Tóm tắt Người đàn ông cô độc giữa rừng giúp em nắm nhanh đoạn trích tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của nhà văn Đoàn Giỏi, kể về đêm bé An cùng tía nuôi đến thăm lều chú Võ Tòng giữa rừng sâu Nam Bộ. Văn bản mở đầu Bài 1 “Truyện ngắn và tiểu thuyết” sách Ngữ văn 7 Cánh diều (tập 1).
Bài viết có 7 mẫu: ngắn nhất, ngắn gọn, theo bố cục năm phần, chi tiết, theo lời chú Võ Tòng, tóm tắt cuộc đời Võ Tòng và tóm tắt theo trình tự sự việc. Phần tác giả, thể loại, bố cục được trình bày ở bài Người đàn ông cô độc giữa rừng (Đoàn Giỏi): tác giả, tác phẩm.

Sơ đồ tư duy tóm tắt Người đàn ông cô độc giữa rừng
Đoạn trích đan xen hai mạch kể: mạch hiện tại (đêm An và tía nuôi ngồi bên bếp lửa trong lều Võ Tòng cho đến sáng) và mạch quá khứ (cuộc đời Võ Tòng qua lời kể của người khác). Sơ đồ giúp em tách bạch hai mạch ấy.

Tóm tắt Người đàn ông cô độc giữa rừng ngắn nhất – mẫu 1
An theo tía nuôi đến lều của chú Võ Tòng giữa rừng. Võ Tòng từng là người nông dân chất phác, vì chém kẻ địa chủ ức hiếp mình mà phải ngồi tù, ra tù thì mất vợ mất con, đành vào rừng sống một mình, từng giết cả hổ. Đêm ấy, chú kể chuyện diệt giặc Pháp rồi trao cho tía nuôi An cây nỏ và ống tên thuốc độc để cùng đánh giặc, chỉ nói rằng đó là vì nghĩa chung.
Tóm tắt văn bản Người đàn ông cô độc giữa rừng ngắn gọn – mẫu 2
Bé An ngủ say trên xuồng, khi tỉnh dậy thì thấy xuồng đã cập bến nhà chú Võ Tòng. Trong căn lều tối, tía nuôi An và chú Võ Tòng đang ngồi uống rượu bên bếp cà ràng, cạnh hai chiếc nỏ. Võ Tòng ở trần, mặc quần lính Pháp, đeo lưỡi lê, đưa cho An miếng khô nai nướng. Nhìn chú, An nhớ lại những gì nghe kể: chẳng ai biết tên thật của chú; hơn mười năm trước, chú bơi xuồng đến dựng lều giữa rừng, từng một mình đâm chết hổ chúa, để lại vết sẹo dài trên mặt. Ngày trước, chú là người hiền lành, vì đi xin mụt măng cho vợ đang mang thai mà bị kẻ giàu có quyền thế trong xã đổ tội ăn trộm, đánh vào đầu; chú chém trả rồi tự ra nộp mình. Mười năm tù trở về, vợ đã làm lẽ tên địa chủ, con đã chết, chú bỏ làng đi biệt. Trở lại đêm ấy, Võ Tòng kể chuyện giết giặc Pháp cướp súng với giọng bỡn cợt pha buồn. Trời sáng, chú trao nỏ và tên thuốc cho tía nuôi An để chuẩn bị đánh giặc, chỉ đáp rằng vì nghĩa chung, rồi cười lớn vẫy tay tiễn khách.
Tóm tắt Người đàn ông cô độc giữa rừng theo bố cục – mẫu 3
Phần 1 – Đến lều Võ Tòng: An tỉnh dậy trên xuồng, lần theo những bậc gỗ lên lều. Trong lều có con vượn bạc má, bếp lửa cháy riu riu, chai rượu, đĩa khô và hai cây nỏ.
Phần 2 – Hình dáng Võ Tòng và căn lều: Võ Tòng cởi trần, mặc quần ka ki lính Pháp, đeo lưỡi lê, thắt xanh-tuya-rông. Chú niềm nở mời An ăn khô nai. Căn lều đầy mùi khói, mùi lông thú, khiến An có cảm giác như lạc về thời nguyên thủy.
