Bài thơ về đoàn quân Tây Tiến mà học sinh nhiều thế hệ thuộc lòng được viết rất nhanh, trong một giờ nghỉ hội nghị, ở một làng nhỏ của Liên khu III năm 1948. Quang Dũng (1921 – 1988), tên khai sinh Bùi Đình Diệm, là nhà thơ, nhà văn, họa sĩ và nhạc sĩ người Đan Phượng, tác giả Tây Tiến, Đôi mắt người Sơn Tây và tập thơ Mây đầu ô. Ông từng là đại đội trưởng của đoàn quân mà bài thơ ấy gọi tên.
Bùi Đình Diệm, người làng Phượng Trì

| Tên khai sinh | Bùi Đình Diệm (theo một số tư liệu, tên ban đầu là Bùi Đình Dậu) |
| Bút danh | Quang Dũng |
| Năm sinh – năm mất | 1921 (nhiều tư liệu ghi ngày 11/10/1921) – 13/10/1988 |
| Quê quán | Làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, tỉnh Sơn Tây cũ (sau thuộc Hà Tây), nay thuộc Hà Nội |
| Thể loại | Thơ, truyện ngắn, bút ký, hồi ký; ngoài ra vẽ tranh, viết nhạc |
| Tác phẩm tiêu biểu | Tây Tiến (1948), Đôi mắt người Sơn Tây, tập thơ Mây đầu ô (1986), truyện ký Nhà đồi (1970), hồi ký Đoàn binh Tây Tiến |
| Giải thưởng | Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt I (2001, truy tặng) |
| Trong SGK | Tây Tiến (Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo, Ngữ văn 12 Kết nối tri thức và Cánh diều) |
Ông sinh năm Tân Dậu. Đỗ Lai Thúy và một bài trên trang Hội Nhà văn đều kể tên ban đầu của ông là Dậu, sau mới đổi thành Diệm, nhưng mỗi nơi giải thích lý do đổi một khác. Ngày sinh cũng chưa chắc: tại lễ kỷ niệm 90 năm ngày sinh của ông năm 2011, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên nói vẫn chưa rõ ngày sinh chính xác của thi sĩ, nên ở đây chỉ chắc chắn năm 1921.
Từ bài Chiêu Quân năm 1937 đến báo Chiến đấu
Trước năm 1945, ông học ban Trung học ở trường Thăng Long (Hà Nội) rồi về dạy học tư ở Sơn Tây. Ông làm thơ rất sớm: báo Nhân Dân và Đỗ Lai Thúy cùng ghi ông có thơ đăng báo từ năm mười sáu tuổi, với bài Chiêu Quân (1937). Như vậy, mốc “bắt đầu sáng tác năm 1948” mà một số tài liệu đưa ra là không đúng; năm 1948 chỉ là năm ra đời bài thơ làm ông nổi tiếng.
Cách mạng tháng Tám nổ ra, ông vào quân đội, làm phóng viên tiền phương của báo Chiến đấu (Khu II).
Đại đội trưởng của đoàn quân Tây Tiến
Năm 1947, sau khóa học ở Trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây, ông làm đại đội trưởng thuộc tiểu đoàn 212, Trung đoàn 52 Tây Tiến, đi Tây Tiến đợt hai, rồi làm phó đoàn võ trang tuyên truyền Lào – Việt. Đơn vị hoạt động ở vùng rừng núi biên giới Việt – Lào, thiếu thuốc, thiếu áo, sốt rét liên miên.
Cựu binh Trung đoàn 52 kể với báo Thanh Niên rằng lính Tây Tiến cạo trọc đầu một phần vì chấy rận, ve vắt, mỗi người chỉ có một bộ quần áo. Bài thơ ghi lại hình ảnh ấy bằng hai câu khác thường:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Cuối năm 1948 ông làm trưởng tiểu ban tuyên huấn Trung đoàn 52, sau đó là trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu III. Tháng 8/1951 ông xuất ngũ.
Nhớ Tây Tiến, viết ở Phù Lưu Chanh
Năm 1948, rời đơn vị cũ, ông dự một hội nghị quân đội của Liên khu III ở làng Phù Lưu Chanh. Kể với nhà nghiên cứu Vũ Văn Sỹ (báo Thanh Niên dẫn), ông nói đã làm bài thơ rất nhanh rồi đọc trước hội nghị; theo sổ tay của ông mà con gái kể với Tiền Phong, bài thơ được “hoan nghênh nhiệt liệt”. Bài thơ mở bằng một tiếng gọi:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Tên ban đầu là Nhớ Tây Tiến. Theo con trai cả của ông, nhạc sĩ Quang Vĩnh, về sau ông bỏ chữ “Nhớ” vì cho rằng chỉ nhắc hai chữ Tây Tiến là đã đủ nỗi nhớ. Đường đi của văn bản khá dài:
| Năm | Lần in |
|---|---|
| 1948 – 1949 | In trên báo Quân Bạch Đằng và tập Thơ của Nhà xuất bản Vệ quốc quân Liên khu III, tên Nhớ Tây Tiến |
| 4 – 5/1949 | Đăng tạp chí Văn nghệ số 11 – 12, thường được coi là lần công bố chính thức |
| 1957 | In lại với tên Tây Tiến trong tập Rừng biển quê hương, in chung với Trần Lê Văn (có nguồn ghi 1958) |
| 1986 | Bản do tác giả chỉnh lần cuối, in trong tập Mây đầu ô |
Một bản chép tay đề “Nhớ Tây Tiến – 1947” ông tặng nhà thơ Hải Bằng có vài chữ khác; gia đình khẳng định bản trong Mây đầu ô mới là bản chính thức. Toàn văn bài thơ có ở bài Tây Tiến (Quang Dũng).
Sau 1954: báo Văn nghệ và lời phê “tiểu tư sản”
Hòa bình lập lại, ông làm biên tập viên báo Văn nghệ, rồi Nhà xuất bản Văn học, và vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1957. Đó cũng là những năm khó khăn của ông. Ông kể sau hội nghị năm 1948 mình đã được góp ý rằng Tây Tiến rất “tiểu tư sản”, không nên phổ biến. Sau vụ Nhân văn – Giai phẩm, thơ ông bị phê là ủy mị, tiểu tư sản; ông phải đi chỉnh huấn.
Ông viết ít và ít đăng báo. Đỗ Lai Thúy nhận xét bản thảo của ông vương vãi trong sổ tay và trong trí nhớ bạn bè, nên nhiều bài có dị bản. Theo lời con trai kể với VnExpress, những năm chia cắt, các nhà xuất bản miền Nam in Tây Tiến rồi gửi sách biếu ra, ông đem đốt hết để tránh bị hiểu lầm. Sự hào hoa, chất lãng mạn trong thơ ông được bàn riêng ở bài phong cách sáng tác của Quang Dũng.
Người vẽ Vườn đào Nhật Tân và viết bài hát Ba Vì
Quang Dũng không chỉ làm thơ. Bài hát Ba Vì ông viết trong kháng chiến từng được nhiều người hát. Báo Nhân Dân dẫn lời nhà thơ Trần Lê Văn kể rằng những năm cuối đời, một người bạn Tây Tiến mang băng ghi âm bài hát ấy đến, ông nghe ba lần, ba lần cười rồi khóc. Ca khúc Tây Tiến của Phạm Duy được phổ từ bài thơ của ông.
Ông vẽ tranh sơn dầu, tự vẽ bìa và minh họa cho sách mình. Theo lời con gái ông kể với Bảo tàng Văn học, năm 1962 cả nhà dọn lên căn gác ba ở số 296 phố Bà Triệu; vợ ông, bà Bùi Thị Thạch, đan áo len thuê, ông viết và vẽ. Tranh không có chỗ treo, cuộn trong giấy báo; đến nay còn chừng ba chục bức. Năm 2018, gia đình hiến cho Bảo tàng Văn học Việt Nam hai bức Bến Ngọc (1960) và Vườn đào Nhật Tân (1970).
Văn xuôi của ông cũng đáng kể: truyện ngắn Mùa hoa gạo (1950), bút ký Đường lên Châu Thuận, Rừng về xuôi (1964), truyện ký Nhà đồi (1970), hồi ký Làng Đồi đánh giặc (1976), bút ký Một chặng đường Cao Bắc (1983). Thơ có truyện thơ Bài thơ sông Hồng (1956), tập Rừng biển quê hương và Mây đầu ô; bài Đôi mắt người Sơn Tây là một trong những bài nhớ quê hay nhất của ông. Nhiều bài khác có trong tuyển tập thơ Quang Dũng.
Hồi ký Đoàn binh Tây Tiến: viết năm 1952, in năm 2019
Năm 1952, một năm sau khi xuất ngũ, ông viết một tập hồi ký về những năm ở biên khu Lào – Việt, bản thảo mang tên Đoàn võ trang tuyên truyền Biên khu Lào – Việt. Tập sách không được in thời đó. Gần bảy mươi năm sau, Nhà xuất bản Kim Đồng in lần đầu năm 2019 với tên Đoàn binh Tây Tiến; năm 2020 cuốn sách đoạt giải A Giải thưởng Sách Quốc gia, con gái út của ông, bà Bùi Phương Thảo, lên nhận giải.
Tây Tiến trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 và 12
Văn bản dạy trong nhà trường là bản in trong Mây đầu ô. Ở chương trình hiện hành, bài thơ có mặt ở cả ba bộ sách:
| Sách | Bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo, tập 2 | Bài 6 – Nâng niu kỉ niệm (văn bản đọc) | Soạn bài Tây Tiến · Phân tích Tây Tiến · Phân tích khổ 2 · Mở bài · Kết bài |
| Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập 1 | Bài 2 – Những thế giới thơ (văn bản đọc) | |
| Ngữ văn 12 Cánh diều, tập 1 | Bài 4 – Văn tế, thơ (thực hành đọc hiểu) |
Học sinh thường được yêu cầu so sánh hình tượng người lính trong Tây Tiến với bài Đồng chí của Chính Hữu, viết cùng năm 1948. Phát biểu tại lễ kỷ niệm năm 2011 (TTXVN dẫn), Phó Viện trưởng Viện Văn học Nguyễn Đăng Điệp phân biệt: Chính Hữu viết về người vệ quốc bằng bút pháp hiện thực, còn Quang Dũng tái hiện người lính bằng đôi cánh lãng mạn.
Mây đầu ô, năm 1986
Hai năm trước khi mất, ông in tập thơ riêng Mây đầu ô (Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới, 1986), có những bài viết từ thời kháng chiến. Ông mất ngày 13/10/1988 tại Hà Nội. Cũng năm 1988, tập Thơ văn Quang Dũng được in. Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt I; theo Wikipedia là cho Mây đầu ô, Nhà đồi và tuyển tập của ông.
Năm 1998, nhân mười năm ngày mất, nhà điêu khắc Minh Đỉnh làm tượng đồng Quang Dũng trong bộ quân phục lính Tây Tiến; một bức đặt ở trường học quê ông, một bức hiện trưng bày ở Bảo tàng Văn học. Người ta nhớ ông trước hết là nhà thơ của một đoàn quân, nhưng Hà Nội còn giữ cả những bức tranh ông vẽ cảnh vườn đào bên bờ sông Hồng.