Nghị luận xã hội là kiểu văn nghị luận lấy đề tài từ đời sống con người: một tư tưởng, đạo lí, một lối sống, một hiện tượng đang diễn ra quanh ta. Người viết dùng lí lẽ và bằng chứng thực tế để nêu quan điểm, thuyết phục người đọc nghĩ khác đi hoặc làm khác đi. Văn nghị luận xã hội có thể là một đoạn văn ngắn hay một bài văn hoàn chỉnh.
| Khái niệm | Văn nghị luận bàn về một vấn đề của đời sống xã hội, không bàn về tác phẩm văn học |
| Thuộc | Văn nghị luận (bên cạnh nghị luận văn học) |
| Dạng thường gặp | Tư tưởng, đạo lí; hiện tượng đời sống; vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm |
| Dấu hiệu nhận biết | Đề nêu một phẩm chất, câu nói hay hiện tượng; dẫn chứng lấy từ thực tế |
| Học ở | Phần Viết Ngữ văn từ lớp 6 đến lớp 12; đề kiểm tra và đề thi |

Nghị luận xã hội bàn chuyện gì?
Hãy so hai đề. Đề thứ nhất: “Cảm nhận của em về bài thơ Sang thu”. Đề thứ hai: “Suy nghĩ của em về thói quen dùng điện thoại trong bữa cơm gia đình”. Đề đầu bắt ta đọc và bàn về một bài thơ. Đề sau không có văn bản nào cả; thứ cần bàn là một chuyện xảy ra ngay trong nhà. Đề thứ hai là nghị luận xã hội.
Nói rộng hơn, đối tượng của nghị luận xã hội là đạo đức, lối sống, cách ứng xử, các quan hệ trong gia đình và xã hội, những hiện tượng tốt hay xấu đang thu hút sự chú ý. Mục đích không phải kể lại hay tả lại, mà là bày tỏ một quan điểm rõ ràng và chứng minh rằng quan điểm ấy có lí. Đây là một nhánh của văn nghị luận nói chung, mà các yếu tố cơ bản được giải thích ở bài giải nghĩa từ nghị luận và văn bàn luận ở trường.
Trong chương trình Ngữ văn mới, cái tên “nghị luận xã hội” ít khi in nguyên văn trên tiêu đề bài học. Sách gọi theo nhiệm vụ cụ thể: lớp 6 tập nêu ý kiến của mình về một hiện tượng quen thuộc, lớp 11 có bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí. Thầy cô và đề thi vẫn dùng chung một tên gọi để chỉ cả nhóm bài này.
Ba dạng đề nghị luận xã hội
| Dạng | Bàn về | Đề ví dụ |
|---|---|---|
| Tư tưởng, đạo lí | Một phẩm chất, quan niệm sống, thường qua câu tục ngữ, danh ngôn | “Uống nước nhớ nguồn”; lòng khoan dung; sống có ước mơ |
| Hiện tượng đời sống | Một việc đang xảy ra, tốt hoặc xấu, nhiều người quan tâm | Học sinh nghiện mạng xã hội; phong trào hiến máu; xả rác nơi công cộng |
| Vấn đề xã hội trong tác phẩm | Một vấn đề đời sống được gợi ra từ một văn bản đã học | Từ truyện Sống chết mặc bay, bàn về thói vô cảm |
Hai dạng đầu chiếm phần lớn đề kiểm tra. Dạng thứ ba dễ làm học sinh lúng túng vì có tác phẩm đi kèm, nhưng tác phẩm chỉ là cái cớ: phần lớn bài vẫn phải bàn về đời sống, không phân tích lại truyện. Với dạng tư tưởng, đạo lí, nhiều đề lấy một câu danh ngôn hay tục ngữ, nên bước giải thích nghĩa đen, nghĩa bóng của câu là bắt buộc.
Bốn dấu hiệu của một bài nghị luận xã hội
- Vấn đề nằm ngoài trang sách. Thứ được bàn là con người và xã hội: lòng biết ơn, sự trung thực, áp lực thi cử, rác thải nhựa. Nếu đề yêu cầu phân tích nhân vật, bài thơ, thì đó là nghị luận văn học, xem bài dấu hiệu và các dạng đề nghị luận văn học.
- Dẫn chứng lấy từ đời thật. Một tấm gương có tên tuổi, một sự kiện, một con số đáng tin, một trải nghiệm của chính người viết. Câu thơ có thể dùng, nhưng chỉ để minh họa thêm.
- Có một quan điểm được nói thẳng. Người viết phải cho thấy mình đồng tình hay phản đối, và đồng tình đến đâu. Bài chỉ liệt kê hiện tượng mà không đánh giá thì chưa phải nghị luận.
- Có đường đi của lập luận. Thường là giải thích vấn đề, bàn luận (đúng sai, nguyên nhân, tác hại hoặc lợi ích), xét mặt trái hoặc ý kiến ngược lại, rồi rút ra bài học, hành động của bản thân.
Dấu hiệu thứ tư là chỗ phân biệt bài khá với bài trung bình. Bài nào cũng giải thích và ca ngợi được; ít bài dám nêu phản đề, chẳng hạn khi viết về sự kiên trì thì chỉ ra ranh giới với sự cố chấp. Muốn rèn kĩ phần này, xem bài các thao tác lập luận và ví dụ trong SGK.
Đọc văn bản mẫu dưới góc nghị luận xã hội
Tinh thần yêu nước của nhân dân ta
Văn bản của Hồ Chí Minh, viết năm 1951, mở đầu bằng hai câu nêu thẳng vấn đề:
Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta.
Đây là cách đặt luận đề rõ ràng nhất: một nhận định về phẩm chất của cả dân tộc, đặt ngay câu đầu. Sau đó, tác giả đưa bằng chứng theo hai lớp: lịch sử chống ngoại xâm với các tên tuổi như Bà Trưng, Bà Triệu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, rồi đến những việc làm của mọi tầng lớp trong cuộc kháng chiến lúc bấy giờ. Kết thúc là một đề xuất hành động: phải làm cho lòng yêu nước được thể hiện bằng việc làm cụ thể. Giải thích, chứng minh, kêu gọi hành động, đủ cả bộ khung của một bài nghị luận về tư tưởng, đạo lí. Xem bài soạn văn bản về lòng yêu nước của nhân dân ta để đọc trọn văn bản.
Bàn về đọc sách
Chu Quang Tiềm bàn về một hoạt động rất đời thường: đọc sách. Ông không kể ông đã đọc gì, mà đặt ra ba câu hỏi lớn rồi lần lượt trả lời: vì sao phải đọc, chọn sách thế nào, đọc thế nào cho có ích. Lập luận dựa vào so sánh: đọc nhiều mà không chọn cũng như ăn nhiều mà không tiêu hóa được. Đây là ví dụ cho thấy nghị luận xã hội không chỉ bàn chuyện đạo đức lớn; một thói quen học tập cũng đủ làm đề tài nếu người viết có quan điểm và lí lẽ riêng. Phần đọc hiểu có ở bài soạn Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm.
Một đoạn văn học sinh tự viết
Đoạn sau bàn về chuyện dùng điện thoại trong bữa cơm, có đánh dấu các bước:
(1) Bữa cơm gia đình đang mất dần tiếng nói chuyện vì những chiếc điện thoại đặt cạnh bát cơm. (2) Đó là thói quen vừa ăn vừa lướt mạng, nhắn tin, xem video. (3) Thói quen này khiến bữa ăn chỉ còn là chuyện ăn cho no; cha mẹ không biết con ở trường ra sao, con không hay ông bà mệt thế nào. (4) Có người cho rằng chỉ xem một chút thì vô hại, nhưng “một chút” của năm người cộng lại là cả bữa cơm im lặng. (5) Nhà em đã thử để điện thoại ở phòng khách trước giờ ăn; tuần đầu hơi bứt rứt, sang tuần thứ hai thì bữa cơm dài hơn hẳn.
