Khách quan là cái tồn tại bên ngoài, không phụ thuộc vào ý muốn của con người; dùng cho cách nhìn, từ này chỉ thái độ dựa vào sự thật, không thiên vị bên nào. Chủ quan đứng ở phía ngược lại: xuất phát từ suy nghĩ, cảm xúc, ý muốn của chính mình, và trong lời nói hằng ngày còn mang nghĩa coi thường, lơ là. Hỏi khách quan và chủ quan là gì, thực chất là hỏi ta đang nhìn sự việc từ đâu.
| Khách quan | Chủ quan | |
|---|---|---|
| Nghĩa | Tồn tại ngoài ý thức; nhìn nhận đúng thực tế, không thiên lệch | Thuộc về ý thức, bản thân; nhìn theo ý riêng; khinh suất |
| Chữ Hán | 客觀 (người ngoài + nhìn) | 主觀 (người chủ + nhìn) |
| Loại từ | Danh từ, tính từ | Danh từ, tính từ |
| Hay đi cùng | sự thật khách quan, đánh giá khách quan | ý kiến chủ quan, chủ quan khinh địch |

Khách quan: chữ 客觀 và hai nét nghĩa trong từ điển
Tách chữ sẽ thấy hình ảnh. Khách (客) là người từ ngoài đến, đối lại với chủ (主) là người trong nhà. Quan (觀) là xem, nhìn kĩ; Từ điển Thiều Chửu còn ghi một nét nghĩa của chữ này là cách nhìn, cách nghĩ trong lòng, cùng gốc với lạc quan, bi quan. Ghép lại, khách quan là nhìn như một người khách đứng ngoài: không có quyền lợi gì trong chuyện, nên dễ thấy nó đúng như nó vốn có.
Từ điển Hán Nôm trên hvdic giải hai nghĩa: xem xét sự vật theo đúng bản chất của nó, không để ý riêng chen vào; và chỉ những thứ vẫn có đó dù con người nghĩ gì đi nữa. Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên tách rõ hơn theo từ loại:
- Danh từ: cái có thật ở bên ngoài, không lệ thuộc vào ý muốn của con người, đặt trong thế đối lập với chủ quan. Đây là nét nghĩa của triết học.
- Tính từ, nét thứ nhất: thuộc về thế giới bên ngoài, như điều kiện khách quan, thực tế khách quan.
- Tính từ, nét thứ hai: phản ánh đúng thực tế, trung thực, không nghiêng về phía nào, như một nhận xét khách quan, đánh giá thiếu khách quan.
Nét cuối cùng là nghĩa học sinh gặp nhiều nhất. Trọng tài bắt đúng luật cho cả hai đội, giáo viên chấm bài theo đáp án chứ không theo cảm tình: đó là khách quan. Nét triết học xuất hiện chủ yếu trong giáo trình bậc đại học, khi bàn về quan hệ giữa thế giới vật chất và ý thức; ai tò mò có thể đọc thêm triết học nghiên cứu những câu hỏi gì.
Chủ quan: từ “theo ý mình” đến “lơ là, coi thường”
Chủ (主) là người làm chủ, là phía bản thân mình; quan vẫn là nhìn. Chủ quan tức là nhìn từ chỗ đứng của chính mình. Từ điển Hán Nôm ghi nghĩa: phán đoán theo nhận thức riêng, không cần khớp với tình hình thực tế. Bản Hoàng Phê có ba nét:
- Danh từ: ý thức, tinh thần của con người, đối lập với khách quan (làm theo chủ quan).
- Tính từ, nét trung tính: thuộc về bản thân mình, như năng lực chủ quan, điều kiện chủ quan. Ở đây không có ý chê.
- Tính từ, nét chê: nhận thức không xuất phát từ thực tế mà từ mong muốn của mình, kiểu chủ quan khinh địch, không được chủ quan.
Nét chê ấy trong đời thường đã trượt sang nghĩa “khinh suất, quá tự tin, lơ là”, Wiktionary tiếng Việt cũng ghi nhận cách hiểu này. Khi mẹ dặn “đừng chủ quan, mang áo mưa đi”, mẹ không bàn chuyện triết học, chỉ nhắc con đừng coi nhẹ cơn mưa. Đội bóng dẫn hai bàn rồi chủ quan để thua cũng là nghĩa này.
Còn câu “đây chỉ là ý kiến chủ quan của mình” lại khá lịch sự: người nói thừa nhận nhận xét xuất phát từ cảm nhận riêng, người nghe có thể không đồng ý.
Bảng đối chiếu khách quan và chủ quan theo năm tiêu chí
| Tiêu chí | Khách quan | Chủ quan |
|---|---|---|
| Điểm xuất phát | Sự việc, số liệu, điều kiện bên ngoài | Suy nghĩ, cảm xúc, mong muốn của người nói |
| Kiểm chứng được không | Người khác kiểm lại vẫn ra kết quả đó | Mỗi người có thể thấy khác nhau |
| Sắc thái | Thường là khen (công bằng, đáng tin) | Trung tính (năng lực chủ quan) hoặc chê (chủ quan, lơ là) |
| Ngữ cảnh hay gặp | Báo cáo, tin tức, văn bản thông tin, phân xử | Cảm nhận văn học, nêu ý kiến riêng, lời dặn dò |
| Ví dụ | “Lớp em có 38 bạn, 20 nữ, 18 nam.” | “Lớp em là lớp vui nhất trường.” |
Một câu thử nhanh: nếu có thể đếm, đo, tra lại thì đó là nhận định khách quan; nếu câu chứa những chữ như đẹp nhất, hay, dở, mình thấy thì phần lớn là chủ quan. Chủ quan không có nghĩa là sai, chỉ là chưa đủ để thuyết phục người khác nếu đứng một mình. Bộ não con người lại hay tự nghiêng về điều mình muốn tin; tâm lí học gọi những lối mòn đó là thiên kiến, xem thêm các kiểu thiên kiến nhận thức hay gặp.
