Vì sao một bài thơ về đoàn quân lại có thể được gọi là “khúc độc hành”? Câu hỏi ấy, rút từ bài viết của Đặng Anh Đào về Tây Tiến, là ngữ liệu đọc hiểu của bài tự đánh giá khép lại chương trình Ngữ văn THPT. Ôn tập học kì II Ngữ văn 12 Cánh diều nằm ở trang 130–133 tập hai, ngay sau Bài 10 (Tổng kết), gồm 9 câu Nội dung ôn tập, bảng Định hướng đánh giá (bài làm 120 phút, làm quen với đề thi tốt nghiệp) và phần Tự đánh giá cuối học kì II với 5 câu đọc hiểu, 2 câu viết. Dưới đây là lời giải từng câu theo đúng đề trong sách, một bảng nhìn lại năm bài học của tập hai và đề luyện tự soạn trên một bài tùy bút viết riêng. Các bài soạn khác có trong mục lục Ngữ văn 12 Cánh diều.

Nội dung ôn tập (trang 130–131)
Sách đặt hai mục tiêu: trình bày được các nội dung cơ bản đã học ở học kì II (đọc hiểu, viết, nói và nghe, tiếng Việt, văn học); hiểu yêu cầu về mục tiêu, nội dung, hình thức của bài tự đánh giá và làm quen với bài thi tốt nghiệp THPT.
Đọc hiểu văn bản
Câu 1 (trang 130): So sánh thể loại, kiểu văn bản đọc hiểu giữa tập một và tập hai
Lập bảng so sánh những thể loại và kiểu văn bản đọc hiểu giữa hai sách Ngữ văn 12, tập một và tập hai.
Trả lời:
| Loại văn bản | Tập một (Bài 1–5) | Tập hai (Bài 6–9) |
|---|---|---|
| Truyện | Truyện truyền kì (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên), truyện ngắn hiện đại (Muối của rừng, Chiếc thuyền ngoài xa) | Tiểu thuyết hiện đại (Hạnh phúc của một tang gia, Ánh sáng cứu rỗi, Đêm trăng và cây sồi, Con người không thể bị đánh bại); truyện kí Vi hành |
| Kịch | Hài kịch (Quan thanh tra, Thực thi công lí) | Không có |
| Kí | Nhật kí, phóng sự, hồi kí | Không có bài riêng |
| Thơ, văn tế | Văn tế, thơ lục bát (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Việt Bắc) | Thơ chữ Hán (Ngắm trăng, Lai Tân), thơ tiếng Việt (Cảnh rừng Việt Bắc); thơ hiện đại (Đàn ghi ta của Lor-ca, Bài thơ của một người yêu nước mình, Thời gian, Tháng Tư) |
| Nghị luận | Nghị luận văn học, nghị luận về văn hóa (Bài 5) | Văn chính luận: Tuyên ngôn Độc lập; văn bản về tác gia |
| Thông tin | Không có bài riêng | Văn bản thông tin tổng hợp (Bài 9): cách mạng công nghiệp 4.0, phụ nữ và môi trường, tin học, nhà toán học Cô-va-lép-xcai-a |
Điểm khác nổi bật: tập hai có một bài tác gia (Bài 6), đưa tiểu thuyết hiện đại và văn bản thông tin tổng hợp vào, trong khi kịch và kí chỉ học ở tập một.
Câu 2 (trang 130): Cấu trúc và nội dung Bài 6 khác các bài khác thế nào
Cấu trúc và các nội dung chính của Bài 6 khác gì với các bài khác trong sách Ngữ văn 12, tập hai?
Trả lời:
- Bài học theo tác gia, không theo thể loại. Bài 7, 8, 9 lấy thể loại làm trục (tiểu thuyết, thơ hiện đại, văn bản thông tin); Bài 6 lấy một con người làm trục: Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh.
- Có văn bản giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp đứng đầu, làm nền cho việc đọc tác phẩm, giống cách học tác gia Nguyễn Trãi ở lớp 10, Nguyễn Du ở lớp 11.
