Nghị luận là bàn bạc về một vấn đề bằng lí lẽ và dẫn chứng để người đọc, người nghe hiểu và đồng tình với ý kiến của mình. Ở trường, “văn nghị luận là gì” thường được hiểu gọn: kiểu bài nêu quan điểm rồi chứng minh nó. Kiểu bài này chia làm hai nhánh lớn là nghị luận xã hội và nghị luận văn học.
| Nghĩa | Bàn luận, dùng lí lẽ và bằng chứng để thuyết phục |
| Gốc từ | Hán Việt 議論: nghị (bàn bạc) + luận (bàn, xét lẽ phải trái) |
| Thuộc | Một phương thức biểu đạt, đồng thời là kiểu văn bản trong môn Ngữ văn |
| Dấu hiệu nhận biết | Có ý kiến rõ ràng (luận điểm), có lí lẽ giải thích và dẫn chứng đi kèm |
| Học ở | Ngữ văn từ lớp 6 đến lớp 12, gần như kì thi nào cũng có |

Nghị luận nghĩa là gì, xét từ chữ Hán đến bài văn ở trường?
Từ này mượn của chữ Hán 議論. Từ điển Hán Việt giảng gọn: bàn bạc để đi tới lẽ phải. Tách ra thì nghị là bàn, thảo luận (như trong hội nghị, kiến nghị), còn luận là bàn cho ra lẽ, xét đúng sai (như bình luận, tranh luận, lí luận). Ghép hai chữ lại, ta có một hoạt động rất quen: đưa ra ý kiến về chuyện gì đó rồi lí giải vì sao mình nghĩ thế.
Trong sách Ngữ văn, văn bản nghị luận được hiểu là loại văn bản viết ra chủ yếu để thuyết phục người đọc về một vấn đề. Người viết không kể chuyện cho hay, không tả cảnh cho đẹp. Mục đích của họ là làm cho người khác thấy một nhận định là đúng, hoặc thấy một cách làm là nên theo.
Nghị luận cũng không phải thứ chỉ có trong giờ văn. Một bài xã luận trên báo, một bài phát biểu trong buổi chào cờ, thậm chí một tin nhắn dài thuyết phục bố mẹ cho đi dã ngoại đều mang dáng dấp nghị luận. Đã nêu ý kiến và cố chứng minh ý kiến đó, tức là đang nghị luận.
Ba viên gạch dựng nên một bài nghị luận
Mọi bài nghị luận, dài hay ngắn, đều đứng trên ba thứ. Thiếu một thứ, bài sẽ lung lay.
- Luận điểm là ý kiến của người viết, thường là một câu khẳng định rõ ràng. Một bài lớn sẽ có luận điểm chính và nhiều luận điểm nhỏ đỡ cho nó. Vấn đề bao trùm mà cả bài bàn tới thì gọi là luận đề; hai khái niệm này sẽ được giải thích kĩ ở bài riêng.
- Lí lẽ là những lời giải thích, phân tích để cho thấy vì sao ý kiến ấy đúng. Lí lẽ trả lời câu hỏi “tại sao”.
- Dẫn chứng là sự việc, số liệu, câu thơ, nhân vật, tấm gương có thật dùng để làm bằng. Dẫn chứng trả lời câu hỏi “lấy gì làm chắc”.
Cách sắp xếp lí lẽ và dẫn chứng sao cho chặt chẽ gọi là lập luận. Có người đi từ chung đến riêng (diễn dịch), có người gom các trường hợp cụ thể rồi rút ra kết luận (quy nạp), có người so sánh hai mặt để làm nổi ý mình.
Một điều học sinh hay quên: văn nghị luận cần giọng điệu tỉnh táo. Có thể bày tỏ cảm xúc, nhưng cảm xúc phải đi sau lí lẽ. Một bài toàn câu cảm thán mà không chỉ ra được “vì sao” thì đọc xong người ta vẫn chưa bị thuyết phục. Muốn tách bạch đâu là nhận định có cơ sở, đâu là cảm nhận riêng, có thể đọc thêm phần cách phân biệt góc nhìn khách quan với chủ quan.
Nghị luận xã hội và nghị luận văn học khác nhau ra sao?
Đề văn ở trường thường được chia theo đối tượng được bàn. Bảng dưới gom các dạng chính.
| Nhánh | Bàn về cái gì | Dạng đề hay gặp | Dẫn chứng lấy từ đâu |
|---|---|---|---|
| Nghị luận xã hội về tư tưởng, đạo lí | Một phẩm chất, một quan niệm sống (lòng biết ơn, tính trung thực, sự tự trọng) | Suy nghĩ về câu tục ngữ, câu nói, một đức tính | Đời sống, tấm gương thật, sách báo |
| Nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống | Một việc đang xảy ra quanh ta (nghiện điện thoại, rác thải nhựa, bắt nạt học đường) | Bày tỏ ý kiến, đề xuất giải pháp | Số liệu, sự việc có thật, trải nghiệm |
| Nghị luận văn học | Một tác phẩm, đoạn trích, nhân vật, chi tiết nghệ thuật | Phân tích, đánh giá bài thơ, truyện; so sánh hai tác phẩm | Câu chữ, hình ảnh trong chính tác phẩm |
Ranh giới đôi khi chồng lên nhau. Lớp 8 có dạng bàn về vấn đề xã hội đặt ra trong một tác phẩm: xuất phát từ văn học, nhưng đích đến là chuyện đời. Xem cách người viết đi qua hai vùng ấy trong bài mẫu bàn vấn đề xã hội trong tác phẩm.