Phần 3 – Cuộc đời Võ Tòng: qua lời má nuôi và người đời, An biết về quá khứ của Võ Tòng: một mình giết hổ chúa; từng bị địa chủ vu oan, chém trả rồi ra nộp mình; ngồi tù mười năm, về thì vợ đã theo kẻ thù, đứa con cũng không còn; chú vào rừng sống cô độc nhưng tốt bụng, hay giúp người.
Phần 4 – Câu chuyện bên bếp lửa: Võ Tòng chê súng ồn ào, kể chuyện dùng nỏ hạ tên lính Pháp, cướp tiểu liên. Giọng chú bỡn cợt mà phảng phất nỗi buồn.
Phần 5 – Chia tay: trời sáng, Võ Tòng trao nỏ và ống tên độc cho tía nuôi An vì tin anh là người can trường. Hai người hẹn cùng đánh giặc; An chào chú, chú cười lớn vẫy tay.
Tóm tắt Người đàn ông cô độc giữa rừng chi tiết – mẫu 4
An ngủ một giấc dài trên xuồng. Khi mở mắt, cậu thấy xuồng đã buộc vào gốc tràm, nghe tiếng người trò chuyện trên bờ và biết đã đến nhà chú Võ Tòng. Cậu men theo bậc gỗ lên lều. Bên trong, con vượn bạc má kêu inh ỏi, tía nuôi và chú Võ Tòng ngồi trên hai gộc cây bên bếp cà ràng, trên bếp có nồi đất đậy kín, dưới đất là chai rượu đã vơi, đĩa khô nướng và hai chiếc nỏ gác chéo.
Võ Tòng kéo thêm một gộc cây mời An ngồi. Chú ở trần, mặc chiếc quần lính Pháp nhiều túi, hông đeo lưỡi lê, thắt cả xanh-tuya-rông. An không còn sợ chú như lần đầu, trái lại thấy có cảm tình và hơi buồn cười. Chú đưa An thỏi khô nai to nhất. Vừa nhai miếng khô thơm mùi sả, An vừa ngắm căn lều nồng mùi lông thú và khói thuốc, có cảm giác những người ngồi quanh bếp như đang sống ở thời con người mới tìm ra lửa.
An nhớ lại những điều đã nghe về Võ Tòng. Tên thật của chú chẳng ai hay. Mười mấy năm trước, chú chèo chiếc xuồng nát đến dựng lều nơi rừng sâu nhiều thú dữ, sống một mình không cả con chó làm bạn. Có lần, đang ngủ trưa, chú bị hổ chúa vồ; chú nằm ngửa mà đâm lưỡi mác xuyên hàm con hổ, đạp nó ra, song mặt vẫn hằn một vệt sẹo kéo dài xuống tận cổ. Người ta còn kể rằng ngày xưa chú là một trai làng hiền lành, có vợ xinh đẹp. Khi vợ mang thai thèm ăn măng, chú xin một mụt măng ở bụi tre đình làng, về ngang nhà tên địa chủ thì bị hắn vu là ăn trộm và đánh bằng ba toong vào đầu. Không chịu được nỗi nhục bị đánh lên đầu, chú chém trả khiến hắn gục xuống, rồi tự mình mang dao tới nhà việc thú tội. Mười năm tù trở về, chú hay tin vợ đã về làm vợ lẽ kẻ thù, còn đứa con chưa từng gặp mặt thì đã mất. Dân làng chờ một cuộc báo thù, nhưng chú chỉ kêu trời một tiếng, cười nhạt rồi bỏ đi. Từ đó, chú sống trong rừng, người đầy hình xăm, giỏi võ, không màng chuyện vợ con, nhưng ai cũng quý vì chú chất phác, sẵn lòng giúp người mà chẳng cần ai đền đáp.
Đêm ấy bên bếp lửa, Võ Tòng nói với tía nuôi An rằng con dao găm và cây nỏ là đủ làm nên chuyện; chú bảo mình chẳng ưa tiếng súng, rồi thuật lại lần dùng nỏ hạ một tên lính Pháp, lấy cây tiểu liên mà đồng bọn của hắn không hay biết. Giọng chú bỡn cợt nhưng thoảng nỗi buồn chua chát. Trời rạng sáng, chim rừng bắt đầu hót, chú giao cây nỏ cùng ống tên tẩm thuốc độc cho tía nuôi An, nói tin anh là người gan dạ nên mới gửi gắm. Tía nuôi An cảm ơn, chú gạt đi, bảo đó là vì nghĩa chung. Lúc xuồng rời bến, An xin chú lần sau mang sang một con nai nhỏ; Võ Tòng cười vang, vẫy tay hứa hẹn.