- Nhiều thể loại trong một bài: văn chính luận (Tuyên ngôn Độc lập), thơ chữ Hán (Nhật kí trong tù), truyện kí viết bằng tiếng Pháp (Vi hành), thơ tự đánh giá (Cảnh rừng Việt Bắc). Các bài khác chỉ xoay quanh một thể loại.
- Số văn bản đọc hiểu nhiều hơn: ba văn bản (trong đó văn bản thứ ba gồm hai bài thơ), các bài khác chỉ có hai.
- Kiến thức ngữ văn thiên về bối cảnh lịch sử và phong cách tác giả hơn là đặc trưng thể loại.
Câu 3 (trang 130): Đặc điểm tiểu thuyết hiện đại, phong cách hiện thực và hiện đại qua Bài 7
Chỉ ra và làm sáng tỏ một số đặc điểm của tiểu thuyết hiện đại, phong cách hiện thực và phong cách hiện đại qua các đoạn trích tiểu thuyết trong Bài 7.
Trả lời:
Đặc điểm chung của tiểu thuyết hiện đại: dung lượng lớn, phản ánh đời sống rộng và nhiều chiều; nhân vật có đời sống nội tâm phức tạp, vận động; cốt truyện có thể phá vỡ trật tự thời gian; người kể và điểm nhìn đa dạng; ngôn ngữ gần đời sống, có nhiều giọng.
| Phong cách hiện thực | Phong cách hiện đại | |
|---|---|---|
| Văn bản tiêu biểu | Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ, Vũ Trọng Phụng); Đêm trăng và cây sồi (trích Chiến tranh và hòa bình, Lép Tôn-xtôi) | Ánh sáng cứu rỗi (trích Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh); Con người không thể bị đánh bại (trích Ông già và biển cả, Hê-minh-uê) |
| Cách nhìn đời sống | Tái hiện xã hội khách quan, nhân vật điển hình gắn với hoàn cảnh điển hình: đám tang nhà cụ cố Hồng phơi bày một xã hội “thượng lưu” giả dối. | Đi sâu vào thế giới bên trong, kí ức và ám ảnh chiến tranh của người lính. |
| Nghệ thuật | Chi tiết chân thực, đậm đặc; tình huống trào phúng (một đám ma mà ai cũng vui); người kể đứng ngoài, giọng mỉa mai. | Dòng ý thức, đảo lộn thời gian, đan hiện tại với hồi ức; nhiều khoảng trống, hàm ý; nguyên lí “tảng băng trôi” ở Hê-minh-uê. |
Câu 4 (trang 130): Đặc điểm hình thức chung của các văn bản thơ Bài 8 và cách đọc
Các văn bản thơ trong Bài 8 có đặc điểm nào chung về hình thức? Nêu một số lưu ý về cách đọc các văn bản ấy.
Trả lời:
Điểm chung về hình thức. Cả bốn bài là thơ hiện đại, phần lớn viết theo thể tự do, không bị ràng buộc số chữ, số dòng, vần; câu thơ có thể rất ngắn hoặc kéo dài, cách ngắt dòng và dấu câu được dùng như phương tiện nghệ thuật (Đàn ghi ta của Lor-ca có những dòng không viết hoa, gần như không dấu câu). Hình ảnh mang tính tượng trưng, có khi siêu thực; cấu tứ dựa trên liên tưởng hơn là trình tự; nhiều phép lặp cấu trúc tạo nhịp điệu (Bài thơ của một người yêu nước mình lặp lại lời bày tỏ tình yêu đất nước ở đầu nhiều đoạn).
Lưu ý khi đọc: đừng tìm một nghĩa duy nhất cho mỗi hình ảnh; hãy xác định cấu tứ (ý tưởng xuyên suốt), giải mã hình ảnh tượng trưng dựa vào bối cảnh (Lor-ca, nhà thơ Tây Ban Nha bị sát hại; Huế những năm chiến tranh); chú ý nhịp, cách xuống dòng, khoảng lặng; đọc thành tiếng để cảm nhạc tính; nhận ra giọng điệu riêng của từng tác giả.
Câu 5 (trang 130): Tác dụng và yêu cầu của phần Tổng kết lịch sử văn học ở Bài 10
Tác dụng của phần Tổng kết lịch sử văn học được nêu trong Bài 10. Phân tích yêu cầu của việc học nội dung này.