Bố cục ba phần và một đoạn mẫu để soi
Bài văn nghị luận ở trường giữ bố cục quen thuộc:
- Mở bài: giới thiệu vấn đề và nêu ý kiến của mình.
- Thân bài: lần lượt triển khai từng luận điểm; mỗi luận điểm thường là một đoạn, có câu chủ đề, lí lẽ, dẫn chứng.
- Kết bài: khẳng định lại ý kiến, nêu bài học hay lời kêu gọi.
Thử soi một đoạn tự viết về thói quen đọc sách:
Đọc sách giúp người trẻ chậm lại để nghĩ. Khi lướt mạng, mắt ta nhảy từ đoạn video này sang đoạn khác chỉ sau vài giây; còn một cuốn tiểu thuyết buộc ta đi cùng nhân vật qua hàng trăm trang. Một bạn lớp em từng mất tập trung sau mười phút học, nhưng sau một học kì đọc mỗi tối hai mươi trang, bạn ngồi được trọn một tiết ôn bài mà không cầm điện thoại.
Câu đầu là luận điểm. Câu thứ hai là lí lẽ, so sánh hai cách tiếp nhận để giải thích. Câu cuối là dẫn chứng, một trường hợp cụ thể. Ba viên gạch nằm đủ trong một đoạn.
Ở sách giáo khoa, có thể đọc Tinh thần yêu nước của nhân dân ta của Hồ Chí Minh: câu mở đầu nêu luận điểm về truyền thống yêu nước, phần sau dẫn các cuộc kháng chiến trong lịch sử và những việc làm của đồng bào thời chống Pháp để chứng minh. Phần giới thiệu bố cục văn bản Tinh thần yêu nước chỉ rõ từng chặng lập luận. Còn với học sinh lớp 6, bài Xem người ta kìa! của Lạc Thanh là văn bản nghị luận nhẹ nhàng, bàn chuyện nên giống người khác hay nên giữ nét riêng; phần soạn văn bản Xem người ta kìa có thể dùng để luyện tìm luận điểm.
Muốn đi từ hiểu sang viết, nên đọc vài bài hoàn chỉnh theo từng lớp: dàn ý bàn về vấn đề đời sống lớp 7, bài viết mẫu về một tư tưởng, đạo lí ở lớp 8, hay ở THPT là tuyển bài phân tích và đánh giá một bài thơ lớp 10.
Thử sức: đoạn nào là nghị luận?
Câu 1: Đoạn sau có phải nghị luận không? “Sáng nay trời mưa phùn. Mẹ đưa em tới trường bằng chiếc xe đạp cũ, áo mưa trùm kín cả hai mẹ con.”
Đáp án: Không. Đoạn văn kể một việc và tả khung cảnh (tự sự kết hợp miêu tả). Không có ý kiến nào cần chứng minh, cũng không có lí lẽ hay dẫn chứng.
Câu 2: Tìm luận điểm trong đoạn: “Tự học là chìa khóa để tiến bộ. Thầy cô chỉ ở bên ta vài tiết mỗi ngày, phần còn lại là thời gian ta tự xoay xở. Bạn lớp trưởng lớp em đứng đầu khối nhờ mỗi tối tự làm thêm hai đề và tự chấm lại bài.”
Đáp án: Luận điểm là câu đầu: Tự học là chìa khóa để tiến bộ. Câu thứ hai là lí lẽ, câu thứ ba đóng vai trò dẫn chứng.
Câu 3: Đề “Suy nghĩ của em về hiện tượng học sinh dùng mạng xã hội quá nhiều” thuộc dạng nghị luận nào?
Đáp án: Nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống. Đối tượng bàn là một việc đang diễn ra quanh ta, không phải một tác phẩm hay một phẩm chất đạo đức.
Câu 4: Trong một bài phân tích bài thơ, câu thơ được trích lại đóng vai trò gì?
Đáp án: Đó là dẫn chứng. Ở nghị luận văn học, bằng chứng mạnh nhất chính là câu chữ của tác phẩm; người viết trích rồi phân tích để làm sáng tỏ nhận định của mình.
Học sinh hay hỏi gì khi mới học văn nghị luận?
Văn nghị luận là gì, nói ngắn để dễ nhớ?
Văn nghị luận là kiểu văn nêu ý kiến về một vấn đề rồi dùng lí lẽ và dẫn chứng để chứng minh ý kiến ấy, nhằm thuyết phục người đọc.
Nghị luận xã hội là gì?
Là kiểu bài bàn về các vấn đề của đời sống, xã hội: một tư tưởng, đạo lí hoặc một hiện tượng đang diễn ra. Dẫn chứng lấy từ thực tế, sách báo, trải nghiệm. Có thể tham khảo các bài viết mẫu về vấn đề xã hội ở lớp 11.
Nghị luận văn học là gì?
Là kiểu bài bàn về tác phẩm văn học: phân tích một bài thơ, một nhân vật, một chi tiết, hoặc so sánh hai tác phẩm. Dẫn chứng chính là câu chữ, hình ảnh trong tác phẩm.
Văn nghị luận có được dùng yếu tố biểu cảm, tự sự không?
Được, nếu dùng vừa phải. Một câu chuyện ngắn có thể làm dẫn chứng, một câu bày tỏ cảm xúc làm bài văn có hơi ấm. Nhưng các yếu tố ấy phải phục vụ việc chứng minh luận điểm, không được lấn át lí lẽ.