Thuyết trình là trình bày bằng lời, một cách có hệ thống và rõ ràng, một vấn đề trước nhiều người nghe, thường kèm hình ảnh, sơ đồ hoặc trang chiếu để minh họa. Một bài thuyết trình có chủ đề, có bố cục mở – thân – kết và hướng tới một mục đích: cung cấp thông tin, thuyết phục hay giới thiệu điều gì đó. Trong sách Ngữ văn, đây là kiểu bài quen thuộc của phần Nói và nghe.
| Nghĩa ngắn | Trình bày một vấn đề trước đông người, có chuẩn bị và có hệ thống |
| Gốc từ | Hán Việt: thuyết 說 (nói, giảng rõ) + trình 呈 (bày ra, thưa lên) |
| Thuộc | Hoạt động nói; phần Nói và nghe trong SGK Ngữ văn |
| Dấu hiệu nhận biết | Một người nói trước nhiều người, có đề tài, dàn ý, phương tiện hỗ trợ |

Một người nói, cả lớp nghe: thuyết trình hiểu cho đúng
Từ điển tiếng Việt định nghĩa thuyết trình là động từ, chỉ việc trình bày một cách hệ thống và sáng rõ một vấn đề trước đông người, với ví dụ thuyết trình đề tài khoa học, thuyết trình trước hội nghị. Hai chữ Hán ghép lại cũng nói đúng điều ấy. Thuyết (說) là dùng lời giải thích cho rõ, như trong thuyết minh, diễn thuyết. Trình (呈) là bày ra, thưa lên cho người khác biết, như trong trình bày, đệ trình.
Ở trường phổ thông, khái niệm này gắn với phần Nói và nghe. Chương trình Ngữ văn 2018 yêu cầu học sinh biết thuyết trình về một vấn đề, biết dùng kèm phương tiện phi ngôn ngữ (cử chỉ, nét mặt, hình ảnh, biểu đồ), và biết nhận xét bài thuyết trình của bạn. Vì vậy thuyết trình là việc của cả hai phía: người nghe cũng có nhiệm vụ ghi chép, tóm tắt và phản hồi.
Danh từ đi kèm là bài thuyết trình (sản phẩm), người thuyết trình (người nói), kĩ năng thuyết trình (khả năng nói trước đám đông một cách mạch lạc, tự tin). Kĩ năng này thường được xếp vào nhóm những kỹ năng mềm học sinh nên rèn sớm.
Thuyết trình, thuyết minh, diễn thuyết và báo cáo
Bốn từ này hay bị dùng lẫn vì cùng dính tới việc trình bày. Bảng dưới tách chúng theo bản chất và mục đích:
| Từ | Bản chất | Mục đích chính | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Thuyết trình | Hoạt động nói trước người nghe | Thông tin, thuyết phục, giới thiệu | Nhóm 3 thuyết trình về rác thải nhựa |
| Thuyết minh | Kiểu văn bản, phương thức biểu đạt (viết hoặc nói) | Cung cấp tri thức khách quan về sự vật | Bài văn thuyết minh về chiếc nón lá |
| Diễn thuyết | Bài nói trước công chúng, giàu tính hùng biện | Lay động, kêu gọi | Diễn thuyết tại lễ tốt nghiệp |
| Báo cáo | Trình bày kết quả một việc đã làm | Thông báo kết quả cho cấp trên, tập thể | Báo cáo kết quả nghiên cứu, báo cáo tổng kết |
Ranh giới không cứng. Một bài thuyết trình có thể dùng phương thức thuyết minh (giới thiệu một di tích), hoặc là một bản báo cáo được nói ra (thuyết trình kết quả nghiên cứu). Điểm phân biệt chắc nhất: thuyết minh là cách viết, cách biểu đạt; thuyết trình là một sự kiện nói, có người đứng trước người nghe. Phần giải thích riêng về phương thức thuyết minh trong làm văn nói kĩ hơn về chữ thứ hai.