Trả lời:
Tác dụng: sau ba năm học theo thể loại, học sinh thường nắm tác phẩm rời rạc. Phần tổng kết xếp lại chúng vào một dòng chảy: văn học dân gian và văn học viết; văn học trung đại với các giai đoạn và tác giả lớn; văn học hiện đại từ đầu thế kỉ XX, qua kháng chiến, đến sau Đổi mới. Nhờ vậy, mỗi tác phẩm có “địa chỉ” lịch sử, dễ hiểu vì sao nó được viết như thế.
Yêu cầu khi học: nắm các thành phần, giai đoạn và đặc điểm cơ bản của từng giai đoạn; kể được tác giả, tác phẩm tiêu biểu đã học gắn với mỗi giai đoạn; nhận ra mối liên hệ giữa văn học và lịch sử xã hội; biết dùng kiến thức này khi đọc một văn bản mới (đặt nó vào thời đại để hiểu).
Viết
Câu 6 (trang 130): Hình thức viết của Bài 6, 7, 8, 9 giống và khác nhau
Yêu cầu về hình thức viết của các bài 6, 7, 8 và 9 trong sách Ngữ văn 12, tập hai có gì giống và khác nhau?
Trả lời:
| Bài | Kiểu bài | Hình thức riêng |
|---|---|---|
| 6 | Nghị luận về quan niệm yêu nước của tuổi trẻ | Bài văn nghị luận xã hội ba phần; luận điểm rõ, bằng chứng từ đời sống người trẻ. |
| 7 | Thư trao đổi công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm | Thể thức thư: địa điểm, thời gian; người nhận; lời chào; nội dung trao đổi; lời cảm ơn, chữ kí. Giọng phù hợp quan hệ với người nhận. |
| 8 | Nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ | Bài nghị luận văn học, so sánh theo từng phương diện (đề tài, cảm hứng, hình ảnh, ngôn ngữ), có trích thơ làm dẫn chứng. |
| 9 | Bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc hoạt động xã hội | Viết để nói: lời chào người nghe, giới thiệu bản thân, nêu ý nghĩa phong trào, nội dung, lời kêu gọi; câu ngắn, giàu cảm xúc. |
Giống nhau: đều phải xác định mục đích và người đọc, người nghe; có bố cục mạch lạc; lập luận rõ; quy trình viết bốn bước. Khác nhau: hai bài 6, 8 là bài văn nghị luận truyền thống; bài 7 và 9 là văn bản nhật dụng có thể thức riêng (thư, bài phát biểu), gắn với một tình huống giao tiếp cụ thể.
Nói và nghe
Câu 7 (trang 131): Nội dung nói và nghe tập hai và kĩ năng trọng tâm từng bài
Các nội dung chính được rèn luyện trong phần Nói và nghe ở sách Ngữ văn 12, tập hai là gì? Xác định kĩ năng trọng tâm trong phần nói và nghe của mỗi bài học.
Trả lời:
| Bài | Nội dung | Kĩ năng trọng tâm |
|---|---|---|
| 6 | Nghe thuyết trình một vấn đề xã hội | Nghe: nắm ý chính, ghi chép, đánh giá lí lẽ và bằng chứng của người nói, đặt câu hỏi phản hồi. |
| 7 | Tranh luận về một vấn đề có những ý kiến trái ngược nhau | Nói và nghe tương tác: nêu quan điểm, phản bác có lí lẽ, lắng nghe ý kiến khác, giữ thái độ tôn trọng. |
| 8 | Trình bày về so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ | Nói: tổ chức bài trình bày theo phương diện so sánh, đọc diễn cảm câu thơ dẫn chứng. |
| 9 | Tranh luận về một vấn đề có những ý kiến trái ngược nhau (tiếp) | Như Bài 7 nhưng với vấn đề gắn văn bản thông tin (khoa học, công nghệ, môi trường); dùng số liệu làm bằng chứng. |
Tiếng Việt
Câu 8 (trang 131): Phân tích tác dụng của một yếu tố ngôn ngữ trong văn bản tự chọn
Phân tích tác dụng của một trong các yếu tố: ngữ âm, từ vựng, các biện pháp tu từ, các kiểu câu,… trong một văn bản văn học tự chọn.