Dẫn chứng khách quan trong bài văn nghị luận
Thầy cô hay phê “dẫn chứng thiếu khách quan” ở bài nghị luận xã hội. Lỗi này thường có ba dạng: lấy chuyện của một người quen để kết luận cho cả thế hệ; dẫn số liệu không rõ nguồn; chỉ chọn ví dụ có lợi cho ý mình và bỏ qua phía ngược lại.
Viết khách quan hơn không khó. Thay “ai cũng nghiện điện thoại” bằng “nhiều bạn trong lớp em thừa nhận dùng điện thoại quá ba giờ mỗi ngày”, câu văn đã bớt quả quyết mà lại đáng tin hơn. Khi bàn một vấn đề có hai mặt, nêu cả ý kiến trái chiều rồi mới phản bác. Ý kiến riêng vẫn cần, nhất là ở phần bày tỏ quan điểm; điều quan trọng là tách bạch đâu là sự thật, đâu là nhận xét của mình. Có thể xem cách sắp xếp lí lẽ và dẫn chứng trong loạt bài mẫu bàn về một vấn đề xã hội lớp 10.
Ở kiểu bài cung cấp thông tin, yêu cầu còn chặt hơn: người viết hạn chế bày tỏ cảm xúc, ưu tiên số liệu, nguồn dẫn rõ ràng. Phần này được nói kĩ trong bài giải thích văn bản thông tin khác tin tức ở đâu. Với truyện, người kể ở ngôi thứ ba thường tạo cảm giác khách quan hơn người kể xưng “tôi”; muốn ôn lại hai kiểu này, đọc ngôi kể thứ nhất và ngôi kể thứ ba.
Đặt hai từ vào câu cho đúng chỗ
- Phân xử: “Trọng tài đã đưa ra quyết định khách quan, cả hai đội đều chấp nhận.”
- Báo cáo, kiểm điểm: “Buổi dã ngoại bị hoãn vì nguyên nhân khách quan là mưa bão, còn việc nộp kế hoạch muộn là nguyên nhân chủ quan của ban cán sự.”
- Lời dặn: “Bài kiểm tra tuần trước điểm cao cũng đừng chủ quan, đề cuối kì dài hơn nhiều.”
- Nêu cảm nhận: “Theo cảm nhận chủ quan của em, đoạn kết bài thơ là đoạn xúc động nhất.”
- Khoa học: “Muốn kết luận khách quan, nhóm em đo nhiệt độ ba lần mỗi ngày rồi lấy trung bình.”
Một chỗ dễ dùng lệch: gọi người hay nêu ý kiến riêng là “chủ quan” trong khi thật ra muốn khen họ có chính kiến. Người có chính kiến vẫn có thể rất khách quan nếu họ dựa vào lí lẽ và bằng chứng.
Những câu hỏi xoay quanh cặp từ khách quan, chủ quan
Chủ quan là gì, nói ngắn gọn?
Chủ quan là nhìn nhận, đánh giá theo suy nghĩ và mong muốn của riêng mình thay vì dựa vào thực tế. Trong lời nói hằng ngày, “chủ quan” còn có nghĩa coi thường, lơ là, như “chủ quan nên bị điểm kém”.
Khách quan và chủ quan là gì nếu dịch từng chữ?
Khách quan (客觀) là “cái nhìn của người khách”, tức người đứng ngoài; chủ quan (主觀) là “cái nhìn của người chủ”, tức của chính mình. Hai từ là cặp trái nghĩa, dùng được cả như danh từ lẫn tính từ.
Người khách quan là người như thế nào?
Là người nhận xét dựa vào sự việc và bằng chứng, nghe đủ các phía trước khi kết luận, không để tình cảm riêng lấn át. Người như vậy vẫn có cảm xúc, chỉ là họ không để cảm xúc quyết định thay sự thật.
Nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan khác nhau ra sao?
Nguyên nhân khách quan đến từ bên ngoài, ngoài tầm kiểm soát của người trong cuộc: thời tiết, dịch bệnh, mất điện. Nguyên nhân chủ quan nằm ở chính người đó: chuẩn bị chưa kĩ, thiếu cố gắng, tính toán sai. Bản kiểm điểm hay tự đánh giá thường yêu cầu nêu cả hai.
Chủ quan có phải lúc nào cũng xấu không?
Không. “Năng lực chủ quan”, “cảm nhận chủ quan” là cách dùng trung tính. Văn chương cần cái nhìn chủ quan của người viết. Chỉ khi chủ quan thành lơ là, coi thường hoặc áp ý mình lên sự thật thì nó mới mang nghĩa chê.