Quan niệm là cách một người hiểu và nhìn nhận một sự vật, một vấn đề theo ý riêng, thường đã thành nếp nghĩ khá bền. Từ này vừa là danh từ (một quan niệm cũ), vừa là động từ (tôi quan niệm rằng…). Người ta hay gặp nó trong các cụm quan niệm sống, quan niệm về hạnh phúc hay quan niệm nghệ thuật của nhà văn.
| Nghĩa ngắn | Cách hiểu, cách nhìn riêng của một người hay một cộng đồng về sự vật, vấn đề |
| Gốc từ | Hán Việt 觀念: quan (xem, nhìn) + niệm (nghĩ, nhớ) |
| Loại từ | Danh từ; cũng dùng như động từ: “quan niệm rằng”, “quan niệm như thế” |
| Sắc thái | Trung tính; thêm chữ “cũ”, “lạc hậu”, “cởi mở” mới thành khen hay chê |

Quan niệm: cái nhìn đã thành nếp nghĩ
Thử hình dung hai bà cháu cùng nhìn một chiếc áo rách ở đầu gối. Bà bảo áo hỏng, phải vá. Cháu bảo áo đẹp, mua về đã rách sẵn như thế. Cái áo chỉ có một, nhưng hai người mang theo hai cách hiểu khác nhau về thế nào là đẹp, là lành. Mỗi cách hiểu ấy là một quan niệm.
Mục từ quan niệm trong các từ điển tiếng Việt đều xoay quanh hai cách dùng:
- Danh từ: cách hiểu riêng của mình về một sự vật, một vấn đề. Ví dụ: Ông nội giữ quan niệm “có công mài sắt có ngày nên kim”.
- Động từ: hiểu một vấn đề theo ý mình. Ví dụ: Cô ấy quan niệm rằng nghỉ ngơi cũng là một phần của làm việc.
Điểm đáng để ý: quan niệm không nhất thiết là của một người. Cả một làng, một thời đại có thể chung một quan niệm, như cách người xưa coi con trai mới là người nối dõi. Vì nó bám rễ lâu, quan niệm thay đổi chậm hơn nhiều so với một ý kiến nói ra trong buổi họp lớp.
觀念: nhìn bằng mắt, giữ lại trong đầu
Chữ quan (觀) là xem, ngắm cho kĩ; cùng gốc với quan sát, tham quan, lạc quan, bi quan. Chữ niệm (念) là nghĩ, nhớ, ôm mãi trong lòng; ta gặp nó ở tưởng niệm, kỉ niệm, ý niệm, chấp niệm.
Ghép lại thành một hình ảnh dễ nhớ: thấy một điều, nghĩ về nó, rồi cái nghĩ ấy ở lại. Đây cũng là chỗ phân biệt quan niệm với một cảm nghĩ thoáng qua. Sáng mùng Một thấy nhà bừa bộn rồi thấy khó chịu là cảm xúc; tin rằng “quét nhà ngày mùng Một là quét lộc đi” mới là một quan niệm, vì nó đã được giữ lại và đem ra áp cho nhiều lần sau.
Ba chữ thế giới quan, nhân sinh quan, giá trị quan cũng dùng chữ quan 觀 này. Người ta gói ba thứ ấy vào chữ “tam quan”, có bài riêng ở mục giải nghĩa chữ tam quan.
Quan niệm khác quan điểm, khái niệm, định kiến ra sao?
| Từ | Trọng tâm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Quan niệm | Cách hiểu rộng, lâu dài về một điều; thường đã thành nếp | Quan niệm “trai tài gái sắc” |
| Quan điểm | Chỗ đứng để nhìn một vấn đề cụ thể, thường nêu ra để bàn | Quan điểm của em về việc dùng điện thoại trong lớp |
| Khái niệm | Cái hiểu chung, có tính định nghĩa, không mang màu riêng của ai | Khái niệm “danh từ” trong ngữ pháp |
| Định kiến | Quan niệm có sẵn, cứng nhắc, thường lệch, khó đổi | Định kiến “con gái học kém toán” |
| Ý niệm | Cái hiểu ban đầu, còn mơ hồ | Đứa trẻ chưa có ý niệm về thời gian |
Quan niệm và quan điểm hay bị dùng lẫn nhất. Một mẹo nhỏ: quan điểm thường đi với một câu hỏi đang bàn (“quan điểm của bạn về đề xuất này”), còn quan niệm đi với một mảng lớn của đời sống (“quan niệm về tình yêu”, “quan niệm về thành công”). Phần chữ 觀點, đứng ở điểm nào để nhìn, đã có trong bài giải nghĩa từ quan điểm và chữ 觀點.
Còn khi một quan niệm cứng lại, không chịu nghe lẽ phải, nó trượt thành định kiến. Chí Phèo bị cả làng Vũ Đại khước từ chính vì một nếp nhìn như thế; chuyện này được kể kĩ ở bài định kiến và cái nhìn của làng Vũ Đại. Trái nghĩa trực tiếp với quan niệm thì không có, nhưng tính chất của nó có cặp đối: quan niệm cởi mở với quan niệm khép kín, quan niệm tiến bộ với quan niệm lạc hậu.
Khi đề văn bàn về một quan niệm sống
Nhiều đề nghị luận xã hội mở bằng chính chữ này: “Có quan niệm cho rằng thành công là phải giàu có”, “Bàn về quan niệm: sống chậm lại một chút”. Với dạng đề ấy, phần giải thích nên làm ba việc:
- Nói rõ quan niệm được nêu là gì, hiểu theo nghĩa đen và nghĩa bóng.
- Chỉ ra phần hợp lí của nó, vì một quan niệm sống được lâu thường có lí do của nó.
- Chỉ ra chỗ hẹp hoặc lệch, rồi nêu cách nhìn của mình. Đừng phản bác chỉ để khác người.
Một quan niệm cũ không có nghĩa là quan niệm sai. “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” có từ rất xưa mà vẫn đúng. Ngược lại, quan niệm “học giỏi là phải điểm mười tất cả các môn” khá mới nhưng đang bị chính học trò đặt lại câu hỏi. Kiểu đề yêu cầu thuyết phục người khác thay đổi cách nghĩ có dàn ý và bài mẫu ở bài luận khuyên người khác bỏ một nếp nghĩ cũ.
Học sinh lớp 12 còn gặp chữ này ngay trên nhan đề một văn bản của Vũ Trọng Phụng: Hai quan niệm về gia đình và xã hội. Đọc nhan đề ấy, chú ý chữ “hai”: ngay từ tên gọi, văn bản đã báo trước rằng sẽ có hai cách hiểu đặt cạnh nhau, và việc của người đọc là xem chúng khác nhau ở đâu.
Quan niệm trong câu nói hằng ngày
Quan niệm sống là gì?
Là cách một người hiểu về lẽ sống: sống để làm gì, điều gì đáng quý, thế nào là sống tốt. Quan niệm sống được hình thành từ gia đình, trường lớp, sách vở và những va vấp của chính mình, nên mỗi người một khác.
Quan niệm nghĩa là gì trong tiếng Hán Việt?
Quan 觀 là nhìn, xem xét; niệm 念 là nghĩ, ghi nhớ. Ghép lại là cái nghĩ có được sau khi nhìn nhận một điều, rồi giữ lại thành cách hiểu của mình.
Quan niệm tiếng Anh là gì?
Danh từ thường dịch là conception, notion hoặc idea; “quan niệm sống” có thể dịch là outlook on life. Động từ “quan niệm rằng” dịch gần với believe hoặc think.
Viết “quan niệm” hay “quan niện”?
Viết đúng là quan niệm, vần “iêm” với phụ âm cuối m. Chữ niệm này cũng là chữ trong kỉ niệm, nhớ được một từ là viết đúng cả hai.