Trả lời: Em chọn biện pháp đối và nhân hóa trong hai câu cuối bài Ngắm trăng (Hồ Chí Minh):
Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khán thi gia.
(Dịch thơ, Nam Trân: Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ, / Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.)
Hai câu đối nhau gần như từng chữ: nhân đối nguyệt, song tiền đối song khích, minh nguyệt đối thi gia, và động từ khán (ngắm) xuất hiện ở cả hai. Chữ song (cửa sổ nhà tù) đứng giữa như một song sắt, nhưng phép đối lại đặt người và trăng ở hai đầu, cùng hướng về nhau, khiến song sắt mất đi sức ngăn cách. Trăng được nhân hóa, cũng biết “ngắm” như người, thành một người bạn tri âm. Nhờ phép đối kết hợp nhân hóa, bài thơ biến cảnh ngồi tù thành một cuộc gặp gỡ ngang hàng giữa thi nhân và thiên nhiên, cho thấy một tâm hồn tự do vượt lên hoàn cảnh. Bản dịch thơ dùng chữ “nhòm” làm trăng tinh nghịch hơn, nhưng chưa giữ được thế đối chặt của nguyên tác.
Câu 9 (trang 131): Tác dụng của tổng kết tiếng Việt và tổng kết phương pháp đọc, viết, nói, nghe ở Bài 10
Nội dung tổng kết tiếng Việt và tổng kết phương pháp đọc, viết, nói, nghe ở Bài 10 có tác dụng gì?
Trả lời:
- Tổng kết tiếng Việt giúp gom các đơn vị kiến thức rải suốt từ lớp 10 đến lớp 12 (biện pháp tu từ như nói mỉa, nghịch ngữ; giữ gìn và phát triển tiếng Việt; phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ; các lỗi diễn đạt…) thành một hệ thống, thấy được mối liên hệ giữa chúng và vận dụng vào đọc, viết thay vì nhớ máy móc từng bài.
- Tổng kết phương pháp đọc, viết, nói, nghe cho học sinh một “bộ công cụ” có thể mang theo khi rời trường: cách đọc từng loại văn bản (văn học, nghị luận, thông tin), quy trình viết, cách trình bày và tranh luận. Đây cũng chính là các năng lực mà đề thi tốt nghiệp kiểm tra trên ngữ liệu mới.
Định hướng đánh giá: làm quen với đề thi tốt nghiệp
| Điểm trong định hướng (trang 131) | Khác học kì II lớp 10, 11 |
|---|---|
| Thời lượng 120 phút; phạm vi kiến thức tập hai. | Lớp 10, 11 chỉ 90 phút. |
| Đọc hiểu một văn bản mới thuộc ba loại: văn học, nghị luận, thông tin. | Văn bản thông tin quay lại phạm vi đề. |
| Câu hỏi đọc hiểu yêu cầu viết tự luận (câu trả lời ngắn). | Không còn trắc nghiệm khách quan. |
| Viết đoạn hoặc bài ngắn: nghị luận về quan niệm yêu nước của tuổi trẻ; so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ; bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào… | Các kiểu bài bám sát phần Viết của tập hai. |
Tự đánh giá cuối học kì II (trang 131–133)
I. Đọc hiểu: đoạn trích bài viết “Tây Tiến”, khúc độc hành của Đặng Anh Đào (in trong Tiếng nói tri âm, 1996). Tác giả bắt đầu từ nhan đề (việc chữ Nhớ bị xóa bớt) và âm hưởng quân hành, rồi chỉ ra rằng thể thất ngôn vốn gắn với những bài thơ buồn, để đi tới nhận định: Tây Tiến là một khúc độc hành, nhà thơ một mình ngược lại con đường trong kí ức. Đoạn tiếp theo phân tích hình tượng con đường kết bằng địa danh Việt, Lào và hình ảnh Hà Nội trong giấc mơ, có trích hai cặp câu thơ:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Câu 1 (trang 133): Yếu tố thể hiện rõ nhất tính chất nghị luận
Yếu tố nào thể hiện rõ nhất tính chất nghị luận của đoạn trích?
