, ở đó người được thương dần mất đi chính mình.
Cũng phải nói cho công bằng: không chiếm hữu khác với buông xuôi hay thờ ơ. Người yêu thương vẫn có quyền nói ra cảm xúc của mình, vẫn có thể cố gắng để được đáp lại, vẫn lo lắng khi người kia gặp chuyện. Ranh giới nằm ở chỗ có tôn trọng câu trả lời của người kia hay không. Nhân vật của Pu-skin đã nói hết lòng mình, rồi để người con gái được tự do.
Đọc lại lời chúc cuối bài, tôi nghĩ nó khó hơn mọi lời thề nguyền. Thề giữ một người bên mình thì dễ. Mong người ấy hạnh phúc ở nơi không có mình mới cần đến một trái tim thật rộng. Có lẽ vì thế mà một bài thơ ngắn viết từ hai thế kỉ trước vẫn còn làm một lớp học sinh hôm nay tranh luận mãi không thôi.
Mẫu 3: Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài (bài dự thi học sinh giỏi)
Kể xong hơn ba nghìn câu lục bát về một đời người con gái tài sắc mà gian truân, Nguyễn Du không khép Truyện Kiều bằng cảnh đoàn viên. Ông dừng lại để nói một lời bàn, trong đó có hai câu đã thành phương châm sống của nhiều thế hệ: “Thiện căn ở tại lòng ta / Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài.” Câu thơ ngắn nhưng chứa cả một bậc thang giá trị: trong con người, lòng tốt đứng cao hơn tài năng.
Tài là năng lực: khéo tay, sáng dạ, giỏi nghề, có năng khiếu. Tâm là tấm lòng: biết thương người, biết điều phải trái, dùng cái mình có vào việc gì. Thiện căn là gốc rễ của điều thiện, và Nguyễn Du đặt nó ở tại lòng ta, tức là không do trời ban sẵn mà do mỗi người tự vun lấy. So sánh một chữ bằng ba chữ là cách nói của người xưa để nhấn mạnh, không phải phép tính. Ý ông là: nếu phải chọn, hãy chọn cái gốc.
Vì sao tâm phải đi trước? Bởi tài giống một công cụ, còn tâm quyết định công cụ ấy được dùng vào đâu. Cùng một con dao, người đầu bếp dùng để nấu bữa cơm, kẻ cướp dùng để dọa người. Trong chính lời bàn ấy, mấy dòng trước đó Nguyễn Du viết: “Chữ tài liền với chữ tai một vần.” Tài không có tâm dẫn đường rất dễ thành tai họa, trước hết cho người khác, sau là cho chính mình. Đời sống hôm nay cho thấy điều đó rõ hơn bao giờ hết: những người rành công nghệ dựng trang mạng giả để lừa tiền người già, những tay viết giỏi đem ngòi bút đi bịa chuyện bôi nhọ người khác. Họ không thiếu tài; họ thiếu cái gốc.
Ngược lại, tâm có sức làm tài lớn lên. Người thầy thương học trò sẽ tìm ra cách giảng cho cả đứa chậm hiểu nhất. Người thầy thuốc coi người bệnh như người nhà sẽ hỏi kĩ thêm một câu, nhìn kĩ thêm một lần, và nhiều khi chính câu hỏi ấy cứu người. Tấm lòng không thay được tay nghề, nhưng nó buộc tay nghề phải chín hơn.
Tuy nhiên, hiểu câu thơ thành coi nhẹ tài năng là hiểu sai. Ở thời của Nguyễn Du hay thời của chúng ta, một tấm lòng tốt mà bất tài cũng làm được rất ít việc, thậm chí có khi làm hỏng việc. Người lái đò thương khách đến đâu mà không biết đọc con nước thì vẫn để thuyền lật. Nguyễn Du nâng chữ tâm lên không phải để hạ chữ tài xuống, mà để đặt hai thứ vào đúng chỗ: tâm làm gốc, tài làm cành lá. Hồ Chí Minh về sau cũng nói theo hướng ấy khi bàn về đức và tài của người cán bộ: thiếu bên nào cũng khó thành việc.