Nhận ra một bài thuyết trình qua bốn đặc điểm
- Có đề tài và mục đích rõ. Người nghe biết ngay bài nói về chuyện gì và người nói muốn họ hiểu, tin hay làm gì.
- Có bố cục ba phần. Mở đầu chào hỏi, giới thiệu vấn đề; phần chính đi qua từng ý theo thứ tự; kết thúc tóm lại và mời người nghe đặt câu hỏi.
- Nói, không đọc. Người thuyết trình nhìn người nghe, nói theo dàn ý, có thể liếc phiếu ghi chú nhưng không cúi đầu đọc nguyên văn.
- Kết hợp phương tiện phi ngôn ngữ. Giọng nói, ánh mắt, cử chỉ và các phương tiện trực quan như trang chiếu, tranh ảnh, biểu đồ, đoạn phim ngắn.
Thiếu đặc điểm thứ ba, bài thuyết trình biến thành bài đọc. Đó là lỗi phổ biến nhất của học sinh lần đầu đứng trước lớp.
Để lớp bớt buồn ngủ, nhiều nhóm còn chèn vài tấm meme thuyết trình vui vào trang chiếu, như chú mèo run run cầm micro hay dòng cảm ơn đã lắng nghe ở trang cuối.
Thuyết trình để báo tin, để thuyết phục hay để giới thiệu
Có thể chia theo mục đích thành ba kiểu thường gặp:
- Thuyết trình cung cấp thông tin: trình bày kết quả một cuộc khảo sát, giới thiệu một hiện tượng tự nhiên. Trọng tâm là số liệu chính xác, trình tự dễ theo.
- Thuyết trình thuyết phục: nêu quan điểm về một vấn đề xã hội và đưa lí lẽ, bằng chứng để người nghe đồng tình. Gần với văn nghị luận nhưng ở dạng nói.
- Thuyết trình giới thiệu, đánh giá: giới thiệu một tác phẩm văn học, một địa chỉ văn hóa, một cuốn sách. Cần cả thông tin lẫn nhận xét riêng.
Ngoài trường học, người ta còn nói tới thuyết trình bán hàng, thuyết trình dự án, thuyết trình luận văn. Tên khác nhau nhưng khung cơ bản vẫn là ba phần và bốn đặc điểm ở trên.
Thuyết trình trong các bài Nói và nghe của SGK
Sách Ngữ văn 10 có nhiều tiết dành riêng cho kiểu bài này. Bộ Kết nối tri thức có bài thuyết trình về một vấn đề xã hội kết hợp phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, và bài lắng nghe, phản hồi về một bài thuyết trình kết quả nghiên cứu. Bộ Cánh diều mở đầu lớp 10 bằng bài thuyết trình về một vấn đề xã hội; bảng tổng hợp ở phần ôn tập cuối kì I Ngữ văn 10 Cánh diều cho thấy bài Nói và nghe này gắn với bài Viết nghị luận xã hội cùng chủ đề.
Thử phân tích một đoạn mở đầu mẫu do Văn VN soạn cho đề “Thuyết trình về thói quen dùng điện thoại trước giờ ngủ”:
“Chào các bạn. Tối qua, ai trong lớp mình cầm điện thoại sau mười một giờ? (dừng, nhìn quanh lớp) Gần một nửa giơ tay. Hôm nay nhóm mình muốn nói về chuyện ấy: vì sao thói quen này khó bỏ và mình có thể làm gì. Bài gồm ba phần, kèm kết quả khảo sát 40 bạn trong khối.”
- Câu hỏi mở đầu và khoảng dừng kéo người nghe vào cuộc, dùng phương tiện phi ngôn ngữ (ánh mắt, động tác giơ tay).
- Nêu vấn đề trong một câu, đúng đặc điểm “có đề tài rõ”.
- Báo trước bố cục (“ba phần”) giúp người nghe ghi chép dễ.
- Hứa hẹn số liệu cho thấy đây là kiểu thuyết trình thuyết phục có bằng chứng, không chỉ nói cảm tính.
Ở lớp 8 bộ Chân trời sáng tạo, học sinh luyện chiều ngược lại: nghe và tóm tắt nội dung thuyết trình của người khác. Cách ghi theo từng phần của bài nói được so sánh với cách ghi trong thảo luận nhóm ở bài ôn tập học kì I Ngữ văn 8 bộ Chân trời.
Luyện tập nhận biết thuyết trình
Câu 1: Hoạt động nào dưới đây là thuyết trình?
a) Lan đọc to bài văn tả cảnh của mình cho cả lớp nghe. b) Nhóm của Minh đứng trước lớp giới thiệu về làng gốm Bát Tràng, có trình chiếu ảnh và trả lời câu hỏi của bạn. c) Hai bạn trao đổi riêng về bài tập Toán.
Đáp án: b. Có đề tài, có người nói trước tập thể, có phương tiện hỗ trợ và phần hỏi đáp. Câu a là đọc văn bản; câu c là trao đổi hai người.
Câu 2: Câu sau dùng đúng hay sai từ “thuyết trình”?
“Hướng dẫn viên thuyết trình cho đoàn khách về lịch sử ngôi chùa.”
Đáp án: Chấp nhận được nhưng chưa thật hợp. Lời hướng dẫn viên vừa đi vừa giới thiệu thường gọi là thuyết minh (như “thuyết minh viên ở bảo tàng”). Thuyết trình hợp hơn khi có một buổi trình bày có chuẩn bị trước một nhóm người ngồi nghe.
Câu 3: Sắp xếp các việc sau theo đúng trình tự chuẩn bị một bài thuyết trình
(1) Lập dàn ý; (2) Chọn đề tài, xác định người nghe và thời lượng; (3) Tập nói trước gương hoặc trước nhóm; (4) Tìm tư liệu, làm trang chiếu.
Đáp án: (2) → (4) → (1) → (3). Có thể làm dàn ý thô trước rồi mới tìm tư liệu; điều quan trọng là xác định đề tài và người nghe đầu tiên, tập nói sau cùng.
Câu 4: Chỉ ra phương tiện phi ngôn ngữ trong đoạn sau
“Bạn Hà mỉm cười, giơ cao chiếc túi vải tự may rồi bấm sang trang chiếu có biểu đồ lượng túi ni lông trường dùng mỗi tuần.”
Đáp án: Nụ cười (nét mặt), động tác giơ chiếc túi (cử chỉ, vật thật), trang chiếu và biểu đồ (phương tiện trực quan).
Bài thuyết trình, kĩ năng thuyết trình và cách nói tiếng Anh
Bài thuyết trình là gì?
Là sản phẩm của hoạt động thuyết trình: nội dung được chuẩn bị sẵn theo dàn ý, có thể kèm tệp trình chiếu, để một người hoặc một nhóm trình bày trước người nghe trong một thời lượng nhất định.
Kỹ năng thuyết trình là gì?
Là khả năng chuẩn bị và nói một vấn đề trước đông người sao cho mạch lạc, đúng giờ, dễ hiểu và thu hút: chọn ý, sắp xếp ý, dùng giọng nói, ánh mắt, cử chỉ, trang chiếu và xử lí câu hỏi của người nghe.
Thuyết trình tiếng Anh là gì?
Động từ là present hoặc give a presentation; danh từ bài thuyết trình là presentation. Người thuyết trình là presenter hoặc speaker.
Thuyết trình có cần làm trang chiếu không?
Không bắt buộc. Trang chiếu chỉ là một phương tiện hỗ trợ; một tấm bản đồ, vài tấm ảnh in hoặc một vật thật đặt trên bàn nhiều khi gây ấn tượng hơn hai mươi trang chữ dày đặc.