Trả lời: Đó là việc người viết nêu một nhận định riêng và chứng minh nó: luận điểm “Tây Tiến là một khúc độc hành” được dẫn tới bằng lí lẽ (thơ bảy chữ xưa nay vốn gắn với nỗi buồn; kí ức mãnh liệt hiện tại hóa quá khứ) và bằng chứng (nhan đề bản in đầu, các câu thơ được trích, các tác phẩm được so sánh). Những câu hỏi đặt vấn đề (“Phải chăng…”) và từ ngữ đánh giá (“có lẽ nên gọi”, “hiếm có”) cũng cho thấy đây là lời bàn luận, không phải lời kể hay tả.
Câu 2 (trang 133): Những yếu tố của bài thơ được phân tích
Người viết chú ý phân tích làm sáng tỏ những yếu tố nào của bài thơ trong đoạn trích trên?
Trả lời:
- Nhan đề và việc xóa bớt chữ Nhớ.
- Thể thơ thất ngôn và âm hưởng buồn mà nó mang theo.
- Mạch cảm xúc hồi tưởng: kí ức khiến quá khứ hiện ra như đang diễn ra.
- Hình tượng con đường hành quân, cụ thể hóa bằng địa danh.
- Âm thanh, nhạc điệu của các địa danh và câu thơ (độ dốc, độ cao, độ sâu được mô phỏng bằng nhạc điệu).
- Hình ảnh Hà Nội trong giấc mơ như một “đỉnh điểm”.
Câu 3 (trang 133): Hiểu “độc hành” và lí do gọi Tây Tiến là khúc độc hành
Em hiểu “độc hành” là gì? Vì sao tác giả cho rằng “Bởi thế, có lẽ nên gọi Tây Tiến là một khúc độc hành.”?
Trả lời: “Độc hành” là đi một mình. Tác giả gọi Tây Tiến là khúc độc hành vì: bài thơ mang âm hưởng hành khúc nhưng được viết bằng thể thất ngôn, thể thơ quen thuộc của nỗi buồn chia li; khi viết, đoàn quân đã đi xa, chỉ còn nhà thơ một mình trở lại con đường bằng kí ức, nên đó không phải bước chân tập thể của bài hát hành quân mà là bước chân lẻ loi của nỗi nhớ. Chữ “khúc” giữ lại nhạc tính của hành khúc, còn chữ “độc” nói lên tâm thế cô đơn của người hồi tưởng.
Câu 4 (trang 133): Tác dụng của việc so sánh Tây Tiến với Tiến quân ca và các tác phẩm khác
Việc so sánh bài Tây Tiến với Tiến quân ca và một số tác phẩm khác trong đoạn trích trên có tác dụng gì?
Trả lời: So sánh với Tiến quân ca, Xếp bút nghiên đặt Tây Tiến vào không khí âm nhạc thời kháng chiến, cho thấy điểm chung (âm hưởng quân hành, hình tượng con đường) để rồi làm nổi bật điểm riêng: con đường của Quang Dũng không khái quát, biểu tượng mà cụ thể bằng địa danh. So sánh với Thăng Long thành hoài cổ, Nguyệt cầm, Tống biệt hành giúp giải thích chất buồn của thể thất ngôn. Nhờ đối chiếu hai phía, người đọc thấy Tây Tiến đứng giữa hành khúc và bi ca, và lập luận “khúc độc hành” trở nên thuyết phục.
Câu 5 (trang 133): Nhận xét về cách phân tích thơ của tác giả
Nhận xét về cách phân tích thơ của tác giả từ đoạn trích trên.
Trả lời: Đặng Anh Đào phân tích thơ bằng cách đi từ chi tiết nhỏ dễ bị bỏ qua (một chữ bị xóa trong nhan đề, thể thơ, âm thanh của tên đất) tới một nhận định khái quát mới mẻ. Bà đặt bài thơ trong mạng lưới liên văn bản (âm nhạc, thơ cổ, thơ mới, thơ cùng thời), nhờ đó cái riêng của bài thơ hiện rõ. Cách viết giàu cảm nhận về nhạc điệu, nhiều câu hỏi gợi mở thay vì khẳng định cứng, trích thơ chọn lọc và ngắn. Đây là lối phê bình vừa có lí vừa có cảm xúc, gợi cho người đọc tự đọc lại bài thơ.
