Luận điểm là ý kiến, quan điểm của người viết về vấn đề được bàn trong bài nghị luận; còn luận cứ là những lí lẽ và bằng chứng dùng để chống đỡ cho ý kiến ấy. Nói gọn: luận điểm trả lời “tôi nghĩ gì”, luận cứ trả lời “vì sao tôi nghĩ vậy”. Sách Ngữ văn mới ít dùng chữ luận cứ, thay bằng cặp lí lẽ và dẫn chứng (bằng chứng).
| Luận điểm | Luận cứ | |
|---|---|---|
| Nghĩa | Ý kiến của người viết về vấn đề đang bàn | Căn cứ để chứng minh ý kiến: lí lẽ và bằng chứng |
| Chữ Hán | 論點: luận (bàn) + điểm (chỗ, điểm mấu chốt) | 論據: luận (bàn) + cứ (dựa vào) |
| Trả lời câu hỏi | Người viết khẳng định điều gì? | Dựa vào đâu mà khẳng định thế? |
| Cách gọi trong sách mới | Vẫn là luận điểm | Lí lẽ + bằng chứng (dẫn chứng) |

Luận điểm là gì?
Từ điển tiếng Việt định nghĩa luận điểm là ý kiến, quan điểm có tính chất lí luận. Trong giờ văn, có thể hiểu đơn giản hơn: đó là những câu khẳng định mà người viết muốn người đọc tin theo. Chúng thường đứng ở đầu đoạn văn.
Bài nghị luận thường có một ý kiến lớn bao trùm và vài luận điểm nhỏ, mỗi luận điểm một đoạn ở thân bài. Ví dụ, bàn về việc học sinh có nên tự nấu ăn, người viết có thể đặt ba luận điểm: tự nấu ăn giúp sống tự lập; tự nấu ăn giúp hiểu và quý công sức cha mẹ; tự nấu ăn tiết kiệm và tốt cho sức khỏe hơn đồ ăn nhanh.
Luận điểm tốt là một câu khẳng định rõ ràng, đúng hướng với vấn đề, và không nói ngược các luận điểm khác trong bài. Những yêu cầu chung của kiểu văn này được tóm trong bài giải thích văn nghị luận gồm những yếu tố nào.
Luận cứ, lí lẽ và bằng chứng: ba tên gọi cho phần “làm chứng”
Nếu luận điểm là cái ta khẳng định, thì luận cứ là chỗ dựa để khẳng định. Từ điển tiếng Việt ghi luận cứ là căn cứ của lập luận, thường bằng sự thật, cũng là những phán đoán dùng để chứng minh cho luận đề. Chữ cứ ở đây chính là chữ cứ trong căn cứ, bằng cứ.
Luận cứ có hai loại, và sách mới gọi tên thẳng từng loại:
- Lí lẽ là lời giải thích, suy luận cho thấy vì sao ý kiến đúng. Ví dụ: “Khi tự nấu ăn, ta phải tự tính toán đi chợ, sơ chế, canh lửa, nên dần quen việc tự lo cho mình.”
- Bằng chứng (sách cũ hay gọi là dẫn chứng) là sự việc, số liệu, nhân vật, câu thơ có thật, kiểm chứng được. Ví dụ: “Bạn lớp trưởng lớp em từ năm lớp 6 đã tự nấu bữa sáng cho cả nhà mỗi khi mẹ đi làm sớm.”
Lí lẽ thiếu bằng chứng thì thành lí thuyết suông; bằng chứng thiếu lí lẽ thì chỉ là sự việc nằm cạnh nhau. Hai thứ phải đi cặp. Bằng chứng cũng cần kiểm lại được, chứ không phải “nghe nói”, “ai cũng biết”; phần phân biệt nhận định khách quan và chủ quan có gợi ý cách lọc.
Sách cũ và sách mới gọi khác nhau thế nào?
Chương trình cũ (trước 2018) dạy bộ ba luận điểm, luận cứ, lập luận; ở Ngữ văn 10 cũ còn có bài riêng về lập luận, tách luận cứ thành luận cứ lí lẽ và luận cứ thực tế. Sách theo chương trình 2018 (Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo, Cánh diều) chuyển sang bộ luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng. Nội dung gần như không đổi: luận cứ cũ tách thành lí lẽ và bằng chứng. Khi làm bài, cứ dùng đúng thuật ngữ của bộ sách mình đang học là an toàn nhất.
Đặt luận đề, luận điểm, luận cứ và lập luận lên cùng một bàn
| Khái niệm | Là gì | Câu hỏi để tìm | Ví dụ (đề: học sinh có nên tự nấu ăn?) |
|---|---|---|---|
| Luận đề | Vấn đề trung tâm cả bài bàn tới | Bài này nói về chuyện gì? | Học sinh tự nấu ăn |
| Luận điểm | Ý kiến của người viết về luận đề, chia thành các ý lớn nhỏ | Người viết khẳng định điều gì? | Tự nấu ăn giúp học sinh sống tự lập |
| Luận cứ (lí lẽ) | Lời giải thích vì sao luận điểm đúng | Tại sao lại như thế? | Phải tự lên thực đơn, đi chợ, nấu, dọn nên quen tự lo |
| Luận cứ (bằng chứng) | Sự việc, số liệu, tấm gương có thật | Lấy gì làm chứng? | Một bạn tự nấu bữa tối cho em khi bố mẹ đi làm ca |
| Lập luận | Cách sắp xếp luận điểm và luận cứ cho chặt chẽ | Các ý được nối với nhau ra sao? | Đi từ lợi ích cho bản thân đến lợi ích cho gia đình |
Dễ nhớ nhất là hình dung một ngôi nhà: luận đề là mảnh đất, luận điểm là cột, lí lẽ và bằng chứng là móng, lập luận là bản vẽ. Hai kiểu lập luận hay gặp là diễn dịch (ý chung trước, chứng minh sau) và quy nạp (đi từ trường hợp cụ thể đến ý chung).
Luận đề và luận điểm hay bị lẫn nhất. Luận đề chỉ nêu vấn đề, chưa có thái độ: “học sinh tự nấu ăn”. Luận điểm đã có ý kiến: “học sinh nên tự nấu ăn vì…”. Một câu chưa cho biết người viết đồng ý hay phản đối thì chưa phải là luận điểm.
Tách luận điểm, luận cứ trong văn bản SGK
Đoạn Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi) trong Ngữ văn 8 Cánh diều là văn bản luyện tách rất tốt. Sách bài tập xác định luận đề là tư tưởng nhân nghĩa vì dân, nêu ngay ở câu mở đầu: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Luận điểm chính là khẳng định nước Đại Việt là một quốc gia độc lập.
Để chống đỡ luận điểm ấy, Nguyễn Trãi đưa ra lí lẽ: nước ta có nền văn hiến từ lâu, có núi sông bờ cõi riêng, có phong tục Bắc Nam khác nhau, có các triều đại tự chủ và hào kiệt đời nào cũng có. Bằng chứng là các triều Triệu, Đinh, Lý, Trần xưng đế một phương, cùng những trận quân phương Bắc chuốc lấy thất bại. Muốn đối chiếu kĩ từng câu, xem bài soạn Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi.
Với văn bản hiện đại, Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm (Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo, Ngữ văn 9 Cánh diều) là bài luyện quen thuộc: tác giả lần lượt bàn tầm quan trọng của việc đọc, những cái khó khi đọc, rồi cách chọn sách và cách đọc. Mỗi phần ấy là một luận điểm. Tự tìm lí lẽ từng phần rồi so với phần soạn Bàn về đọc sách.
Viết một đoạn có đủ luận điểm và luận cứ
Khi viết, hãy dựng đoạn theo thứ tự: câu luận điểm, một đến hai câu lí lẽ, một câu bằng chứng, câu chốt. Đoạn tự viết dưới đây theo đúng khung ấy:
Lòng biết ơn khiến con người sống tử tế hơn. Người biết ơn luôn nhớ mình đã nhận được gì từ người khác, nên họ ít đòi hỏi và dễ tìm cách đáp lại. Một cô bạn lớp em, sau khi được thầy chủ nhiệm kèm môn Toán suốt kì nghỉ hè, đã tự nguyện mở nhóm học kèm cho các em lớp dưới. Cảm ơn bằng việc làm như thế đẹp hơn mọi lời nói.
Câu đầu là luận điểm. Câu thứ hai là lí lẽ. Câu thứ ba là bằng chứng. Câu cuối khép đoạn và nối về luận điểm. Ở bài hoàn chỉnh, mỗi đoạn thân bài lặp lại khung này với một luận điểm khác; có thể xem cách bố trí trong các bài mẫu nghị luận về tư tưởng, đạo lí.
Ba lỗi hay gặp: luận điểm viết thành câu hỏi hoặc câu cảm thán; dẫn chứng chép dài mà không giải thích; và nhiều luận điểm thực chất chỉ là một ý nói lại bằng chữ khác. Gạch chân câu luận điểm của từng đoạn; hai câu na ná nhau thì gộp lại.
Thắc mắc thường gặp khi tìm luận điểm, luận cứ
Luận cứ là gì, nói ngắn để dễ nhớ?
Luận cứ là căn cứ để chứng minh luận điểm, gồm lí lẽ (lời giải thích) và bằng chứng (sự việc, số liệu có thật). Sách Ngữ văn mới thường không dùng chữ luận cứ mà gọi thẳng là lí lẽ và bằng chứng.
Lí lẽ và dẫn chứng khác nhau thế nào?
Lí lẽ là suy luận, trả lời câu hỏi “tại sao”. Dẫn chứng (bằng chứng) là sự thật cụ thể, trả lời câu hỏi “lấy gì làm chứng”. Câu “đọc sách giúp mở rộng vốn từ vì ta gặp nhiều cách diễn đạt mới” là lí lẽ; câu “lớp em, nhóm đọc sách đều đặn có điểm viết trung bình cao hơn” là dẫn chứng.
Một bài văn nghị luận có bao nhiêu luận điểm?
Không có con số cố định. Bài ngắn ở cấp THCS thường có hai đến bốn luận điểm, mỗi luận điểm một đoạn. Điều quan trọng là các luận điểm cùng hướng về luận đề và không trùng ý nhau.
Luận điểm có phải là câu chủ đề của đoạn văn không?
Thường là vậy. Trong bài nghị luận, câu chủ đề của mỗi đoạn thân bài chính là một luận điểm nhỏ. Có đoạn đặt câu ấy ở cuối (lối quy nạp), nên khi tìm hãy đọc cả đoạn chứ đừng chỉ nhìn câu đầu.
Luận đề và luận điểm có giống nhau không?
Không. Luận đề là vấn đề được bàn, chưa có ý kiến; luận điểm là ý kiến của người viết về vấn đề đó. Một bài có một luận đề nhưng có thể có nhiều luận điểm.