Một chiều cuối tháng Chạp năm 1958, trên phố Lê Thánh Tông, Hà Nội, một nhà báo đang đạp xe thì vẫy cậu sinh viên Đoàn Minh Tuấn lại, rủ đi xem phim. Bộ phim là Cây tre Việt Nam, và người rủ chính là tác giả lời bình của phim. Thép Mới (1925 – 1991), tên thật Hà Văn Lộc, là nhà báo, nhà văn, nhiều năm làm Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân, Tổng biên tập báo Giải Phóng, tác giả bài ký Cây tre Việt Nam mà học sinh hôm nay đọc trong sách Ngữ văn 6 và 7.
Hà Văn Lộc và những cái tên Phượng Kim, Thép Mới, Hồng Châu

| Tên thật | Hà Văn Lộc |
| Bút danh | Thép Mới; ngoài ra Phượng Kim, Hồng Châu, Ánh Hồng |
| Năm sinh – năm mất | 15/2/1925 – 28/8/1991 |
| Quê quán | Quê ở Quảng An, nay thuộc khu vực Tây Hồ, Hà Nội; sinh ra và lớn lên ở thành phố Nam Định |
| Nghề nghiệp | Nhà báo, nhà văn, dịch giả |
| Thể loại | Bút ký, phóng sự, tùy bút, thuyết minh phim |
| Tác phẩm tiêu biểu | Cây tre Việt Nam, Điện Biên Phủ – một danh từ Việt Nam, Hiên ngang Cu-ba, Trường Sơn hùng tráng; bản dịch Thép đã tôi thế đấy! |
| Trong SGK hiện hành | Cây tre Việt Nam (Ngữ văn 6 Kết nối tri thức; Ngữ văn 7 Cánh diều; bài tự đánh giá Tiếng Việt 4 Cánh diều) |
Ông sinh năm 1925, học ở Nam Định đến hết bậc trung học. Ngay từ thời học trò, ông đã tham gia phong trào học sinh yêu nước và bắt đầu viết báo với bút danh Phượng Kim. Năm 1943, ông lên Hà Nội học Luật khoa; trước Cách mạng, ông viết cho tờ Tự trị của phong trào sinh viên chống Nhật.
Bút danh Thép Mới xuất hiện sau Cách mạng tháng Tám, khi ông viết cho báo Cờ giải phóng; theo Wikipedia, bài đầu tiên ký tên này là Trung thu độc lập. Cái tên Hồng Châu thì gắn với chiến trường miền Nam những năm 1960. Theo lời nhà báo Hồng Hà, em ruột ông, được báo Nhân Dân dẫn lại, “Hồng” là bí danh của Thép Mới khi vào Đảng, và chính người em lấy tên Hồng Hà từ đó.

Từ báo Cờ giải phóng đến báo Nhân Dân
Gần như cả đời Thép Mới gắn với báo chí của Đảng. Sau Cờ giải phóng (1945 – 1946), ông chuyển sang báo Cứu quốc, rồi làm biên tập viên, phóng viên báo Sự thật. Từ năm 1951, ông về báo Nhân Dân và gắn bó với tờ báo này đến lúc mất.
Những năm chống Pháp, ông chuyên viết phóng sự và bút ký về tinh thần kháng chiến ở làng quê: Kháng chiến sau lũy tre, trên đồng lúa (1947), Ý nghĩ người phóng viên kháng chiến (1948), Trách nhiệm (1951). Sau 1954, ông nhiều lần đi nước ngoài cùng các đoàn lãnh đạo và viết Hữu nghị, Như anh em một nhà, Hiên ngang Cu-ba. Từ năm 1962, ông là ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam hai khóa liền.
Nhà phê bình Lê Quang Trang, được báo Nhân Dân dẫn lại, nhận xét Thép Mới trước hết là một nhà báo lớn, nhưng là nhà báo đậm chất văn trong cách nghĩ và cách dùng chữ. Chính Thép Mới, theo người viết bài ấy, có lần thổ lộ mình không định làm nhà văn.
Cây tre Việt Nam: lời bình cho một bộ phim Ba Lan
Sau chiến thắng chống Pháp, các nhà điện ảnh Ba Lan sang Việt Nam quay một bộ phim tài liệu về cây tre. Theo hồi ức của Đoàn Minh Tuấn, đó là phim màu khổ 35 li, dài chừng một tiếng đồng hồ. Thép Mới viết lời bình cho phim. Lời bình về sau được in thành bài ký riêng (báo Nhân Dân ghi năm 1958; tài liệu dạy học ghi năm viết 1955) và sống lâu hơn cả bộ phim.
Bài ký đi từ cây tre đến con người: tre có mặt khắp nơi, từ Đồng Nai đến Việt Bắc; tre gắn với người nông dân trong lao động, trong sinh hoạt, từ chiếc nôi đến lúc nhắm mắt; tre thành vũ khí trong kháng chiến; và tre sẽ còn trong tương lai, trong cổng chào thắng lợi, trong tiếng sáo diều. Câu văn được nhiều thế hệ học sinh thuộc lòng nằm ở đoạn kháng chiến:
Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín.
Thép Mới viết lời bình bằng giọng của người làm báo chính luận nhưng đầy nhạc tính: câu ngắn, điệp từ, nhân hóa liên tục. Tre trong bài là bạn, là đồng chí, chứ chẳng riêng gì một loài cây. Hình ảnh ấy có gốc rễ rất xa trong văn hóa Việt, từ truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc đến truyện cổ tích Cây tre trăm đốt.

