Trận Lê-pan-tô ngày 7/10/1571 có một người lính Tây Ban Nha hai mươi bốn tuổi đang lên cơn sốt vẫn xin ra chiến đấu, trúng ba phát đạn hỏa mai, bàn tay trái tàn phế từ đó. Người lính ấy là Xéc-van-tét, và ba mươi bốn năm sau, ông cho ra đời Đôn Ki-hô-tê. Xéc-van-tét (Miguel de Cervantes Saavedra, 1547 – 1616) là nhà văn Tây Ban Nha, tác giả bộ tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê, cuốn sách thường được coi là tiểu thuyết hiện đại đầu tiên của châu Âu; tiếng Tây Ban Nha vẫn được gọi là “ngôn ngữ của Xéc-van-tét”.
Con trai một thầy thuốc nghèo ở An-ca-la đê Ê-na-rết

| Tên đầy đủ | Miguel de Cervantes Saavedra; SGK phiên âm Mi-ghen đơ Xéc-van-tét |
| Năm sinh – năm mất | 1547 (rửa tội ngày 9/10/1547) – 22/4/1616 |
| Quê | An-ca-la đê Ê-na-rết (Alcalá de Henares), gần Ma-đrít, Tây Ban Nha |
| Nghề nghiệp | Lính thủy quân, viên chức thu mua và thu thuế, nhà văn |
| Thể loại | Tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, thơ |
| Tác phẩm tiêu biểu | La Galatea (1585), Đôn Ki-hô-tê (phần I năm 1605, phần II năm 1615), Truyện gương mẫu (1613), Hành trình lên núi Pác-na-xơ (1614), Persiles và Sigismunda (in năm 1617) |
| Biệt danh | El manco de Lepanto (người tật tay ở Lê-pan-tô) |
| Trong SGK | Đánh nhau với cối xay gió, trích Đôn Ki-hô-tê (Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 2) |
Ngày sinh chính xác của Xéc-van-tét không còn giấy tờ; người ta chỉ có sổ rửa tội ngày 9/10/1547 ở nhà thờ Santa María la Mayor. Nhiều nhà nghiên cứu đoán ông sinh ngày 29/9, ngày lễ thánh Mi-ca-en, vì ông mang tên thánh ấy. Cha ông, Rô-đri-gô đơ Xéc-van-tét, là một thầy thuốc chữa bệnh hạng thấp (cirujano, gần với thầy lang, thợ băng bó hơn là bác sĩ học đại học), nghèo, nợ nần, từng bị giam vì nợ. Ông mang cả nhà đi khắp các thành phố Tây Ban Nha để tìm việc: Va-gia-đô-lít, Coóc-đô-ba, Xê-vi-gia, Ma-đrít.
Việc học của ông vì thế rời rạc. Tài liệu chắc chắn duy nhất cho thấy năm 1568, ở Ma-đrít, ông là học trò của nhà nhân văn Hoan Lô-pết đê Ô-y-ốt, người đã in mấy bài thơ đầu tiên của ông trong một tập văn tưởng niệm hoàng hậu.
Người lính trận Lê-pan-tô
Năm 1569 ông sang Ý. Một lệnh bắt giữ được ban ra ở Ma-đrít cùng năm ấy đối với một người tên Miguel de Cervantes vì đã gây thương tích cho người khác trong một cuộc đấu kiếm; nhiều người tin đó chính là ông, dù chưa chắc chắn. Ở Rô-ma, ông làm người hầu cận cho một vị hồng y, rồi gia nhập thủy quân Tây Ban Nha đóng ở Na-plơ.
Trận Lê-pan-tô năm 1571 là niềm tự hào lớn nhất đời ông. Hơn bốn mươi năm sau, trong lời tựa phần II Đôn Ki-hô-tê, ông vẫn gọi đó là dịp lớn lao nhất mà các thế kỷ đã qua, hiện tại và cả tương lai từng được chứng kiến, và ông chưa bao giờ tiếc vết thương ấy. Hai phát đạn trúng ngực, một phát làm bàn tay trái ông tàn phế; tay không bị cụt nhưng không cử động được nữa. Bị thương nhưng ông vẫn ở lại quân ngũ thêm mấy năm, tham gia các chiến dịch ở Na-va-ri-nô, Tuy-nít.
Năm năm tù binh ở An-giê và bốn lần vượt ngục
Ngày 26/9/1575, trên đường về Tây Ban Nha cùng em trai Rô-đri-gô, chiếc thuyền Sol của ông bị cướp biển vùng Bắc Phi tấn công. Hai anh em bị bắt đưa về An-giê. Trong người ông có thư tiến cử của Đôn Hoan đờ Áo-xtri-a, em trai cùng cha khác mẹ của vua Tây Ban Nha; bọn cướp tưởng bắt được nhân vật quan trọng nên đòi tiền chuộc rất cao. Người nhà chỉ gom đủ tiền chuộc người em.
Năm năm ở An-giê, Xéc-van-tét tổ chức bốn lần vượt ngục, lần nào cũng thất bại, và lần nào cũng nhận hết trách nhiệm về mình để che cho bạn tù. Lạ là ông không bị xử tử, điều đến nay vẫn được các nhà viết tiểu sử bàn cãi. Ngày 19/9/1580, các tu sĩ dòng Ba Ngôi chuộc được ông với giá năm trăm đồng ê-cu vàng, đúng lúc ông sắp bị đưa sang Công-xtan-ti-nốp. Ký ức tù đày đi vào nhiều tác phẩm: vở kịch Cuộc sống ở An-giê và câu chuyện “Người tù” trong phần I Đôn Ki-hô-tê.
Viên chức thu thuế và những lần ngồi tù
Trở về nước, người cựu binh ba mươi ba tuổi không được triều đình đền đáp như mong đợi. Năm 1584 ông cưới Ca-ta-li-na đê Xa-la-xa, một cô gái kém ông gần hai mươi tuổi ở làng Ét-ki-vi-át; năm sau in tiểu thuyết đồng quê La Galatea và viết một số vở kịch, phần lớn đã thất lạc.
Văn chương không đủ sống. Từ năm 1587, ông làm viên chức thu mua lúa mì, dầu ô liu cho Hạm đội Tây Ban Nha (Armada) ở vùng An-đa-lu-xi-a, rồi đi thu thuế. Công việc này mang lại cho ông nhiều rắc rối: có lần bị giáo hội rút phép thông công vì trưng thu thóc của nhà thờ; năm 1597, ông bị giam ở nhà tù Xê-vi-gia vì số tiền thuế gửi ở một ngân hàng bị vỡ nợ. Trong lời tựa phần I Đôn Ki-hô-tê, ông viết rằng cuốn sách được sinh ra trong một nhà tù; từ đó nhiều người tin ông đã nghĩ ra nhà hiệp sĩ trong những ngày ở Xê-vi-gia.
Đôn Ki-hô-tê: hai phần, mười năm và một cuốn sách giả
Phần I của bộ tiểu thuyết, nhan đề Nhà quý tộc tài ba Đôn Ki-hô-tê xứ Man-sa, ra mắt ở Ma-đrít đầu năm 1605. Một nhà quý tộc nghèo xứ La Man-sa đọc tiểu thuyết hiệp sĩ đến mụ cả người, tự phong mình là hiệp sĩ, cưỡi con ngựa còm Rô-xi-nan-tê, kéo bác nông dân Xan-chô Pan-xa theo làm giám mã, lên đường đi “cứu khốn phò nguy” vì nàng Đuyn-xi-nê-a mà chỉ mình ông tưởng tượng ra. Sách được đón nhận ngay và in lại nhiều lần.
Năm 1614, khi Xéc-van-tét còn đang viết phần II, một người ký tên Avellaneda (đến nay chưa ai biết là ai) tung ra một phần II giả. Xéc-van-tét đáp trả theo cách riêng: trong phần II thật in năm 1615, các nhân vật của ông đã đọc phần I, biết đến cuốn sách giả và chế giễu nó, Đôn Ki-hô-tê còn đổi lộ trình chỉ để chứng minh cuốn sách kia nói sai.
Chính trò chơi ấy, nhân vật biết mình là nhân vật, sách bàn về sách, làm cho Đôn Ki-hô-tê vượt xa một truyện giễu nhại tiểu thuyết hiệp sĩ. Hai nhân vật chính bổ sung cho nhau: một người sống bằng ảo tưởng cao thượng, một người bám chặt vào cái ăn cái mặc; càng về cuối, Ki-hô-tê càng tỉnh táo hơn, còn Xan-chô lại mơ mộng hơn.
Đánh nhau với cối xay gió trong sách giáo khoa Ngữ văn 8
Đoạn trích trong sách Ngữ văn 8 Cánh diều thuộc chương VIII phần I: giữa cánh đồng Môn-ti-ên có ba bốn chục chiếc cối xay gió, Đôn Ki-hô-tê tin đó là những tên khổng lồ, mặc Xan-chô can ngăn, thúc ngựa lao vào, ngọn giáo mắc vào cánh quạt, cả người lẫn ngựa văng ra. Cảnh này đã thành hình ảnh tượng trưng: “đánh nhau với cối xay gió” nay là thành ngữ ở nhiều thứ tiếng, chỉ việc chống lại những kẻ thù tưởng tượng.
| Bộ sách, vị trí | Bài học trên Văn VN |
|---|---|
| Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 2, Bài 8 (Truyện lịch sử và tiểu thuyết) | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Tóm tắt · Phân tích |
Khi đọc đoạn trích, em nên để ý cách Xéc-van-tét đặt hai nhân vật cạnh nhau: cùng nhìn một cảnh, người thấy khổng lồ, người thấy cối xay. Tiếng cười nảy ra từ chỗ lệch ấy, nhưng sau tiếng cười là sự thương cảm với một con người dũng cảm đặt nhầm chỗ.
Ngày 23 tháng 4 và di sản mang tên Xéc-van-tét

Những năm cuối đời, sống ở Ma-đrít, Xéc-van-tét viết nhiều nhất: tập Truyện gương mẫu (1613), trường ca Hành trình lên núi Pác-na-xơ (1614), phần II Đôn Ki-hô-tê (1615). Ngày 19/4/1616, đã biết mình sắp chết, ông viết lời đề tặng cho cuốn tiểu thuyết cuối cùng Persiles và Sigismunda, mở đầu bằng câu “đã đặt một chân lên bàn đạp”. Ông mất ngày 22/4/1616 và được chôn ngày hôm sau ở tu viện các nữ tu dòng Ba Ngôi tại Ma-đrít. Năm 2015, nhóm nghiên cứu của nhà pháp y Francisco Etxeberria công bố rằng trong số xương cốt lẫn lộn ở hầm mộ tu viện này rất có thể có một phần di cốt của ông và vợ, dù chưa có xét nghiệm ADN xác nhận.
Ngày 23/4 thường được ghi là ngày mất của cả Xéc-van-tét lẫn Sếch-xpia, vì thế UNESCO chọn ngày này làm Ngày Sách và Bản quyền thế giới từ năm 1995. Thực ra hai ông không mất cùng một ngày: Xéc-van-tét mất ngày 22, chôn ngày 23 theo lịch Gregory; còn ngày 23/4 của Sếch-xpia tính theo lịch Julius mà nước Anh khi ấy còn dùng, tức muộn hơn khoảng mười ngày.
Tên ông nay ở khắp nơi trong đời sống văn hóa Tây Ban Nha: giải thưởng Xéc-van-tét, giải văn chương lớn nhất của thế giới nói tiếng Tây Ban Nha, trao hằng năm từ 1976 vào đúng ngày 23/4; Viện Xéc-van-tét, lập năm 1991, quảng bá tiếng Tây Ban Nha ra thế giới. Năm 2002, khi Câu lạc bộ sách Na Uy mời một trăm nhà văn từ hơn năm mươi nước chọn những tác phẩm hư cấu lớn nhất, Đôn Ki-hô-tê là cuốn duy nhất được xếp riêng ở vị trí đầu. Một người lính tật tay, nhiều lần ngồi tù, chết trong nghèo túng, để lại một hiệp sĩ gầy gò cưỡi ngựa còm mà bốn thế kỷ nay người đọc vẫn vừa cười vừa thương.