Tóm tắt Người đàn ông cô độc giữa rừng theo lời chú Võ Tòng – mẫu 5
Đêm ấy, anh Hai cùng thằng bé An ghé lều tôi giữa rừng. Thằng nhỏ ngủ quên dưới xuồng, tới khuya mới lên. Tôi kéo gộc cây cho nó ngồi, đưa nó miếng khô nai nướng. Bên bếp lửa, tôi và anh Hai uống rượu, bàn chuyện đánh giặc. Tôi kể cho anh nghe bữa tôi dùng cây nỏ hạ một thằng lính Pháp, xách cây tiểu liên của nó chạy vô rừng; tôi vốn ghét súng ồn ào, nỏ với dao là đủ rồi. Đời tôi có lắm chuyện buồn, mười năm tù đày, vợ con chẳng còn, nhưng tôi không muốn nhắc. Trời sáng, tôi trao cho anh Hai cây nỏ và ống tên thuốc, vì tôi tin anh là người gan dạ, giặc sắp kéo tới đây rồi. Anh cảm ơn, tôi bảo có chi đâu, vì nghĩa chung mà. Thằng An lúc xuống xuồng còn dặn tôi nhớ đem cho nó con nai nhỏ, tôi cười mà hứa ngay.
Tóm tắt cuộc đời nhân vật Võ Tòng – mẫu 6
Thuở trước, Võ Tòng là người nông dân hiền lành ở một miền quê xa, có vợ đẹp và sắp có con đầu lòng. Vì vợ thèm măng, anh đi xin mụt măng tre đình làng, bị tên địa chủ quyền thế vu là ăn trộm và đánh vào đầu. Anh chém trả kẻ ác, rồi đường hoàng ra nhận tội. Sau mười năm tù, anh về làng thì vợ đã về làm vợ lẽ kẻ thù, đứa con trai chưa từng gặp đã mất. Anh không báo thù, chỉ cười nhạt bỏ đi, rồi một mình vào sống giữa rừng sâu, từng tay không giết chết hổ chúa và mang vết sẹo dài trên mặt. Người ta gọi anh là Võ Tòng, như tên vị anh hùng đánh hổ trong truyện cổ. Dù cô độc và kì dị, Võ Tòng vẫn chất phác, tốt bụng, hay giúp người. Khi giặc Pháp đến, chú tự mình đánh giặc bằng nỏ và dao, rồi trao vũ khí cho tía nuôi An để cùng chiến đấu vì nghĩa chung.
Tóm tắt Người đàn ông cô độc giữa rừng theo trình tự sự việc – mẫu 7
- An tỉnh dậy trên xuồng, theo bậc gỗ lên lều chú Võ Tòng.
- Cảnh trong lều: vượn bạc má, bếp cà ràng, rượu, khô nai, hai cây nỏ; Võ Tòng mời An ăn khô.
- An hồi tưởng cuộc đời Võ Tòng: giết hổ chúa; chém tên địa chủ, đi tù; mất vợ con, vào rừng sống một mình.
- Võ Tòng kể chuyện dùng nỏ hạ lính Pháp, cướp tiểu liên.
- Trời sáng, Võ Tòng trao nỏ và tên thuốc độc cho tía nuôi An để đánh giặc.
- Cha con An chào từ biệt, Võ Tòng cười lớn vẫy tay.
Kết luận
Khi tóm tắt Người đàn ông cô độc giữa rừng, em cần giữ đủ hai mạch: câu chuyện đêm thăm lều Võ Tòng và quá khứ của nhân vật. Mẫu 1, 2 phù hợp đề tóm tắt ngắn; mẫu 4 dùng khi cần làm rõ tính cách Võ Tòng; mẫu 6 hữu ích khi viết bài phân tích nhân vật.
Xem thêm:
- Soạn bài Người đàn ông cô độc giữa rừng – Ngữ văn 7 Cánh diều
- Người đàn ông cô độc giữa rừng (Đoàn Giỏi): tác giả, tác phẩm
- Tóm tắt Đất rừng phương Nam (Đoàn Giỏi)