Cây tre Việt Nam trong sách giáo khoa
Bài ký từng có mặt trong sách giáo khoa nhiều thập kỷ. Theo nhà báo Minh Nguyễn (báo Đại Đoàn Kết), từ thời chiến tranh, học sinh cấp hai ngoài Bắc đã học Cây tre Việt Nam. Trong chương trình 2018, văn bản có mặt ở cả bậc tiểu học lẫn trung học cơ sở:
| Sách – bài học | Vị trí | Đọc thêm trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ngữ văn 6 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 4 (Quê hương yêu dấu) | Văn bản đọc | Soạn bài Cây tre Việt Nam |
| Ngữ văn 7 Cánh diều, tập 2 – Bài 9 (Tùy bút và tản văn) | Văn bản đọc | Cây tre Việt Nam: tác giả – tác phẩm |
| Tiếng Việt 4 Cánh diều | Bài tự đánh giá (đoạn trích) | Tự đánh giá: Cây tre Việt Nam lớp 4 |
Ôn nhanh nội dung có bài tóm tắt Cây tre Việt Nam; cần dàn ý và văn mẫu thì xem phân tích Cây tre Việt Nam.
Hồng Châu ở chiến trường miền Nam
Năm 1964, ông vào chiến trường miền Nam làm đặc phái viên của báo Nhân Dân, lúc này ký tên Hồng Châu. Bút ký Trường Sơn hùng tráng (1967) được Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh Giải phóng đọc, rồi tiếp theo là những thiên ký sự về Đà Nẵng, Sài Gòn. Nhà báo Minh Nguyễn kể khi ấy ở chiến khu, nhiều người chỉ biết Hồng Châu mà không biết đó là Thép Mới.
Cuối năm 1967, ông dẫn một phóng viên bí mật vào Sài Gòn chuẩn bị cho việc ra báo Giải Phóng ngay trong thành phố; kế hoạch không thành vì quân giải phóng không chiếm được Sài Gòn trong Tết Mậu Thân. Từ 1968 đến 1971, ông là Ủy viên Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, kiêm Tổng biên tập báo Giải Phóng, tờ báo khi ấy phải in ấn giữa rừng biên giới, thiếu cả giấy lẫn mực.
Người làm báo cùng thời tả ông gầy, lưng còng, răng ám khói thuốc, điếu thuốc sâu kèn cuốn vụng lúc nào cũng trên môi. Anh em gọi ông thân mật là “anh Năm Hồng Châu”. Ông xuề xòa, hay đãng trí: đang tắm nghĩ ra điều gì là bước ra luôn, người còn ướt, có khi mải nghĩ mà đi lạc sang lán khác. Nhưng với phóng viên trẻ, ông rất chịu khó phát hiện năng khiếu và kèm cặp.
Bút ký, thuyết minh phim và những bản dịch
Ngoài bút ký, Thép Mới còn viết lời bình cho nhiều phim tài liệu và dịch sách. Bảng dưới đây gom các tác phẩm chính theo danh mục của báo Nhân Dân và Wikipedia:
| Năm | Tác phẩm | Loại |
|---|---|---|
| 1946 | Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (Marx – Engels) | Dịch, cùng Lê Văn Lương hiệu đính |
| 1955 | Thép đã tôi thế đấy! (N. Ostrovsky) | Dịch tiểu thuyết |
| 1958 | Cây tre Việt Nam | Lời bình phim tài liệu |
| 1962 | Hiên ngang Cu-ba | Bút ký |
| 1964 – 1965 | Điện Biên Phủ – một danh từ Việt Nam | Bút ký |
| 1967 | Trường Sơn hùng tráng | Bút ký |
| 1980 | Nguyễn Ái Quốc đến với Lê-nin; Đường về Tổ quốc | Lời bình phim |
| 1984 – 1990 | Thời dựng Đảng; Từ Điện Biên Phủ đến 30 tháng 4; Năng động Hồ Chí Minh | Bút ký |
Nhiều người từng đọc Thép đã tôi thế đấy! có lẽ không để ý rằng người dịch cuốn tiểu thuyết ấy cũng là tác giả bài ký về cây tre mà họ học thời cấp hai.
Những ngày cuối ở Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 1972, ông về làm Phó Tổng biên tập báo Nhân Dân và giữ chức vụ này đến khi nghỉ hưu năm 1988. Sau đó ông vào sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong căn hộ trên đường Nguyễn Đình Chiểu gần chợ Vườn Chuối, quận 3, vẫn viết cho báo Nhân Dân với tư cách bình luận viên.
Ngày 25/8/1991, ba hôm trước khi mất, ông đưa cho Đoàn Minh Tuấn bài báo cuối cùng, viết về chuyến thăm Việt Nam của nhà báo Mỹ William Broyles, người từng là trung úy thủy quân lục chiến ở Đà Nẵng năm 1969. Bài in xong đầu tháng 9; người bạn mang tờ tạp chí và phong bì nhuận bút đến thắp hương cho ông. Thép Mới mất ngày 28/8/1991. Năm 2011, nhân 20 năm ngày mất của ông, báo Nhân Dân đưa tin Thành phố Hồ Chí Minh có thêm một con đường mang tên Thép Mới.