Với học sinh, bài học này nghe thì cao xa mà thực ra rất gần. Nó nằm ở chỗ ta có cho bạn chép bài để bạn qua một tiết hay giảng cho bạn hiểu để bạn qua cả kì thi; ở chỗ khi giỏi hơn người khác thì ta đứng cao hơn để nhìn xuống hay để kéo họ lên. Học giỏi là một món nợ cần trả bằng sự tử tế, chứ không phải tấm vé để được coi thường ai.
Hai trăm năm sau, câu thơ vẫn đứng ở cuối Truyện Kiều như một ngọn đèn đặt ở cửa ra. Đọc hết câu chuyện về một con người tài hoa bị vùi dập, người đọc mang theo không phải lời than về số phận, mà một câu hỏi để tự trả lời suốt đời: tài của mình đang được lòng mình dẫn đi đâu?
Mẫu 4: Hiền tài là nguyên khí của quốc gia (mở từ một chuyến đi Văn Miếu)
Chuyến đi Văn Miếu – Quốc Tử Giám hôm ấy, cô hướng dẫn dừng cả nhóm trước tấm bia ghi tên các tiến sĩ khoa Nhâm Tuất năm 1442. Bài kí trên bia được Thân Nhân Trung viết năm 1484, đời vua Lê Thánh Tông, và có một câu mà học sinh nào cũng từng chép vào vở: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia.” Đứng trước phiến đá đã mòn chữ, tôi tự hỏi: hơn năm trăm năm trôi qua, câu nói ấy còn đúng không, và nếu đúng thì nó đòi hỏi gì ở chúng ta?
Hiền tài là người vừa có đức (hiền) vừa có năng lực (tài). Hai chữ đi liền với nhau, nên người xưa không coi kẻ học giỏi mà bất nhân là hiền tài. Nguyên khí là khí chất ban đầu làm nên sự sống, giống hơi thở của một cơ thể. Ví người tài đức với nguyên khí, Thân Nhân Trung muốn nói một quốc gia mạnh hay yếu, thịnh hay suy là do có được và biết dùng những con người ấy hay không. Văn bia còn nói rõ hơn: nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu. Câu văn khắc vào đá không chỉ để vinh danh người đỗ đạt mà còn để nhắc triều đình và người đi sau về trách nhiệm với nhân tài.
Lịch sử chứng minh nhận định ấy nhiều lần. Những thời đất nước vững vàng thường là những thời người có tài được tìm kiếm và trọng dụng. Ở chiều ngược lại, khi người tài bị nghi kị, bị gạt ra ngoài, việc nước thường rơi vào tay kẻ chỉ giỏi luồn cúi. Không cần đi xa, ngay trong một ngôi trường, một cái lớp, điều ấy cũng thấy được: một ban cán sự có người giỏi việc và ngay thẳng sẽ khác hẳn một ban cán sự chỉ được bầu vì quen biết.
Tư tưởng ấy còn nguyên tính thời sự. Một quốc gia muốn đi nhanh trong khoa học, công nghệ, y tế, giáo dục đều cần những người giỏi thật sự và đủ tử tế để đặt cái tài vào việc chung. Vì thế mới có chuyện các nước cạnh tranh nhau thu hút người tài. Người giỏi ra đi không hẳn chỉ vì đồng lương, mà nhiều khi vì không có môi trường để cái tài được dùng đúng chỗ. Giữ được người tài, như vậy, không chỉ là việc của cá nhân họ mà là việc của cả một cách tổ chức xã hội: thi cử công bằng, đánh giá người theo việc làm, mở đường cho ý tưởng mới.
Có ý kiến cho rằng thời nay ai cũng có bằng cấp, nói đến hiền tài là chuyện xa xôi. Tôi không nghĩ vậy. Bằng cấp chỉ là một phần của chữ tài, còn chữ hiền thì không có giấy chứng nhận nào thay được. Một kĩ sư giỏi nhưng làm ẩu, một bác sĩ giỏi nhưng vô cảm vẫn chưa phải nguyên khí của ai. Hiền tài cũng không chỉ là những nhà khoa học lớn; người thợ lành nghề làm ra sản phẩm tử tế, người giáo viên miền núi dạy chữ suốt nhiều năm đều góp phần làm nên hơi thở ấy.
Với học sinh, câu nói trên bia đá trở thành một câu hỏi rất gần: mình đang học để có tấm bằng hay học để thành người có ích? Học thật, thi thật, rèn cả nghề lẫn nết, là cách đơn giản nhất để tên mình, dù không ai khắc vào đá, vẫn thuộc về phần nguyên khí của đất nước.
Rời Văn Miếu, tôi nhìn lại hàng bia dưới tán cây. Những cái tên trên đó phần lớn đã không còn ai nhớ, nhưng câu văn của Thân Nhân Trung thì vẫn được nhắc. Có lẽ vì nó không nói về quá khứ, mà nói về điều một dân tộc luôn phải làm: tìm, nuôi và giữ những con người vừa giỏi vừa tốt.
Bài văn bàn về phẩm chất và lẽ sống
Mẫu 5: Tự do luôn đi cùng trách nhiệm
Mười một giờ đêm, dãy trọ cạnh nhà tôi vẫn mở loa kéo hát karaoke. Bà cụ ở căn đầu dãy sang gõ cửa, được đáp lại một câu rất dõng dạc rằng nhà tôi, tôi hát, đó là quyền của tôi. Câu trả lời ấy có phần đúng: ai cũng có quyền vui chơi trong nhà mình. Nhưng nó thiếu nửa sau mà chính người nói không nhìn thấy: tự do nào cũng kéo theo trách nhiệm.
Tự do là được nghĩ, nói, làm theo ý mình mà không bị ép buộc. Trách nhiệm là phần ta phải gánh cho hậu quả của những gì mình nghĩ, nói, làm. Nói tự do đi cùng trách nhiệm tức là không có thứ tự do nào treo lơ lửng một mình. Tiếng hát được tự do chừng nào nó còn ở trong bốn bức tường; vượt qua đó, nó chạm vào giấc ngủ của người khác, và từ lúc ấy người hát phải trả lời cho cả những người không chọn nghe.
Vì sao hai điều ấy không tách rời được? Vì con người không sống một mình. Tự do của mỗi người đều có đường biên chung với tự do của người bên cạnh. Một xã hội mà ai cũng đòi quyền làm theo ý mình nhưng không ai chịu trách nhiệm sẽ không tự do hơn mà hỗn loạn hơn, và người yếu luôn là người thiệt trước. Bà cụ ở đầu dãy trọ cũng có quyền được ngủ yên.
Trách nhiệm cũng là thứ làm cho tự do có giá trị. Một bạn học sinh được tự chọn ngành theo sở thích là được trao một sự tự do lớn. Nhưng nếu chọn xong rồi học hời hợt, gặp khó thì đổ cho bố mẹ không ngăn, sự tự do ấy chỉ còn là cái cớ. Ngược lại, người dám chọn và dám theo đến cùng lựa chọn của mình mới thật sự làm chủ đời mình.
Trên mạng xã hội, bài toán này hiện ra mỗi ngày. Ai cũng được đăng điều mình nghĩ, nhưng một lời bình luận cay độc, một tin chưa kiểm chứng được chia sẻ có thể làm tổn thương một người lạ mà mình không bao giờ gặp. Gõ phím thì nhanh; trách nhiệm thì đi theo rất lâu.
Có người sẽ hỏi: vậy có phải càng nhiều trách nhiệm thì càng mất tự do? Không hẳn. Trách nhiệm không phải sợi dây trói từ bên ngoài mà là sự tự giác từ bên trong. Người biết nghĩ cho người khác không thấy mình bị giới hạn khi vặn nhỏ loa lúc nửa đêm; họ chỉ đang dùng tự do của mình một cách trưởng thành.
Tối hôm sau, dãy trọ vẫn hát, nhưng đóng cửa và tắt loa đúng mười giờ. Tôi nghĩ đó là một bài học công dân ngắn nhất mà mình từng chứng kiến.
Mẫu 6: Lòng tự trọng – giữ cho mình một ranh giới
Cuối học kì, nhóm thuyết trình môn Sử của lớp được chín điểm. Ngạn, một thành viên trong nhóm, lại lên gặp cô giáo xin rút tên khỏi danh sách. Cậu nói thẳng là mình ốm cả tuần, không đóng góp gì, không muốn nhận điểm của các bạn. Có đứa bảo Ngạn ngốc, chín điểm cho không mà không lấy. Tôi lại nghĩ cậu vừa giữ lại cho mình một thứ đáng giá hơn điểm số: lòng tự trọng.
Tự trọng là biết coi trọng phẩm giá của chính mình, không để mình làm những điều khiến bản thân phải xấu hổ, dù không ai nhìn thấy. Nó là một ranh giới bên trong: có những việc ta không làm, không phải vì sợ bị phạt mà vì nếu làm, ta sẽ không còn là người mình muốn trở thành.
Người có lòng tự trọng sống thẳng lưng. Họ không xin xỏ điều mình không xứng, không đổi lời hứa lấy chút lợi, không cần dối trá để được khen. Nhờ vậy, người khác tin họ. Một lời của người tự trọng có sức nặng vì ai cũng biết họ không nói bừa. Lòng tự trọng còn là cái phanh giữ con người lại trước cám dỗ: chép bài trong giờ kiểm tra, nhận vơ công của người khác, nói xấu bạn để được lòng số đông.
Cần phân biệt tự trọng với sĩ diện và tự ái. Người sĩ diện sợ mất mặt nên che giấu cái sai, có khi còn cãi lấy được. Người tự ái dễ tổn thương nên nổi giận khi bị góp ý. Còn người tự trọng thì dám nhận khuyết điểm, vì với họ, giữ sự thật trong mình quan trọng hơn giữ hình ảnh trước người khác. Ngạn không ngại để cả lớp biết mình không đóng góp; cậu ngại phải nhận một điều không thật.
Đáng buồn là có lúc sự tự trọng bị coi là cứng nhắc, thiệt thòi. Thời của những cú bấm thích và lượt chia sẻ, người ta dễ đánh đổi chút phẩm giá lấy chút nổi tiếng. Nhưng thứ đổi được bằng sự đánh mất chính mình thì sớm muộn cũng phải trả lại, kèm theo cả cái giá đắt hơn.
Lòng tự trọng không tự nhiên mà có, nó được nuôi bằng những lựa chọn nhỏ lặp đi lặp lại. Mỗi lần trả lại tiền thừa người bán hàng đưa nhầm, mỗi lần nói thật mình chưa làm bài thay vì bịa một lí do, ranh giới bên trong lại rõ thêm một chút. Ngược lại, mỗi lần tự nhủ chuyện nhỏ thôi mà, ranh giới ấy lại nhòe đi một chút, đến một ngày ta không còn nhận ra nó ở đâu nữa.
Hôm ấy cô giáo không gạch tên Ngạn, mà cho cậu làm lại một phần bài thuyết trình vào tuần sau. Lần đó, cậu được bảy điểm. Tôi tin cậu nhớ con số bảy ấy lâu hơn mọi điểm chín.
Mẫu 7: Tôn trọng sự khác biệt
Lớp tôi có ba mươi tám người thì phải đến ba mươi người mê nhạc thần tượng Hàn Quốc. Đan Thanh thuộc nhóm còn lại, nhỏ hơn nữa: cậu học hát xẩm với một nghệ nhân ở câu lạc bộ phường, giờ ra chơi hay nhịp tay xuống bàn mấy câu chẳng ai biết. Học kì một, cậu bị gọi là cụ non. Học kì hai, sau buổi Thanh biểu diễn trong chương trình ngày truyền thống, cả trường mới biết cái mình từng chế giễu hóa ra rất đẹp. Câu chuyện ấy khiến tôi nghĩ nhiều về một điều tưởng là hiển nhiên: biết tôn trọng người không giống mình.
Khác biệt là những điểm không giống số đông: sở thích, giọng nói, quê quán, tín ngưỡng, ngoại hình, cách nghĩ. Tôn trọng điều ấy nghĩa là thừa nhận người khác có quyền được là chính họ, không chế giễu, không ép họ phải giống mình, và sẵn lòng tìm hiểu trước khi phán xét.
Thế giới vốn đa dạng; chính sự khác nhau làm nó phong phú. Một lớp học toàn người nghĩ giống nhau sẽ là một lớp học rất chán và rất ít ý tưởng. Những buổi thảo luận hay nhất là những buổi có người dám nói ngược. Hơn nữa, tôn trọng người khác cũng là bảo vệ chính mình, vì ai cũng có lúc thành thiểu số: người chuyển trường, người mang giọng vùng khác, người có một sở thích lạ.
Tuy vậy, tôn trọng khác biệt không có nghĩa là chấp nhận mọi thứ. Gian lận, bạo lực, xúc phạm người khác không phải là sự khác biệt, đó là cái sai. Ranh giới khá rõ: một khác biệt đáng tôn trọng không làm hại ai. Đan Thanh hát xẩm chẳng làm tổn thương ai; còn những lời gọi cậu là cụ non thì có.
Muốn làm được điều đó, có lẽ nên bắt đầu bằng sự tò mò thay cho sự chê bai. Trước khi cười một điều mình không hiểu, thử hỏi người ta vì sao thích nó. Nhiều khi câu trả lời mở ra cả một thế giới. Tôi đã nghe được từ Thanh lần đầu tiên về những người hát xẩm ở chợ ngày xưa, và từ đó nghe nhạc thần tượng của mình cũng thấy khác đi một chút.
Một lớp học biết quý người khác mình không phải là nơi ai cũng giống ai, mà là nơi người ít ỏi nhất cũng dám nói to sở thích của mình. Lớp tôi đã mất gần một năm để học được điều đó. Năm nay, khi lớp đón một bạn chuyển đến từ vùng biển, nói giọng nặng và hay lúng túng ở giờ thuyết trình, không ai bắt chước giọng bạn nữa. Có người còn xin bạn dạy cách gọi tên các loại cá. Tôi nghĩ đấy mới là kết bài thật cho câu chuyện của Đan Thanh.
Mẫu 8: Thương người như thể thương thân (bài viết cho bản tin Chi đoàn)
Ông bà ta không bảo hãy thương người hơn thương mình, cũng không bảo hãy quên mình đi mà thương người. Câu tục ngữ Thương người như thể thương thân chọn một thước đo rất gần: hãy thương người khác như cách mình vẫn thương chính mình. Thước đo ấy vừa dễ hiểu vừa khó làm.
Dễ hiểu, vì ai cũng biết đói, rét, đau là thế nào, biết cảm giác bị bỏ rơi hay bị chê cười. Lấy chính cảm giác ấy để nhìn người khác, ta sẽ hiểu người đang cần gì. Người từng ngồi một mình ở căng tin ngày đầu chuyển trường sẽ biết nên kéo ghế mời bạn mới. Người từng ốm giữa kì thi sẽ biết mang vở ghi sang cho bạn nghỉ học.
Khó làm, vì thương thân thì tự nhiên, còn thương người thì phải nhớ. Ta lo cho mình mà không cần ai nhắc, nhưng lo cho người khác thì phải đặt mình vào chỗ họ, phải chậm lại, có khi phải bớt đi chút thời gian, chút tiền tiêu vặt của mình. Cái khó ấy là lí do câu tục ngữ cần được nói ra và được nhắc lại qua bao đời.
Câu tục ngữ cũng ngầm đòi hỏi một điều: phải biết thương thân cho đúng. Người tự hành hạ mình, không quý sức khỏe, không tôn trọng chính mình thì cũng khó biết cách quý người khác. Thương thân không phải ích kỉ; nó là điểm xuất phát.
Người Việt đã sống bằng câu tục ngữ ấy qua rất nhiều mùa thiên tai. Mỗi lần bão lũ ở miền Trung hay miền núi phía Bắc, những chuyến xe chở mì gói, nước sạch, áo phao lại lăn bánh từ khắp nơi, nhiều khi do chính những người cũng chẳng dư dả gì. Họ không quen người nhận. Họ chỉ hình dung cảnh nhà mình ngập tới mái thì mình sẽ cần gì, rồi gửi đúng thứ đó đi. Thương người như thể thương thân, ở những lúc như vậy, không còn là lời dạy mà là phản xạ.
Cũng có lúc lòng thương bị dùng sai chỗ. Thương mà không hiểu thì dễ thành ban ơn, cho đi để được khen, chụp ảnh người nhận để đăng lên mạng. Nếu là mình đang khó khăn, mình có muốn bị chụp ảnh như thế không? Câu hỏi ấy lại đưa ta về đúng thước đo của ông bà.
Tháng này Chi đoàn có kế hoạch gom áo ấm. Thay vì hỏi nhà mình còn áo nào cũ, mỗi bạn thử hỏi: nếu là mình đứng giữa gió rét đầu đông, mình muốn được nhận chiếc áo nào? Câu trả lời sẽ cho ta biết nên gửi đi thứ gì.
Mẫu 9: Dũng cảm nhận sai
Tiết Vật lí hôm ấy, thầy Lạng bước vào lớp, chưa mở sách đã nói một câu khiến cả lớp im phăng phắc: thầy chấm sai đáp án câu bốn bài kiểm tra tuần trước, mười hai bạn bị trừ điểm oan, thầy xin lỗi và sẽ sửa lại. Một người lớn, lại là thầy giáo, đứng trước bốn mươi học sinh nhận mình sai. Tôi nghĩ đó là lần đầu tiên tôi thấy lòng dũng cảm hiện ra rõ đến thế, không cần một chiến công nào.
Nhận sai là thừa nhận với chính mình và với người khác rằng mình đã nghĩ chưa đúng, làm chưa đúng. Nói đó là dũng cảm vì nó đòi người ta vượt qua nỗi sợ: sợ mất mặt, sợ bị coi thường, sợ phải chịu trách nhiệm. Nhiều người có thể leo núi, đứng trước đám đông, nhưng lại không thốt nổi một câu tôi đã sai.
Thế nhưng chỉ khi nhận sai, ta mới sửa được. Người giấu lỗi phải dùng thêm lỗi khác để che, cái sai nhỏ thành cái sai lớn. Người nhận lỗi sớm thì thiệt hại dừng lại ở đó. Mười hai bạn trong lớp tôi được trả lại điểm; nếu thầy im lặng, có lẽ chẳng ai phát hiện, nhưng cả mười hai sẽ mang một chút ấm ức không tên. Nhận sai còn làm người ta được tin hơn. Từ hôm ấy, mỗi khi thầy Lạng khẳng định điều gì, cả lớp tin ngay, vì biết thầy sẽ nói nếu thầy nhầm.
Dũng cảm nhận sai cũng khác với việc xin lỗi cho xong. Lời xin lỗi kèm một chữ nhưng, kiểu tôi sai nhưng tại bạn trước, chỉ là một cách đổ lỗi khéo hơn. Nhận sai thật thì đi kèm sửa sai. Thầy Lạng không chỉ xin lỗi; thầy chép lại lời giải đúng lên bảng, chỉ ra mình đã nhầm ở bước nào, rồi nhờ lớp trưởng mang bài lên để thầy chấm lại ngay trong giờ. Nhận sai, như vậy, gồm ba việc: nói ra, hiểu vì sao mình sai, và làm lại cho đúng.
Vì sao nhiều người không dám? Phần lớn vì họ tưởng thừa nhận một cái sai là thừa nhận mình kém. Thật ra, chỉ người đủ vững vàng mới dám nói mình sai. Người yếu thì phải cãi đến cùng, vì với họ, một lần sai là mất hết. Người lớn trong mắt trẻ con không phải người chưa bao giờ sai, mà là người biết đứng ra nhận khi mình sai.
Ở tuổi học trò, cơ hội để tập điều này đến mỗi ngày: một lần nói nặng với bạn, một lần quên việc của nhóm, một lần cãi bố mẹ. Câu tôi sai rồi càng nói sớm càng nhẹ, để lâu thì nặng dần như hòn đá ôm trong cặp.
Mẫu 10: Biết đủ không phải là an phận
Đầu ngõ nhà tôi có hàng xôi của bà Dịu. Mỗi sáng bà chỉ đồ một nồi, bán hết thì dọn hàng, có hôm mới tám giờ đã nghỉ. Người quen khuyên bà làm thêm nồi nữa, đông khách thế cơ mà. Bà cười bảo sức bà chỉ đến đấy, nồi thứ hai sẽ không ngon bằng nồi thứ nhất. Lời bà khiến tôi nhớ tới chữ tri túc của người xưa: biết đủ.
Biết đủ là hiểu mình cần gì, có gì, sức mình đến đâu, để không bị lòng tham kéo đi mãi. Người biết đủ vẫn muốn sống tốt hơn, nhưng không đánh đổi sức khỏe, chất lượng công việc hay những người thân yêu để chạy theo cái nhiều hơn chẳng bao giờ hết.
Biết đủ giúp con người thanh thản. Ham muốn giống chiếc cốc không đáy, rót bao nhiêu cũng không đầy. Người không biết đủ có thể giàu mà vẫn thấy thiếu, giỏi mà vẫn thấy thua, vì luôn có ai đó hơn mình để so. Biết đủ còn giữ được cái chất của mọi việc mình làm. Bà Dịu giữ được hàng xôi mấy chục năm có lẽ chính vì không bao giờ bán quá sức mình.
Nhưng biết đủ khác với an phận. An phận là thôi cố gắng, chấp nhận cả những điều có thể và nên thay đổi. Một học sinh bảo mình biết đủ với điểm trung bình trong khi có thể học tốt hơn thì không phải đang tri túc, mà đang lười. Biết đủ là với những thứ mình nhận về; còn với những gì mình có thể học, có thể cho đi, thì không nên bao giờ thấy đủ.
Ở tuổi chúng tôi, bài học này có mặt ở những chỗ rất gần. Một chiếc cặp còn tốt có nhất thiết phải thay vì bạn bè đã đổi mẫu mới? Một ngày đã học đủ, ngủ đủ, có cần thức thêm hai tiếng chỉ để lướt thêm vài đoạn video? Biết đủ, hóa ra, là biết dừng đúng lúc: dừng mua khi đã đủ dùng, dừng ăn khi đã no, dừng so bì khi mình đã có điều mình cần. Dừng lại như thế không làm ta nghèo đi, mà làm ta có thêm thời gian cho những việc thật sự đáng làm.
Người không biết đủ cũng không hẳn là người xấu. Nhiều khi họ chỉ là người chưa bao giờ tự hỏi mình cần bao nhiêu. Câu hỏi ấy nghe đơn giản mà phải trả lời cả đời, và mỗi giai đoạn lại cần một câu trả lời khác.
Sáng nay qua ngõ, nồi xôi của bà Dịu lại hết sớm. Bà ngồi lau chiếc nồi nhôm sáng bóng, vẻ mặt của một người không thiếu gì.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi | Sửa thế nào |
|---|---|
| Giải thích lướt, viết lại câu nói bằng từ đồng nghĩa rồi chuyển ngay sang chứng minh. | Tách hình ảnh then chốt ra giải thích nghĩa đen trước, nghĩa bóng sau (Mặt Trời, bóng tối ở Mẫu 1; thiện căn, chữ tâm ở Mẫu 3), rồi chốt bằng một câu nhận định của chính em. |
| Thân bài toàn khẳng định, câu nói nào cũng đúng tuyệt đối. | Thêm đoạn mở rộng: câu nói dễ bị hiểu sai ở đâu, giới hạn ở đâu (biết đủ khác an phận, tôn trọng khác biệt không phải chấp nhận cái sai). |
| Dẫn chứng chung chung kiểu nhiều tấm gương vượt khó, hoặc dẫn danh nhân mà nhớ sai, bịa câu nói. | Chọn một dẫn chứng em chắc chắn, có tên, có việc cụ thể; câu trích phải đúng nguyên văn. Không chắc ai nói thì diễn ý, không gán tên. |
| Kể chuyện trải nghiệm quá dài, bài nghiêng thành văn tự sự. | Tình huống mở đầu nên gọn trong một đoạn, phần còn lại là lí lẽ; quay lại tình huống ở kết bài nếu muốn (Mẫu 5, Mẫu 6). |
| Mở bài bằng câu dùng được cho mọi đề, kiểu đời người như một chặng đường dài. | Mở bằng phản đề, câu hỏi hoặc so sánh như sách gợi ý, gắn ngay vào câu nói cần bàn. |
| Bài học cuối bài chỉ là khẩu hiệu. | Nêu việc làm nhỏ, đo được: viết ra ba lỗi sai, vặn nhỏ loa sau mười giờ, chọn áo còn tốt để gửi đi. |
| Các đoạn rời nhau, đọc như những ý gạch đầu dòng. | Dùng câu chuyển đoạn: nói rõ đoạn sau tiếp ý trước theo quan hệ nào (nguyên nhân, mở rộng, đối lập). |
Hai mẹo khi ngồi làm bài kiểm tra:
- Dành năm phút đầu viết ra một câu luận đề của riêng em, kiểu biết đủ là với những gì mình nhận, không phải với những gì mình cho. Có câu ấy rồi, các luận điểm sẽ tự xếp hàng.
- Chuẩn bị sẵn vài dẫn chứng chắc chắn dùng được cho nhiều đề (một nhân vật văn học em hiểu kĩ, một người thật em biết rõ, một trải nghiệm của chính mình) thay vì học thuộc cả bài văn mẫu.
Gợi ý bài nói: Trình bày ý kiến đánh giá, bình luận về một tư tưởng, đạo lí
Phần Nói và nghe cùng bài học yêu cầu trình bày trước lớp ý kiến của em về một tư tưởng, đạo lí. Có thể dùng chính bài viết, nhưng cần chuyển sang văn nói:
- Rút bài viết thành ba ý lớn ghi trên thẻ nhỏ; không cầm cả bài lên đọc.
- Mở đầu bằng một tình huống hoặc một câu hỏi hướng thẳng về người nghe để kéo sự chú ý.
- Mỗi luận điểm chỉ giữ một dẫn chứng, kể ngắn, có thể kèm một hình ảnh trình chiếu.
- Chừa thời gian cho câu hỏi; khi có bạn phản biện, ghi lại ý của bạn, cảm ơn rồi trả lời bằng lí lẽ, không bằng cảm xúc.
Đoạn mở đầu bài nói tham khảo:
Các bạn thử nhìn xuống sân trường lúc này. Nắng đang chiếu từ phía cửa sổ, nên bóng của tất cả chúng ta đều đổ về phía bảng. Nếu bây giờ cả lớp quay lại nhìn ra cửa sổ, cái bóng sẽ nằm sau lưng. Hôm nay mình muốn nói với các bạn về một câu cách ngôn bắt đầu từ chính điều đơn giản ấy, và về lí do vì sao mình nghĩ nó đúng, nhưng chỉ đúng khi ta hiểu cho đủ.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Nếu đang làm đề trong sách (câu cách ngôn về Mặt Trời và bóng tối), hãy xem Mẫu 1: bài đi đủ giải thích, chứng minh, phản đề, liên hệ, có độ dài gần với một bài thi 90 phút. Đề lấy từ văn học như câu thơ của Nguyễn Du hay ý thơ của Pu-skin thì học cách làm ở Mẫu 2 và Mẫu 3: đọc kĩ văn bản trước rồi mới bàn ra đời sống. Mẫu 4 hợp với đề về một câu nói của người xưa gắn với lịch sử. Các Mẫu 8, 9, 10 ngắn, vừa một tiết luyện viết, mỗi bài chỉ giữ một hai luận điểm nhưng có phần mở rộng rõ. Hãy mượn ở mẫu trình tự lập luận và lối phản biện, còn dẫn chứng và trải nghiệm nên là của chính em.
Xem thêm:
- Tôi yêu em (Pu-skin): nội dung, đọc hiểu (Cánh diều 11, Bài 1)
- Hiền tài là nguyên khí quốc gia là câu nói của ai? và Soạn bài Hiền tài là nguyên khí của quốc gia
- Soạn bài Trao duyên (Cánh diều 11), đọc thêm về Truyện Kiều
- Cùng kiểu bài ở lớp dưới: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí lớp 8
- Nghị luận xã hội ở lớp 10: Bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm
- Nghị luận văn học cùng lớp 11: Nghị luận về một tác phẩm thơ và Nghị luận về một tác phẩm truyện