II. Viết
Câu 1 (trang 133): Đoạn văn khoảng 200 chữ về tuổi trẻ và những khó khăn, thách thức
Viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu lên suy nghĩ em về vấn đề: Tuổi trẻ và những khó khăn, thách thức.
Trả lời (đoạn tham khảo): Người ta hay nói tuổi trẻ là quãng đẹp nhất, nhưng ít ai nói nó cũng là quãng nhiều thử thách nhất. Người trẻ hôm nay không phải đi qua bom đạn như thế hệ Tây Tiến, song họ đối diện những sức ép khác: kì thi quyết định hướng đi, áp lực so sánh trên mạng xã hội, thị trường việc làm đổi thay nhanh vì công nghệ, và cả câu hỏi khó nhất là mình thực sự muốn gì. Khó khăn ấy không đáng sợ bằng thái độ né tránh nó. Một bạn trượt nguyện vọng đầu nhưng dùng năm ấy học nghề, tích lũy kĩ năng, có khi lại đi xa hơn người đỗ dễ dàng. Thử thách vì thế là nơi người trẻ biết mình mạnh đến đâu, và mỗi lần vượt qua là một lần lớn lên. Điều cần thiết là chuẩn bị nền tảng vững (kiến thức, sức khỏe, khả năng tự học), dám nhờ giúp đỡ khi cần và chấp nhận thất bại như một phần của con đường. Tuổi trẻ không có nghĩa là không vấp ngã, mà là còn đủ thời gian và sức lực để đứng dậy.
Câu 2 (trang 133): Suy nghĩ về ý kiến sáng tạo ngôn từ, hình ảnh, cấu tứ là biểu hiện rõ nhất của tính hiện đại trong thơ
“Sự sáng tạo ngôn từ, hình ảnh, cấu tứ, biện pháp nghệ thuật được xem là những biểu hiện rõ rệt nhất về tính hiện đại của thơ.”. Em có suy nghĩ gì về ý kiến trên?
Trả lời (dàn ý chi tiết):
- Mở bài: thơ Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến nay liên tục đổi mới; nêu ý kiến và khẳng định: ý kiến đúng nhưng cần hiểu đầy đủ.
- Giải thích: tính hiện đại của thơ là sự đổi mới so với thơ truyền thống về cách cảm, cách nghĩ và cách biểu hiện. Ý kiến nhấn mạnh phương diện hình thức nghệ thuật: ngôn từ (chữ mới, kết hợp lạ), hình ảnh (tượng trưng, siêu thực), cấu tứ (tổ chức bài thơ theo liên tưởng), biện pháp nghệ thuật.
- Chứng minh qua Bài 8: Đàn ghi ta của Lor-ca phá vỡ thói quen câu chữ (không viết hoa, ít dấu câu), dùng hình ảnh tượng trưng, siêu thực để nói về cái chết và sự bất tử của người nghệ sĩ; cấu tứ là hành trình của tiếng đàn. Bài thơ của một người yêu nước mình mới ở cấu tứ: bày tỏ tình yêu đất nước qua những điều nhỏ bé, đời thường, lặp cấu trúc như một lời tự bạch, khác với giọng hào hùng quen thuộc.
- Bàn luận mở rộng: hình thức mới chỉ có giá trị khi chuyên chở cách cảm nhận mới về con người và thế giới (cái tôi cá nhân, ý thức về số phận, cái nhìn đa chiều). Cách tân hình thức đơn thuần, xa rời cảm xúc thật, dễ thành trò chơi chữ. Vì thế tính hiện đại là sự thống nhất giữa tư duy mới và hình thức mới.
- Kết bài: khẳng định ý kiến có cơ sở; với người đọc, cần đọc thơ hiện đại bằng sự kiên nhẫn, chấp nhận nhiều cách hiểu.
Nhìn lại tập hai Ngữ văn 12 Cánh diều qua một bảng
Bảng xếp theo bài học, mỗi bài một dòng, để thấy ngay các văn bản và kĩ năng đi cùng nhau thế nào.
| Bài | Văn bản đọc hiểu (link bài soạn) | Thực hành đọc / Tự đánh giá | Viết | Tiếng Việt |
|---|---|---|---|---|
| 6. Thơ văn Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh | Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh: Cuộc đời và sự nghiệp; Tuyên ngôn Độc lập; Nhật kí trong tù: Ngắm trăng, Lai Tân | Vi hành / Cảnh rừng Việt Bắc | Nghị luận về quan niệm yêu nước của tuổi trẻ | Biện pháp tu từ nói mỉa |
| 7. Tiểu thuyết hiện đại | Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng); Ánh sáng cứu rỗi (Bảo Ninh) | Đêm trăng và cây sồi / Con người không thể bị đánh bại | Thư trao đổi công việc hoặc một vấn đề đáng quan tâm | Biện pháp tu từ nghịch ngữ (tiếp theo) |
| 8. Thơ hiện đại | Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo); Bài thơ của một người yêu nước mình (Trần Vàng Sao) | Thời gian (Văn Cao) / Tháng Tư (Nguyễn Linh Khiếu) | Nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ | Giữ gìn và phát triển tiếng Việt |
| 9. Văn bản thông tin tổng hợp | Cách mạng công nghiệp 4.0 và vai trò của trí thức khoa học – công nghệ (Nguyễn Thế Nghĩa); Phụ nữ và việc bảo vệ môi trường | Tin học có phải là khoa học? (Phan Đình Diệu) / Xô-phi-a Cô-va-lép-xcai-a – người phụ nữ phi thường | Bài phát biểu trong lễ phát động một phong trào hoặc hoạt động xã hội | Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ |
| 10. Tổng kết | Tổng kết lịch sử văn học; tổng kết về tiếng Việt; tổng kết phương pháp đọc, viết, nói và nghe | |||
Đề kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn 12 Cánh diều tham khảo (tự soạn, có đáp án)
Đề luyện theo đúng định hướng của sách: 120 phút, đọc hiểu toàn bộ là câu trả lời ngắn. Ngữ liệu là một bài tùy bút Văn VN viết riêng cho đề này.
I. Đọc hiểu (4,0 điểm)
BẾN XE NGÀY HAI MƯƠI TÁM TẾT
Tôi có một thói quen kì lạ: năm nào cũng vậy, chiều hai mươi tám Tết, tôi ra bến xe ngồi, dù chẳng đi đâu.
Bến xe ngày ấy không giống bất kì nơi nào trong thành phố. Người ta không đi, người ta về. Cái khác giữa đi và về, tôi nghĩ, nằm ở đôi mắt. Người đi thì nhìn tới trước, còn người về thì nhìn như đã thấy trước cả cái cổng nhà mình.
Ở đây, hành lí cũng biết kể chuyện. Một chậu quất buộc dây cẩn thận. Một bao tải cồm cộm, chắc là mấy hộp mứt mua vội ở chợ đầu ngõ trọ. Một cái lồng chim. Một chiếc xe đạp trẻ con còn nguyên giấy bọc, món quà ông bố trẻ đã để dành tiền từ tháng Chín. Có cô gái ôm khư khư bó đào, sợ người chen làm rụng mất mấy nụ, như thể cả cái Tết của nhà cô nằm gọn trong mấy cành ấy.
Loa gọi xe vang lên: Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An… Mỗi tên đất đọc lên là một cụm người đứng dậy. Tôi chợt nghĩ, bản đồ đất nước vào ngày này không vẽ bằng đường biên, mà vẽ bằng những chuyến xe.
Rồi tôi thấy một bà cụ ngồi im ở hàng ghế cuối. Bà không vội. Bà đợi chuyến muộn nhất, vì giờ đó con trai bà mới tan ca ở xưởng may. “Năm nào nó cũng bảo mẹ về trước đi, năm nào tôi cũng đợi.” Bà cười, và tôi hiểu: với bà, về quê không quan trọng bằng về cùng nhau.