Câu (1) nêu vấn đề, câu (2) giải thích, câu (3) bàn tác hại, câu (4) đưa ra ý kiến ngược rồi bác bỏ, câu (5) là trải nghiệm thật và giải pháp. Đoạn ngắn mà đủ đường đi của lập luận.
Luyện nhận diện và triển khai đề
Câu 1: Trong ba đề sau, đề nào là nghị luận xã hội?
(a) Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ Đồng chí. (b) Suy nghĩ về câu tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn”. (c) Cảm nhận về khổ thơ đầu bài Mây và sóng.
Đáp án: (b). Đề (b) yêu cầu bàn về một đạo lí sống là lòng biết ơn. Đề (a) và (c) bàn về tác phẩm thơ, thuộc nghị luận văn học.
Câu 2: Đề “Hiện tượng sống ảo trên mạng xã hội của giới trẻ” thuộc dạng nào, thân bài cần những ý gì?
Đáp án: Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống. Thân bài cần (1) giải thích “sống ảo” và nêu biểu hiện cụ thể, (2) phân tích nguyên nhân, tác hại, đề xuất cách khắc phục. Bài tốt còn nên thừa nhận mặt tích cực của việc chia sẻ trên mạng để tránh nhìn một chiều.
Câu 3: Viết về lòng biết ơn, dẫn chứng nào phù hợp nhất?
(a) Một câu thơ tả cảnh thu. (b) Phong trào đền ơn đáp nghĩa, tặng nhà cho gia đình thương binh, liệt sĩ. (c) Một số liệu về dân số thế giới.
Đáp án: (b). Dẫn chứng phải chạm đúng vấn đề đang bàn và lấy từ thực tế. Câu thơ tả cảnh và số liệu dân số không chứng minh được gì cho lòng biết ơn.
Câu 4: Đoạn văn sau mắc lỗi gì?
“Hôm qua em đi học về thì thấy một bác lao công đang quét rác. Bác quét rất chăm chỉ. Em đứng xem một lúc rồi về nhà ăn cơm.”
Đáp án: Đoạn văn chỉ kể lại sự việc, không có quan điểm, không có lí lẽ. Để thành nghị luận, cần nêu nhận định (ví dụ: công việc thầm lặng của người lao công đáng được trân trọng), giải thích vì sao và rút ra bài học cho bản thân.
Từ đoạn 200 chữ đến bài văn hoàn chỉnh
Đoạn văn nghị luận xã hội khoảng 200 chữ viết thế nào?
Mở bằng một câu chủ đề nêu thẳng vấn đề và quan điểm. Phần giữa giải thích ngắn, đưa hai ba lí lẽ kèm một dẫn chứng, có thể thêm một câu phản đề. Câu cuối rút ra bài học hoặc hành động. Cả đoạn chỉ một khối, không xuống dòng.
Bài văn nghị luận xã hội có bố cục mấy phần?
Ba phần. Mở bài giới thiệu vấn đề; thân bài giải thích, bàn luận, chứng minh, xét mặt trái; kết bài khẳng định lại quan điểm và liên hệ bản thân. Với đề về hiện tượng, thân bài thường đi theo trình tự thực trạng, nguyên nhân, hậu quả, giải pháp.
Có được kể chuyện của bản thân trong bài nghị luận xã hội không?
Được, nếu câu chuyện là dẫn chứng cho lí lẽ. Một trải nghiệm thật, kể gọn trong hai ba câu, thường thuyết phục hơn những tấm gương chung chung. Tránh kể dài đến mức bài văn biến thành tự sự.
Muốn đọc bài nghị luận xã hội mẫu thì xem ở đâu?
Có thể bắt đầu từ mười bài mẫu bàn về một tư tưởng, đạo lí lớp 11. Khi đọc, đừng chép câu chữ, hãy gạch chân câu chủ đề và đánh dấu từng bước lập luận để học cách đi ý.