Nghị luận văn học là kiểu văn nghị luận lấy văn học làm đối tượng bàn luận: một bài thơ, một truyện, một nhân vật, một chi tiết nghệ thuật, hay một ý kiến về văn chương. Người viết nêu nhận xét, đánh giá của mình rồi dùng lí lẽ và dẫn chứng lấy từ chính tác phẩm để thuyết phục người đọc. Học sinh hay gọi tắt là “văn NLVH” hoặc “bài văn phân tích tác phẩm”.
| Khái niệm | Văn nghị luận bàn về tác phẩm, tác giả hoặc vấn đề văn học |
| Thuộc | Văn bản nghị luận, cùng họ với nghị luận xã hội |
| Dấu hiệu nhận biết | Có ý kiến đánh giá về văn chương; bằng chứng là câu chữ, hình ảnh, chi tiết trích từ tác phẩm |
| Học ở | Ngữ văn 6–12: từ đoạn văn nêu cảm nghĩ về bài thơ đến bài phân tích, so sánh hai tác phẩm |

Hiểu nghị luận văn học cho đúng: bàn về văn bằng lí lẽ
Tách từ ra thì dễ hình dung. Nghị luận là bàn bạc, dùng lí lẽ để làm rõ một vấn đề; văn học là phạm vi của vấn đề ấy. Vậy nghị luận văn học khác các kiểu bài khác ở đối tượng: thứ đem ra bàn là văn chương, không phải một hiện tượng đời sống.
Có hai lớp văn bản cùng mang tên này. Lớp thứ nhất là bài viết của học sinh: phân tích bài thơ, cảm nhận một nhân vật, bình luận một nhận định. Lớp thứ hai là tiểu luận, phê bình của nhà văn, nhà nghiên cứu, ví dụ Tiếng nói của văn nghệ của Nguyễn Đình Thi, bàn về chức năng của nghệ thuật. Sách Ngữ văn đưa cả hai vào: học sinh vừa đọc những văn bản nghị luận văn học mẫu mực, vừa tập viết bài của mình. Bài tìm hiểu luận điểm Tiếng nói của văn nghệ là một ví dụ để thấy người viết chuyên nghiệp lập luận thế nào.
Bộ khung lí thuyết thì giống mọi bài nghị luận: một vấn đề trung tâm, các ý lớn, lí lẽ và bằng chứng. Phần này đã được trình bày kĩ ở bài khái niệm văn nghị luận nói chung; ở đây chỉ tập trung vào điểm riêng của nhánh văn học.
Bốn dấu hiệu cho biết bài viết đang nghị luận về văn
- Có một ý kiến về tác phẩm. Câu như “Bài thơ là tiếng lòng của người lính xa nhà” là một nhận định cần chứng minh, khác với câu kể lại nội dung.
- Bằng chứng nằm trong văn bản. Câu thơ được trích, chi tiết được dẫn, hình ảnh được gọi tên. Nghị luận xã hội lấy dẫn chứng ngoài đời; nghị luận văn học lấy dẫn chứng từ trang sách.
- Chú ý đến hình thức nghệ thuật. Người viết không chỉ hỏi tác phẩm nói gì mà còn hỏi nói bằng cách nào: biện pháp tu từ, nhịp thơ, điểm nhìn, cách xây dựng tình huống.
- Có đánh giá. Cuối mỗi ý thường có câu khẳng định giá trị, cái hay hay chỗ hạn chế, đặt tác phẩm cạnh tác giả, thời đại.
Thiếu dấu hiệu thứ nhất và thứ tư, bài văn dễ trượt thành kể lại hoặc diễn xuôi thơ, lỗi mà giáo viên chấm hay gạch nhiều nhất.
Các dạng đề nghị luận văn học thường gặp
| Dạng đề | Đề ví dụ | Trọng tâm |
|---|---|---|
| Phân tích, cảm nhận một bài thơ hoặc đoạn thơ | Phân tích bài thơ Thu điếu | Cảm xúc, hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu |
| Phân tích một tác phẩm truyện hoặc nhân vật | Phân tích nhân vật lão Hạc | Tình huống, chi tiết, tính cách, chủ đề |
| Phân tích một tác phẩm kịch, kí | Phân tích một cảnh kịch đã học | Xung đột, lời thoại, chất kí |
| Bình luận một nhận định văn học | Bàn về ý kiến “Thơ là tiếng nói của tâm hồn” | Giải thích nhận định rồi chứng minh bằng tác phẩm |
| So sánh, đánh giá hai tác phẩm | So sánh hai đoạn thơ cùng viết về mùa thu | Điểm giống, điểm khác, lí do khác |
Theo chương trình hiện hành, các dạng này trải theo lớp: THCS tập viết đoạn, bài phân tích một tác phẩm thơ, truyện; THPT thêm yêu cầu “đánh giá” và so sánh hai tác phẩm. Mẫu cho từng dạng có ở dàn ý và văn mẫu phân tích tác phẩm thơ lớp 9 và các bài so sánh, đánh giá hai truyện ngắn ở lớp 12.
Có một dạng nằm ở ranh giới: bàn về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm. Đề xuất phát từ văn học nhưng điểm đến là chuyện đời, nên được xếp gần nghị luận xã hội hơn.
Nghị luận văn học khác nghị luận xã hội ở đâu?
| Tiêu chí | Nghị luận văn học | Nghị luận xã hội |
|---|---|---|
| Đối tượng | Tác phẩm, tác giả, nhận định văn chương | Tư tưởng, đạo lí, hiện tượng đời sống |
| Dẫn chứng | Câu chữ, chi tiết trong tác phẩm | Sự việc thật, số liệu, tấm gương ngoài đời |
| Thao tác nổi bật | Phân tích, bình giảng, so sánh | Giải thích, bàn luận, bác bỏ |
| Câu hỏi người viết tự đặt | Tác phẩm hay ở đâu, hay vì sao? | Vấn đề này đúng hay sai, nên làm gì? |
Hai kiểu bài vẫn có thể mượn nhau: bài văn học đôi khi liên hệ thực tế ở phần kết, bài xã hội có thể dẫn một nhân vật văn học làm ví dụ. Nhưng phần chính phải đúng đối tượng của đề.
Đọc một đoạn văn nghị luận văn học mẫu
Xét hai câu tả cảnh mùa xuân trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, văn bản đã hết thời hạn bảo hộ:
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Một đoạn nghị luận văn học ngắn về hai câu này có thể viết như sau:
Chỉ với hai câu lục bát, Nguyễn Du đã mở ra cả một không gian xuân trong trẻo. Câu trên trải rộng theo chiều ngang: thảm cỏ non kéo dài “tận chân trời”, gợi sức sống tràn đầy. Câu dưới thu lại vào một điểm nhỏ: vài bông lê trắng trên cành. Màu xanh làm nền, màu trắng điểm xuống, phối sắc hài hòa mà thanh khiết. Chữ “điểm” khiến bức tranh trở nên sống động, như có bàn tay người họa sĩ vừa chấm lên. Cảnh xuân hiện ra vừa khoáng đạt vừa tinh tế, cho thấy bút pháp tả cảnh bậc thầy của Nguyễn Du.
Đoạn văn có đủ dấu hiệu đã nêu: câu đầu là nhận định, giữa là phân tích từ ngữ, màu sắc, chữ được trích; câu cuối là đánh giá. Đó là kiểu đoạn mà đề đọc hiểu và đề viết đoạn 200 chữ hay yêu cầu.
Với truyện, cách làm tương tự nhưng dẫn chứng là chi tiết. Phân tích lão Hạc, người viết sẽ dừng ở chi tiết lão gửi tiền và mảnh vườn cho ông giáo để chứng minh lòng tự trọng của nhân vật; các mẫu dạng này có ở bài phân tích nhân vật lão Hạc của Nam Cao.
Luyện nhận diện: bốn câu hỏi có đáp án
Câu 1: Đề “Suy nghĩ của em về lòng tự trọng qua nhân vật lão Hạc” là nghị luận văn học hay nghị luận xã hội?
Đáp án: Đây là đề bàn về vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm. Đề xuất phát từ nhân vật văn học, nhưng trọng tâm là phẩm chất tự trọng trong đời sống, nên gần nghị luận xã hội hơn. Nếu đề là “Phân tích nhân vật lão Hạc” thì mới là nghị luận văn học đúng nghĩa.
Câu 2: Câu nào là nhận định có thể làm luận điểm trong bài nghị luận văn học? (a) Bài thơ Thu điếu có tám câu. (b) Thu điếu vẽ cảnh thu làng quê bằng những nét tĩnh lặng, nhỏ nhẹ.
Đáp án: Câu (b). Câu (a) chỉ nêu một thông tin ai cũng kiểm được, không cần chứng minh. Câu (b) là ý kiến về nghệ thuật tả cảnh, phải dùng câu thơ để làm rõ.
Câu 3: Trong bài phân tích một bài thơ, dẫn chứng nào phù hợp nhất: một số liệu thống kê, câu thơ trong bài, hay câu chuyện của người hàng xóm?
Đáp án: Câu thơ trong bài. Bằng chứng của nghị luận văn học phải lấy từ chính văn bản. Số liệu và chuyện đời thường chỉ hợp với nghị luận xã hội, hoặc dùng rất ít ở phần liên hệ.
Câu 4: Đoạn sau mắc lỗi gì? “Bài thơ kể rằng tác giả ngồi câu cá. Ao thì lạnh, nước thì trong, thuyền thì bé. Sau đó có gió thổi lá vàng rơi.”
Đáp án: Đoạn văn chỉ diễn xuôi nội dung, không có nhận định và không phân tích cách viết. Cần thêm câu luận điểm (ví dụ cảnh thu tĩnh và vắng), chỉ ra tác dụng của từ ngữ, hình ảnh, rồi đánh giá.
Những điều học sinh hay hỏi về nghị luận văn học
Văn nghị luận văn học là gì, nói ngắn để dễ nhớ?
Là bài văn dùng lí lẽ và câu chữ của tác phẩm để nêu và chứng minh ý kiến của mình về văn chương. Nhớ ba chữ: ý kiến, phân tích, đánh giá.
Bài nghị luận văn học gồm những phần nào?
Mở bài giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề cần bàn; thân bài triển khai từng luận điểm, mỗi luận điểm có lí lẽ và dẫn chứng; kết bài khẳng định giá trị và nêu cảm nghĩ. Cách tách luận điểm có ở bài phân biệt luận điểm, luận cứ trong bài văn.
Nghị luận văn học có cần thuộc thơ không?
Nên thuộc những câu then chốt. Dẫn chứng là xương sống của bài; không có câu thơ, chi tiết chính xác thì lời phân tích dễ chung chung. Không cần chép cả bài, chỉ trích phần đang phân tích.
Có được đưa cảm xúc cá nhân vào bài nghị luận văn học không?
Được, và nên có. Nhưng cảm xúc phải đi cùng lí lẽ: nói mình xúc động trước chi tiết nào và vì sao, thay vì chỉ khen “rất hay, rất cảm động”.