Chuyến cuối cùng rời bến khi đèn đường đã bật. Bến vắng dần, chỉ còn mấy mẩu vé rơi, mấy cánh đào dập. Tôi đứng dậy, đi bộ về căn nhà trên phố, nơi bố mẹ vẫn đợi cơm. Hóa ra mình chẳng cần lên chuyến xe nào cả. Tết, đôi khi chỉ là biết mình còn có một nơi để trở về.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào? Nêu hai dấu hiệu giúp em nhận biết.
Câu 2. Chỉ ra biện pháp liệt kê ở đoạn thứ ba và nêu tác dụng.
Câu 3. Em hiểu thế nào về câu: “bản đồ đất nước vào ngày này không vẽ bằng đường biên, mà vẽ bằng những chuyến xe”?
Câu 4. Chi tiết bà cụ đợi chuyến xe muộn nhất có vai trò gì trong mạch cảm xúc của bài?
Câu 5. Câu kết thể hiện quan niệm gì của người viết về Tết? Em có đồng tình không, vì sao?
II. Viết (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn khoảng 200 chữ về ý nghĩa của “một nơi để trở về” đối với người trẻ.
Câu 2 (4,0 điểm). Trường em phát động phong trào “Tết sẻ chia” quyên góp quà Tết cho người lao động khó khăn. Hãy viết bài phát biểu của đại diện học sinh trong lễ phát động.
Đáp án và hướng dẫn chấm
| Câu | Đáp án / yêu cầu | Điểm |
|---|---|---|
| 1 | Tùy bút. Dấu hiệu: cái tôi trữ tình xưng “tôi” bộc lộ trực tiếp cảm xúc, suy ngẫm; mạch văn đi theo quan sát và liên tưởng tự do; kết hợp kể, tả với triết lí ngắn. | 0,75 |
| 2 | Liệt kê hành lí: chậu quất, bao tải mứt, lồng chim, xe đạp trẻ con, bó đào. Tác dụng: gợi không khí Tết đông vui, cho thấy mỗi món đồ chứa một mong ước, một tình thân; nhịp câu ngắn dồn dập như dòng người ở bến. | 0,75 |
| 3 | Ngày cuối năm, người ta nhận ra đất nước qua những cuộc đoàn tụ: mỗi chuyến xe nối người đi làm xa với quê nhà; đất nước là tình người, quê hương, không chỉ là ranh giới địa lí. | 0,75 |
| 4 | Là điểm nhấn, chuyển cảm xúc từ quan sát đông vui sang chiều sâu: điều quan trọng không phải nơi về mà người cùng về; chuẩn bị cho câu kết. | 0,75 |
| 5 | Tết là sự trở về, là còn gia đình, còn nơi chờ mình; ý kiến riêng có lí lẽ. | 1,0 |
| Viết 1 | Đoạn văn đúng hình thức, dung lượng; giải thích “nơi để trở về” (gia đình, quê hương, giá trị gốc); ý nghĩa (điểm tựa tinh thần, giữ bản sắc); phê phán lối sống quên gốc; bài học. | 2,0 |
| Viết 2 | Đúng hình thức bài phát biểu: chào, giới thiệu; ý nghĩa phong trào; nội dung, cách tham gia, thời gian; lời kêu gọi giàu cảm xúc (3,0). Diễn đạt, sáng tạo (1,0). | 4,0 |
Lưu ý khi ôn cho bài kiểm tra cuối năm lớp 12
- Đề không còn trắc nghiệm: mỗi câu đọc hiểu cần 3–5 câu trả lời, ý chính nêu ngay câu đầu, có dẫn từ ngữ trong văn bản.
- Văn bản thông tin quay lại phạm vi đề. Ôn cách nhận diện thông tin chính, cách trình bày (số liệu, sơ đồ, phỏng vấn), phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (nội dung tiếng Việt Bài 9).
- Ngữ liệu nghị luận văn học như bài tự đánh giá rất hay gặp: tập trả lời ba câu quen thuộc là luận điểm là gì, được chứng minh bằng gì, cách lập luận có gì đặc sắc.
- Ba kiểu bài viết trong định hướng có hình thức khác hẳn nhau; luyện mỗi kiểu ít nhất một bài hoàn chỉnh, đặc biệt là bài phát biểu, kiểu dễ bị viết thành bài nghị luận thông thường.
Xem thêm: