Năm bài học, mười văn bản đọc hiểu chính, năm kiểu bài viết và năm nội dung tiếng Việt: đó là toàn bộ khối kiến thức mà phần Ôn tập học kì II Ngữ văn 11 Cánh diều (trang 147–150, tập hai) yêu cầu học sinh tự hệ thống lại. Sách chia phần này thành ba khối: 11 câu Nội dung ôn tập, bảng Định hướng đánh giá và bài Tự đánh giá cuối học kì II với đoạn thơ Đi giữa đường thơm của Huy Cận (10 câu) cùng hai đề viết. Trang này đặt bảng tổng hợp văn bản lên đầu để tiện tra cứu, rồi giải lần lượt từng câu và kết thúc bằng đề luyện tự soạn trên một cảnh bi kịch viết riêng. Danh sách bài học đầy đủ xem ở mục lục Ngữ văn 11 Cánh diều.

Năm bài học của học kì II Ngữ văn 11 Cánh diều: bảng tổng hợp
Mỗi dòng là một văn bản đọc hiểu chính kèm một điều nên nhớ; cột cuối ghi văn bản thực hành đọc / tự đánh giá.
| Bài | Văn bản đọc hiểu – tác giả | Thể loại | Điều nên nhớ | Thực hành đọc / Tự đánh giá |
|---|---|---|---|---|
| 5. Truyện ngắn | Trái tim Đan-kô (trích Bà lão I-déc-ghin) – M. Go-rơ-ki | Truyện ngắn lãng mạn | Trái tim rực cháy soi đường cho bộ tộc; hi sinh vì cộng đồng. | Tầng hai (Phong Điệp) / Nắng đẹp miền quê ngoại (Trang Thế Hy) |
| Một người Hà Nội – Nguyễn Khải | Truyện ngắn hiện thực | Bà Hiền và cốt cách thanh lịch, bản lĩnh người Hà Nội. | ||
| 6. Thơ | Đây mùa thu tới – Xuân Diệu | Thơ có yếu tố tượng trưng | Bước đi của mùa thu, nỗi buồn mơ hồ. | Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), Tình ca ban mai (Chế Lan Viên) / Tràng giang (Huy Cận) |
| Sông Đáy – Nguyễn Quang Thiều | Thơ tự do có yếu tố tượng trưng | Dòng sông quê gắn với người mẹ; hình ảnh biểu tượng. | ||
| 7. Tùy bút, tản văn, truyện kí | Thương nhớ mùa xuân – Vũ Bằng | Tùy bút | Nỗi nhớ mùa xuân, Tết miền Bắc; cảm xúc dẫn mạch văn. | Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) / Bánh mì Sài Gòn (Huỳnh Ngọc Trảng) |
| Vào chùa gặp lại – Minh Chuyên | Truyện kí | Gặp sư Đàm Thân, nữ quân y Trường Sơn năm xưa; thật đan với sáng tạo. | ||
| 8. Bi kịch | Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô) – Nguyễn Huy Tưởng | Bi kịch | Bi kịch người nghệ sĩ có khát vọng lớn nhưng xa rời nhân dân. | Tôi muốn được là tôi toàn vẹn (trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ) / Trương Chi (Nguyễn Đình Thi) |
| Thề nguyền và vĩnh biệt (trích Rô-mê-ô và Giu-li-ét) – Uy-li-am Sếch-xpia | Bi kịch | Tình yêu đôi trẻ giữa mối thù hai dòng họ. | ||
| 9. Văn bản nghị luận | Tôi có một giấc mơ – Mác-tin Lu-thơ Kinh | Nghị luận xã hội (diễn văn) | Khát vọng bình đẳng chủng tộc; lặp cấu trúc. | Lại đọc “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân (Nguyễn Đăng Mạnh) / Thế hệ trẻ cần có quyết tâm lớn và phải biết hành động (Nguyễn Thị Bình) |
| Một thời đại trong thi ca – Hoài Thanh | Nghị luận văn học | Tinh thần Thơ mới, cái tôi cá nhân. |
Định hướng đánh giá cuối học kì II
Bảng định hướng ở trang 148 cho biết: bài kiểm tra làm trong 2 tiết (90 phút), phạm vi là kiến thức đã học trong tập hai. Đọc hiểu một văn bản mới thuộc hai loại văn bản văn học hoặc văn bản nghị luận; câu hỏi kết hợp trắc nghiệm khách quan và tự luận, tăng tỉ lệ câu trả lời ngắn. Phần viết là một đoạn hoặc bài văn ngắn, chủ yếu nghị luận. Bài tự đánh giá ngay sau là mẫu thu nhỏ của đề.
Nội dung ôn tập (trang 147–148)
Mục tiêu của phần ôn: trình bày được những gì đã học ở học kì II (đọc hiểu, viết, nói và nghe, kiến thức tiếng Việt và văn học) và hiểu rõ cách ra đề của bài tự đánh giá cuối kì.
Đọc hiểu văn bản
Câu 1 (trang 147): Thống kê bài đọc hiểu theo thể loại và kiểu văn bản
Thống kê các bài đọc hiểu trong sách Ngữ văn 11, tập hai theo thể loại và kiểu văn bản.
Trả lời:
| Loại | Thể loại / kiểu văn bản | Số văn bản | Tên văn bản (đọc hiểu, thực hành đọc, tự đánh giá) |
|---|---|---|---|
| Văn bản văn học | Truyện ngắn | 4 | Trái tim Đan-kô, Một người Hà Nội, Tầng hai, Nắng đẹp miền quê ngoại |
| Thơ (có yếu tố tượng trưng) | 5 | Đây mùa thu tới, Sông Đáy, Đây thôn Vĩ Dạ, Tình ca ban mai, Tràng giang | |
| Tùy bút, tản văn, truyện kí | 4 | Thương nhớ mùa xuân (tùy bút), Vào chùa gặp lại (truyện kí), Ai đã đặt tên cho dòng sông? (bút kí), Bánh mì Sài Gòn | |
| Bi kịch | 4 | Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài, Thề nguyền và vĩnh biệt, Tôi muốn được là tôi toàn vẹn, Trương Chi | |
| Văn bản nghị luận | Nghị luận xã hội, nghị luận văn học | 4 | Tôi có một giấc mơ, Thế hệ trẻ cần có quyết tâm lớn và phải biết hành động (xã hội); Một thời đại trong thi ca, Lại đọc “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân (văn học) |
Câu 2 (trang 147): Nội dung, ý nghĩa và tính thời sự của các truyện ngắn Bài 5
Nêu một số nội dung chính (đề tài, chủ đề, ý nghĩa, tư tưởng) của các truyện ngắn hiện đại ở Bài 5 trong sách Ngữ văn 11, tập hai. Phân tích ý nghĩa và tính thời sự của nội dung đặt ra trong các truyện ngắn được học ở bài này.
Trả lời:
- Trái tim Đan-kô: đề tài người anh hùng và cộng đồng; chủ đề ca ngợi sự hi sinh quên mình vì người khác, đồng thời phê phán đám đông hèn nhát, vô ơn (có kẻ giẫm lên trái tim còn cháy).
- Một người Hà Nội: đề tài con người Hà Nội qua thời chiến và thời đổi mới; chủ đề khẳng định vẻ đẹp văn hóa bền bỉ, lòng tự trọng và tình yêu đất nước của người Hà Nội qua nhân vật bà Hiền.
- Tầng hai, Nắng đẹp miền quê ngoại: đời sống, tình cảm con người trong không gian gia đình, làng quê, cho thấy những giá trị thầm lặng dễ bị lãng quên.
Tính thời sự. Câu chuyện Đan-kô vẫn đặt ra câu hỏi về người dám đi đầu và thái độ của số đông, khi mạng xã hội dễ biến người hi sinh thành đối tượng bị chê bai. Bà Hiền nhắc người trẻ rằng hội nhập không có nghĩa là bỏ cốt cách văn hóa: giữ nếp nhà, giữ lòng tự trọng.
Câu 3 (trang 147): Đặc điểm cần chú ý khi đọc thơ có yếu tố tượng trưng
Chỉ ra và làm sáng tỏ một số đặc điểm tiêu biểu cần chú ý khi đọc văn bản thơ có yếu tố tượng trưng trong Bài 6, sách Ngữ văn 11, tập hai.
Trả lời:
- Hình ảnh tượng trưng, gợi nhiều hơn tả. Hình ảnh không chỉ chỉ sự vật mà mang một tầng nghĩa khác. Trong Đây thôn Vĩ Dạ, thuyền và sông trăng vừa là cảnh, vừa gợi một hạnh phúc mong manh, xa vời.
- Tương ứng giữa các giác quan. Âm thanh, màu sắc, hương vị chuyển hóa vào nhau (ẩn dụ chuyển đổi cảm giác), tạo cảm nhận mới lạ về thế giới. Bài tự đánh giá cuối kì hỏi trực tiếp điểm này.
- Nhạc tính. Vần, nhịp, thanh điệu được chăm chút để tạo âm hưởng, có khi lấn cả ý.
- Không gian, thời gian mơ hồ, tâm trạng khó gọi tên. Đây mùa thu tới diễn tả nỗi buồn không rõ nguyên do; Sông Đáy đan dòng sông thật với dòng sông trong kí ức về mẹ.
Vì vậy khi đọc, đừng cố giải nghĩa từng hình ảnh theo một nghĩa duy nhất; hãy nắm cảm xúc chủ đạo rồi tìm xem hình ảnh, âm thanh nào tạo ra cảm xúc ấy.
Câu 4 (trang 147): Nội dung, ý nghĩa văn bản Bài 7; tự sự và trữ tình, hư cấu và phi hư cấu
Nêu các nội dung chính và chỉ ra ý nghĩa của các văn bản đọc hiểu của Bài 7 trong sách Ngữ văn 11, tập hai. Phân tích sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình qua một văn bản tuỳ bút, tản văn, hoặc sự kết hợp giữa hư cấu và phi hư cấu trong truyện kí ở bài học này.
Trả lời:
Thương nhớ mùa xuân ghi lại nỗi nhớ da diết của Vũ Bằng về mùa xuân và Tết Hà Nội khi ông ở xa; ý nghĩa: tình yêu quê hương nằm cả trong những điều rất nhỏ. Vào chùa gặp lại kể cuộc gặp với sư Đàm Thân, nữ quân y Trường Sơn năm xưa, nay đi tu; ý nghĩa: nhắc về những hi sinh thầm lặng của người phụ nữ trong chiến tranh và cách con người vượt lên nỗi đau.
Thật và hư cấu đan nhau ở Vào chùa gặp lại. Phần phi hư cấu là nền: nhân vật có tên thật, đơn vị thật (Đoàn 559), vết thương và di chứng chất độc da cam có thật, ngôi chùa có địa chỉ cụ thể. Phần hư cấu là cách tác giả dựng lại cảnh đêm khuya ở chùa, lời thoại, tâm trạng nhân vật, và hình ảnh kết mang tính biểu tượng. Nhờ nền thật, người đọc tin; nhờ phần sáng tạo, người đọc xúc động.
Câu 5 (trang 147): Tóm tắt các văn bản bi kịch Bài 8 và lưu ý khi đọc
Tóm tắt nội dung chính của các văn bản bi kịch trong Bài 8 sách Ngữ văn 11, tập hai và nêu một số điểm cần lưu ý về cách đọc các văn bản ấy.
Trả lời:
- Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài: binh biến nổ ra, Lê Tương Dực bị giết; quân khởi loạn và dân phu kéo đến bắt Vũ Như Tô. Đan Thiềm khuyên ông trốn, ông không nghe vì tin mình vô tội. Cửu Trùng Đài bị đốt, Đan Thiềm bị bắt đi, Vũ Như Tô bị dẫn ra pháp trường, vẫn đau đớn trước công trình của mình bị hủy.
- Thề nguyền và vĩnh biệt: Rô-mê-ô lẻn vào vườn nhà Ca-piu-lét, nghe Giu-li-ét bày tỏ rồi hai người trao lời thề; ở cảnh sau, khi đã bí mật cưới nhau và Rô-mê-ô bị đày vì giết Ti-bân, họ phải chia tay lúc trời hửng sáng.
- Tôi muốn được là tôi toàn vẹn: hồn Trương Ba không chịu sống trong thân xác anh hàng thịt, đòi trả xác, chấp nhận chết để được là chính mình.
Lưu ý khi đọc: xác định xung đột bi kịch (thường là xung đột không thể điều hòa giữa khát vọng cao đẹp và thực tại); tìm hiểu nhân vật bi kịch, con người có phẩm chất đáng quý nhưng mắc sai lầm hoặc bị hoàn cảnh dồn đến kết cục đau thương; đọc kĩ lời thoại (đối thoại, độc thoại) và chỉ dẫn sân khấu; chú ý hành động kịch dẫn tới đỉnh điểm.
Câu 6 (trang 147): Đặc điểm, yêu cầu và ý nghĩa của việc đọc văn bản nghị luận Bài 9
Nêu và nhận xét đặc điểm của các văn bản nghị luận được học trong Bài 9, sách Ngữ văn 11, tập hai. Phân tích yêu cầu và ý nghĩa của việc đọc hiểu các văn bản nghị luận này.
Trả lời:
Đặc điểm. Hai văn bản chính đại diện cho hai hướng. Tôi có một giấc mơ là diễn văn nghị luận xã hội, viết để đọc trước đám đông: luận đề rõ (khát vọng bình đẳng), lặp cấu trúc dồn dập, hình ảnh so sánh mạnh, giọng truyền cảm. Một thời đại trong thi ca là nghị luận văn học: bàn về tinh thần Thơ mới, lập luận dựa trên so sánh thơ cũ và thơ mới, lời văn tinh tế, vừa lí trí vừa tài hoa. Cả hai đều kết hợp lí lẽ với cảm xúc.
Yêu cầu khi đọc: tìm luận đề, hệ thống luận điểm; đánh giá lí lẽ và bằng chứng; nhận ra vai trò của yếu tố biểu cảm; đặt văn bản vào hoàn cảnh ra đời (nước Mĩ năm 1963; phong trào Thơ mới 1932–1945). Ý nghĩa: giúp học sinh có thêm mẫu lập luận cho bài viết về hiện tượng đời sống ở cùng Bài 9, và hiểu rằng nghị luận thuyết phục không chỉ bằng lí mà bằng cả niềm tin của người viết.
Viết
Câu 7 (trang 148): Các kiểu văn bản viết và yêu cầu chính
Nêu tên các kiểu văn bản được rèn luyện viết trong sách Ngữ văn 11, tập hai; chỉ ra những yêu cầu chính khi viết các kiểu văn bản này.
Trả lời:
| Bài | Kiểu văn bản | Yêu cầu chính |
|---|---|---|
| 5 | Nghị luận về một tác phẩm truyện | Nêu nhận định về tác phẩm; phân tích nội dung (chủ đề, nhân vật) và hình thức (cốt truyện, tình huống, điểm nhìn, chi tiết); dẫn chứng từ văn bản. |
| 6 | Nghị luận về một tác phẩm thơ | Phân tích toàn bài hoặc một vài phương diện; làm rõ thể thơ, hình ảnh, vần nhịp, biện pháp tu từ và tác dụng với cảm xúc. |
| 7 | Báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội | Vấn đề cụ thể; phương pháp rõ; số liệu, tư liệu có nguồn; trích dẫn và trình bày tài liệu tham khảo đúng quy cách; ngôn ngữ khách quan. |
| 8 | Nghị luận về một tác phẩm kịch | Làm rõ xung đột, nhân vật, hành động kịch, lời thoại; đánh giá ý nghĩa tư tưởng. |
| 9 | Nghị luận về một hiện tượng đời sống | Mô tả hiện tượng; phân tích nguyên nhân, tác động; nêu ý kiến riêng, bác bỏ ý kiến khác; đề xuất giải pháp. |
Câu 8 (trang 148): Ý nghĩa những kĩ năng viết đã rèn luyện
Nêu và phân tích ý nghĩa những kĩ năng viết được rèn luyện trong các bài học ở Ngữ văn 11, tập hai.
Trả lời:
- Phân tích tác dụng của yếu tố hình thức (truyện, thơ, kịch): giúp bài nghị luận văn học không dừng ở kể lại nội dung mà chỉ ra được cái hay nằm ở đâu.
- Trích dẫn và ghi tài liệu tham khảo (gắn với báo cáo nghiên cứu Bài 7 và phần tiếng Việt cùng bài): rèn tính trung thực học thuật, tôn trọng nguồn và giúp người đọc kiểm chứng.
- Kết hợp lí lẽ với biểu cảm: làm bài nghị luận có sức lay động, như cách các văn bản Bài 9 làm.
- Phân tích bằng chứng và bác bỏ ý kiến trái chiều (bài nghị luận về hiện tượng đời sống): giúp lập luận chặt, nhìn vấn đề nhiều phía.
Câu 9 (trang 148): Giống và khác giữa nghị luận về truyện, về thơ và về một bộ phim (vở kịch, bài hát…)
Nêu một số điểm giống nhau và khác nhau giữa yêu cầu viết bài nghị luận về một tác phẩm truyện, nghị luận về một tác phẩm thơ và nghị luận về một bộ phim (vở kịch, bài hát, bức tranh, pho tượng).
Trả lời:
Giống nhau: đều là nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật; cần giới thiệu tác phẩm, nêu nhận định chung, phân tích nội dung và hình thức, đánh giá giá trị; luận điểm đi kèm dẫn chứng lấy từ chính tác phẩm.
| Phương diện khác | Tác phẩm truyện | Tác phẩm thơ | Phim, kịch, ca khúc, hội họa, điêu khắc |
|---|---|---|---|
| Chất liệu phân tích | Ngôn từ kể chuyện | Ngôn từ giàu nhạc tính, hàm súc | Hình ảnh, âm thanh, diễn xuất, giai điệu, màu sắc, đường nét, chất liệu |
| Yếu tố trọng tâm | Cốt truyện, tình huống, nhân vật, điểm nhìn, chi tiết | Nhân vật trữ tình, cảm xúc, hình ảnh, vần nhịp, biện pháp tu từ | Kịch bản, đạo diễn, diễn viên, âm nhạc, bố cục, màu sắc, không gian trưng bày |
Nói và nghe
Câu 10 (trang 148): Nội dung nói và nghe tập hai, giống và khác tập một
Những nội dung chính được rèn luyện trong phần Nói và nghe ở sách Ngữ văn 11, tập hai là gì? Các nội dung này có gì giống và khác với nội dung phần Nói và nghe của sách Ngữ văn 11, tập một?
Trả lời:
Tập hai: giới thiệu một tác phẩm truyện (Bài 5), một tác phẩm thơ (Bài 6), một tác phẩm kịch (Bài 8); trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội (Bài 7); trình bày ý kiến đánh giá, bình luận về một hiện tượng đời sống (Bài 9).
Giống tập một: vẫn gồm hai mảng giới thiệu tác phẩm và trình bày ý kiến về đời sống; mỗi nội dung nói đều nối với bài viết cùng bài. Khác: tập một giới thiệu một tác phẩm nghệ thuật nói chung (phim, bài hát, tranh), bình luận một tư tưởng đạo lí, thảo luận vấn đề xã hội trong tác phẩm, nghe thuyết minh tổng hợp; tập hai thu hẹp vào tác phẩm văn học theo từng thể loại, thêm kiểu trình bày báo cáo nghiên cứu mang tính học thuật, và chuyển từ tư tưởng đạo lí sang hiện tượng đời sống cụ thể.
Tiếng Việt
Câu 11 (trang 148): Thống kê phần tiếng Việt, quan hệ với đọc và viết, phân tích một biện pháp tu từ ở Bài 6
a) Thống kê tên phần tiếng Việt trong các bài của sách Ngữ văn 11, tập hai. b) Nhận xét về mối quan hệ giữa nội dung tiếng Việt với nội dung đọc hiểu và viết. c) Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em thích nhất trong một văn bản thơ ở Bài 6.
Trả lời:
a)
| Bài | Thực hành tiếng Việt |
|---|---|
| 5 | Hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường |
| 6 | Ôn tập các biện pháp tu từ tiếng Việt |
| 7 | Cách giải thích nghĩa của từ và cách trình bày tài liệu tham khảo |
| 8 | Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (tiếp theo) |
| 9 | Lỗi về thành phần câu và cách sửa (tiếp theo) |
b) Mỗi nội dung tiếng Việt đi kèm thể loại của bài. Truyện ngắn hay có lời nhân vật lệch chuẩn để tạo cá tính, nên học hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ; thơ tượng trưng dày biện pháp tu từ; báo cáo nghiên cứu cần giải thích thuật ngữ và ghi tài liệu tham khảo; kịch là ngôn ngữ nói được viết ra; còn bài nghị luận dễ mắc lỗi thành phần câu khi viết câu dài.
c) Em chọn phép nhân hóa và ẩn dụ trong khổ đầu bài Đây thôn Vĩ Dạ (thực hành đọc Bài 6):
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Gió và mây vốn đi cùng nhau lại bị tách thành hai đường riêng; điệp từ gió, mây trong một dòng thơ làm sự chia lìa hiện ra rõ hơn. Dòng nước được nhân hóa là buồn thiu, mang luôn tâm trạng của nhà thơ. Đến hai câu sau, ánh trăng trở thành thứ có thể chở trên thuyền, dòng sông thành sông trăng: một ẩn dụ đẹp mà mong manh, hỏi “có kịp tối nay” như hỏi về một hạnh phúc sắp vuột mất. Nhờ các biện pháp này, cảnh xứ Huế không chỉ được tả mà thấm đầy nỗi cô đơn, khắc khoải của người đang bệnh tật và xa cách cuộc đời.
Tự đánh giá cuối học kì II (trang 149–150)
I. Đọc hiểu: đoạn trích bài thơ Đi giữa đường thơm của Huy Cận (in trong Lửa thiêng), gồm ba khổ: khổ đầu vẽ con đường làng có hoa dại, mùi rơm; khổ hai là nắng, bóng tre, bóng phượng và cảm giác ngợp giữa hương với màu; khổ ba gợi một buổi trưa như trong ca dao, có cu gáy, bướm vàng, đôi lứa tình tự. Ba dòng mở đầu:
Đường trong làng: Hoa dại với mùi rơm…
Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm,
Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng.
Câu 1 (trang 149): Tên gọi đúng của con đường được gợi lên
Câu nào sau đây gọi đúng tên con đường được gợi lên từ đoạn trích? A. Con đường đầy rơm rạ; B. Con đường đầy ánh nắng; C. Con đường đầy tre, trúc; D. Con đường đầy hương sắc.
Trả lời: D. Con đường có hoa dại, mùi rơm, nắng, bóng tre, bóng phượng, và nhà thơ nói rõ hương với màu hòa hợp; nhan đề cũng gọi là “đường thơm”. Rơm, nắng, tre chỉ là từng chi tiết, không bao quát được cả con đường.
Câu 2 (trang 149): Dòng thơ dùng ẩn dụ chuyển đổi cảm giác
Dòng thơ nào sau đây có sử dụng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác? A. Đường trong làng: Hoa dại với mùi rơm; B. Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm; C. Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ; D. Mà đôi lứa đứng bên vườn tình tự.
Trả lời: B. Con đường là thứ nhìn thấy (thị giác) nhưng được cảm bằng khứu giác (thơm). Dòng A chỉ kể ra mùi rơm như một thực tế, không chuyển đổi cảm giác.
Câu 3 (trang 150): Nhận xét đúng về sự tương ứng các giác quan
Nhận xét nào sau đây đúng với sự “tương ứng các giác quan” được biểu hiện trong đoạn trích trên? A. Cảnh vật, con người, hương hoa, cây cối,… chan hoà trong một niềm vui; B. Đất trời, đường làng, không gian, thời gian, hoa dại, mùi rơm,… lẫn lộn; C. Cảm xúc, tâm trạng, niềm vui, sự ngất ngây, trí tưởng tượng,… đan xen; D. Mùi hương, âm thanh, sắc màu xen lẫn cùng các giác quan giao hoà,…
Trả lời: D. “Tương ứng các giác quan” là sự giao hòa giữa khứu giác (hương hoa, mùi rơm), thính giác (cu gáy), thị giác (nắng, bướm vàng, màu). Các phương án khác nói về cảnh vật, không gian hay cảm xúc chung, không đúng trọng tâm “giác quan”.
Câu 4 (trang 150): Cách tạo nhạc tính của đoạn thơ
Nhạc tính của đoạn thơ trên được tạo nên bởi những cách thức nào? A. Sử dụng ẩn dụ chuyển đổi cảm giác và so sánh; B. Sử dụng nhiều thanh bằng và gieo vần chân; C. Dùng nhiều từ ngữ và hình ảnh chỉ âm thanh; D. Dùng nhiều từ ngữ và hình ảnh chỉ cảm giác.
Trả lời: B. Các dòng thơ tám chữ gieo vần chân từng cặp (rơm – thơm, lâu – sâu, ngợp – hợp, nào – dao, chứ – tự, đi – chi), lại dày thanh bằng nên âm điệu êm, ngân. A và D nói về hình ảnh, không phải âm thanh của câu thơ; C sai vì từ chỉ âm thanh rất ít.
Câu 5 (trang 150): Điểm giống giữa đoạn trích và Đây mùa thu tới
Phương án nào dưới đây nêu đúng điểm giống nhau giữa đoạn trích trên và bài thơ Đây mùa thu tới (Xuân Diệu)? A. Đều viết về đề tài tình yêu lứa đôi; B. Đều vận dụng biện pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác; C. Đều viết về tâm trạng con người trước mùa thu; D. Đều miêu tả cảnh đẹp của mùa thu.
Trả lời: B. Đoạn thơ Huy Cận không viết về mùa thu nên C, D sai; Đây mùa thu tới không lấy tình yêu lứa đôi làm đề tài nên A sai. Cả hai cùng là thơ có yếu tố tượng trưng và đều dùng chuyển đổi cảm giác (Xuân Diệu có cách cảm cái rét bằng thính giác).
Câu 6 (trang 150): Tác dụng của vần và nhịp
Nêu tác dụng của các yếu tố vần và nhịp của đoạn trích trên.
Trả lời: Vần chân liền từng cặp nối các dòng thành một chuỗi liền mạch, như bước chân đi dạo không dứt. Nhịp chủ yếu chậm, êm (3/5, 4/4), có chỗ ngắt bằng dấu ba chấm, dấu gạch ngang, câu hỏi, gợi cảm giác lâng lâng, ngập ngừng. Vần và nhịp cùng tạo nên âm điệu nhẹ nhàng, mơ màng, hợp với tâm trạng say sưa của người đi giữa hương sắc.
Câu 7 (trang 150): Yếu tố tượng trưng trong đoạn trích
Chỉ ra yếu tố tượng trưng trong đoạn trích trên.
Trả lời: Hình ảnh “đường thơm” vừa là con đường làng vừa tượng trưng cho con đường của kí ức, của hạnh phúc; “hương hoa tưởng tượng” là hương của tâm hồn chứ không phải hương thật; “buổi trưa không biết ở thời nào” xóa ranh giới thời gian, nối hiện tại với xưa cũ trong ca dao; cùng với đó là sự tương ứng giữa các giác quan và những câu hỏi bỏ lửng.
Câu 8 (trang 150): Hiểu thế nào về “đường thơm”
Em hiểu “đường thơm” trong đoạn trích trên là gì?
Trả lời: Nghĩa thực: con đường làng thơm hương hoa dại, mùi rơm. Nghĩa sâu hơn: con đường của cảm xúc và hồi ức, nơi người đi dạo mang sẵn “hương hoa tưởng tượng” trong lòng, nên con đường thơm cả bằng tâm hồn của người đi.
Câu 9 (trang 150): Các giác quan nhà thơ dùng để cảm nhận và diễn tả
Nhà thơ nhận biết và diễn tả cảm xúc của mình bằng các giác quan nào?
Trả lời: Khứu giác (mùi rơm, đường thơm, hương), thị giác (hoa dại, nắng, bóng tre, bóng phượng, bướm vàng, màu), thính giác (cu gáy), xúc giác (nắng như thêu lên đất, cảm giác bị ngợp). Thêm vào đó là trí tưởng tượng và kí ức.
Câu 10 (trang 150): Tâm trạng và tình cảm của chủ thể trữ tình
Theo em, đoạn trích thể hiện được tâm trạng và tình cảm gì của chủ thể trữ tình?
Trả lời: Đó là niềm say sưa, ngây ngất trước vẻ đẹp bình dị của làng quê, có chút bâng khuâng, mơ màng khi hiện tại gợi về một buổi trưa xưa cũ. Câu hỏi cuối (lòng nhớ rõ làm chi) cho thấy một chút buồn nhẹ của người biết rằng những khoảnh khắc đẹp rồi sẽ thành kỉ niệm, nhưng vẫn chọn sống trọn với nó. Qua đó thấy tình yêu quê hương, yêu cuộc sống và một tâm hồn rất nhạy cảm.
II. Viết
Viết (trang 150): Chọn một trong hai đề để viết bài văn ngắn
Đề 1: Phân tích giá trị văn hoá hoặc triết lí nhân sinh trong một tác phẩm văn xuôi đã học ở Bài 5 và Bài 7 trong sách Ngữ văn 11, tập hai. Đề 2: Điều em tâm đắc nhất khi đọc văn bản Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (trích kịch Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng).
Trả lời:
Dàn ý Đề 1 (giá trị văn hóa trong Một người Hà Nội): giới thiệu Nguyễn Khải, truyện và nhân vật bà Hiền → giá trị văn hóa thứ nhất: nếp sống thanh lịch, cách dạy con giữ gìn phép tắc, ăn nói → thứ hai: lòng tự trọng và bản lĩnh, không chạy theo thời thế, biết điều gì là phải → thứ ba: tình yêu Hà Nội và đất nước (để con đi chiến đấu, không muốn con sống hèn) → nghệ thuật: người kể xưng “tôi” quan sát và đối thoại với bà Hiền, giọng vừa trân trọng vừa hóm hỉnh, chi tiết cây si đổ rồi sống lại mang ý nghĩa biểu tượng → ý nghĩa hôm nay: hội nhập càng cần giữ “hạt bụi vàng” văn hóa của mỗi vùng đất.
Bài tham khảo Đề 2:
Điều đọng lại lâu nhất sau khi em đọc Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài không phải ngọn lửa thiêu tòa đài, mà là câu hỏi mà Nguyễn Huy Tưởng để ngỏ: cái đẹp nằm ở đâu khi nó được dựng lên bằng mồ hôi và nước mắt của người khác?
Vũ Như Tô là một thiên tài thật sự. Ông muốn xây một công trình khiến đời sau phải ngưỡng mộ, và tin rằng nghệ thuật lớn thì đáng mọi giá. Nhưng để Cửu Trùng Đài mọc lên, dân phu bị bắt đi xây, thợ thuyền chết, ngân khố cạn. Khi binh biến nổ ra, ông vẫn tin mình vô tội, vẫn thiết tha xin được giữ tòa đài. Bi kịch của ông là đứng giữa hai lẽ phải: khát vọng nghệ thuật là chính đáng, nhưng sự đau khổ của dân chúng cũng là thật. Ông chỉ thấy lẽ phải thứ nhất.
Em tâm đắc nhất ở chỗ tác giả không kết án ai một cách dễ dãi. Đan Thiềm, người hiểu và quý tài năng của Vũ hơn ai hết, đến phút cuối vẫn lo cho ông. Dân phu đốt đài không phải vì ghét cái đẹp, mà vì cái đẹp ấy gắn với áp bức. Người đọc thương Vũ Như Tô, nhưng không thể đứng hẳn về phía ông. Chính sự giằng co ấy làm tác phẩm còn sống tới hôm nay.
Từ đó em hiểu rằng tài năng cần đi cùng sự thấu hiểu con người. Câu chuyện của Vũ Như Tô vì thế không cũ: nó vẫn đặt ra cho mỗi người làm nghề một câu hỏi về trách nhiệm.
Đề kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn 11 Cánh diều tham khảo (tự soạn, có đáp án)
Ngữ liệu là một cảnh kịch nói mang tính bi kịch do Văn VN tự viết, để luyện kĩ năng đọc kịch của Bài 8. Thời gian: 90 phút.
I. Đọc hiểu (4,0 điểm)
ĐÊM MỞ CỐNG (cảnh cuối)
(Nhà canh cống đầu đê làng Hạ. Đêm. Mưa quất vào mái lá, ngọn đèn bão chao đảo, dưới chân đê nước gầm. ÔNG KHẢI, người giữ cống ba mươi năm, ngồi bất động bên chiếc bàn có tờ công văn.)
THƯ KÍ HUYỆN: (lau nước mưa trên mặt) Lệnh trên đã rõ, ông Khải. Trước canh ba phải mở cống xả lũ sang đồng làng Hạ. Không mở, nước tràn vào thị trấn: bệnh viện, chợ, trường học, hàng nghìn người.
ÔNG KHẢI: Còn làng Hạ? Ba trăm nóc nhà, mấy chục cụ già không đi được. Cũng là người cả.
THƯ KÍ HUYỆN: Người làng Hạ đã được báo sơ tán từ chiều.
ÔNG KHẢI: Báo! Anh có biết đường ra đê ngập tới thắt lưng rồi không? (đứng dậy, nhìn ra bóng tối) Con gái tôi còn ở dưới ấy. Nó không chịu đi khi bà cụ hàng xóm chưa có người cõng.
THƯ KÍ HUYỆN: (hạ giọng) Tôi hiểu. Nhưng chậm một giờ là vỡ đê thị trấn. Lúc ấy chẳng còn ai để mà thương ai nữa.
(Im lặng. Tiếng nước mỗi lúc một dữ.)
ÔNG KHẢI: (nói một mình) Ba mươi năm tôi giữ cái cống này cho nước khỏi vào làng. Giờ người ta bảo chính tay tôi phải mở cho nước vào. (cười khan, nhìn hai bàn tay) Cái tay này… còn là tay của tôi nữa không?
(HẠNH, con gái ông, ướt sũng, chạy vào.)
HẠNH: Bố! Bà Tư ra được rồi. Cả xóm dưới ra hết rồi bố ạ. Chỉ còn nhà cửa, trâu bò… với bàn thờ mẹ, con không kịp mang lên.
ÔNG KHẢI: (nắm chặt vai con) Ra hết thật chưa?
HẠNH: Thật. Con đếm từng người.
(Ông Khải đứng lặng hồi lâu, rồi bước tới bánh xe cống, đặt cả hai bàn tay lên.)
ÔNG KHẢI: Nhà thì dựng lại được. Lúa thì gieo lại được. (quay về phía cánh đồng, nói to) Làng Hạ ơi, tôi có tội với làng!
(Ông quay bánh xe. Tiếng sắt rít lên. Nước ầm ầm đổ xuống cánh đồng tối. Hạnh ôm lấy lưng bố. Thư kí huyện bỏ mũ, cúi đầu. Đèn tắt.)
Câu 1. Xung đột chính của cảnh kịch là gì? A. Xung đột giữa ông Khải và con gái; B. Xung đột giữa trách nhiệm với số đông và tình gắn bó với làng quê, gia đình; C. Xung đột giữa thư kí huyện và người làng Hạ; D. Xung đột giữa con người và thiên tai.
Câu 2. Chỉ ra lời độc thoại của nhân vật ông Khải. Lời độc thoại ấy cho thấy điều gì về nội tâm nhân vật?
Câu 3. Các chỉ dẫn sân khấu về mưa, tiếng nước, ngọn đèn có tác dụng gì?
Câu 4. Câu thoại “Báo! Anh có biết đường ra đê ngập tới thắt lưng rồi không?” mang những đặc điểm nào của ngôn ngữ nói?
Câu 5. Câu sau mắc lỗi gì? Hãy sửa lại: Qua hành động mở cống của ông Khải cho thấy một con người đặt trách nhiệm lên trên tình riêng.
Câu 6. Vì sao có thể nói cảnh kịch mang tính bi kịch dù không ai chết? Em có đồng tình với lựa chọn của ông Khải không? Trả lời trong đoạn văn 5–7 câu.
II. Viết (6,0 điểm)
Chọn một trong hai đề: (1) Viết bài văn nghị luận phân tích cảnh kịch Đêm mở cống ở trên. (2) Viết bài văn nghị luận về hiện tượng: nhiều người sẵn sàng chịu thiệt về mình khi cộng đồng gặp thiên tai.
Đáp án và hướng dẫn chấm
| Câu | Đáp án / yêu cầu | Điểm |
|---|---|---|
| 1 | B. Hai lẽ phải cùng chính đáng (cứu thị trấn đông người và giữ làng mình), không thể vẹn cả hai. | 0,5 |
| 2 | Đoạn ông “nói một mình” về ba mươi năm giữ cống. Nội tâm giằng xé: việc phải làm đi ngược cả cuộc đời ông, ông thấy như bàn tay mình không còn thuộc về mình. | 0,5 |
| 3 | Tạo không khí khẩn cấp; tiếng nước dồn nhân vật đến quyết định; đèn tắt ở cuối gợi mất mát. | 0,5 |
| 4 | Câu đặc biệt một từ (“Báo!”) bộc lộ cảm xúc; câu hỏi tu từ; từ ngữ khẩu ngữ, gắn với tình huống trực tiếp, có ngữ điệu và cử chỉ đi kèm. | 0,5 |
| 5 | Thiếu chủ ngữ (cụm “qua hành động…” là trạng ngữ). Sửa: bỏ “Qua”, hoặc viết: Qua hành động mở cống, ông Khải hiện lên là một con người đặt trách nhiệm lên trên tình riêng. | 0,5 |
| 6 | Tính bi kịch: xung đột không thể dung hòa, nhân vật buộc phải tự tay hi sinh điều mình gắn bó, mang cảm giác tội lỗi (“tôi có tội với làng”), kết thúc trong mất mát. Ý kiến riêng có lí lẽ; đoạn văn đúng hình thức. | 1,5 |
| Viết | Bố cục, đúng kiểu bài (0,5). Đề 1: xung đột, nhân vật ông Khải qua lời thoại, độc thoại, hành động; vai trò Hạnh, thư kí; chỉ dẫn sân khấu; ý nghĩa (4,0). Đề 2: mô tả hiện tượng có bằng chứng, nguyên nhân, ý nghĩa, phản bác thái độ thờ ơ, bài học (4,0). Diễn đạt (1,0); sáng tạo (0,5). | 6,0 |
Kinh nghiệm ôn thi cuối kì II Ngữ văn 11 Cánh diều
- Đề tự đánh giá dùng thơ có yếu tố tượng trưng ngoài sách. Thuộc lòng bộ “chìa khóa” của Bài 6: hình ảnh tượng trưng, tương ứng các giác quan, nhạc tính, ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. Ba trên năm câu trắc nghiệm hỏi đúng những khái niệm này.
- Câu sửa lỗi thành phần câu gần như chắc chắn có trong đề: dạng hay gặp nhất là câu mở đầu bằng “Qua…”, “Với…”, “Trong…” khiến mất chủ ngữ.
- Phần viết Đề 1 của sách hỏi về giá trị văn hóa hoặc triết lí nhân sinh: chuẩn bị sẵn một tác phẩm cho mỗi hướng (giá trị văn hóa: Một người Hà Nội, Thương nhớ mùa xuân; triết lí nhân sinh: Trái tim Đan-kô, Vào chùa gặp lại).
Xem thêm: