Cả đời cầm quân của ông còn lại cho văn học đúng một bài thơ tám câu. Đặng Dung (1373? – 1414) là tướng nhà Hậu Trần, con trai Quốc công Đặng Tất, người cùng vua Trùng Quang chống quân Minh suốt năm năm cho đến khi bị bắt và chết trên đường bị giải sang phương Bắc. Bài thơ chữ Hán Cảm hoài (Nỗi lòng) của ông, với câu “Quốc thù vị báo đầu tiên bạch” (thù nước chưa trả mà đầu đã bạc), được học ở Ngữ văn 12.
Con trai Quốc công Đặng Tất

| Tên | Đặng Dung (鄧容) |
| Năm sinh – năm mất | Thường ghi 1373 – 1414 (năm sinh theo Wikipedia và thư mục Thư viện Quốc hội Mỹ; nhiều sách ghi chưa rõ năm sinh; có tài liệu ghi năm mất 1413) |
| Quê | Làng Tả Hạ, xã Phù Lưu, huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An xưa; trước năm 2025 là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh |
| Gia đình | Con trưởng của Quốc công Đặng Tất, tướng nhà Hậu Trần |
| Chức vụ | Đồng bình chương sự dưới triều vua Trùng Quang (Trần Quý Khoáng) |
| Thể loại | Thơ chữ Hán (thất ngôn bát cú Đường luật) |
| Tác phẩm tiêu biểu | Cảm hoài (còn gọi Thuật hoài), bài thơ duy nhất còn lại |
| Trong SGK | Cảm hoài – Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập một |
Cha ông, Đặng Tất, làm quan từ cuối Trần sang triều Hồ, từng giữ đất Hóa Châu ở phía nam. Năm 1407 nhà Minh diệt nhà Hồ; cuối năm ấy, Trần Ngỗi, con vua Trần Nghệ Tông, lên ngôi ở Tràng An xưng là Giản Định đế, rồi phải chạy vào Nghệ An. Đặng Tất giết quan Minh, đem quân từ Hóa Châu ra theo phò, được phong Quốc công. Hai cha con họ Đặng từ đó gắn đời mình với nhà Hậu Trần, một triều đại chỉ sống được bảy năm.
Năm 1409: cái chết của Đặng Tất và vị vua mới
Cuối năm 1408, quân Hậu Trần thắng lớn quân Minh ở Bô Cô (vùng Ý Yên, Nam Định cũ). Nhưng ngay sau chiến thắng, nghe lời gièm rằng Đặng Tất chuyên quyền, Giản Định đế đem lòng ngờ vực và giết Đặng Tất cùng tướng Nguyễn Cảnh Chân (sử chép việc này vào năm 1409).
Đặng Dung không trả thù bằng cách bỏ cuộc. Ông cùng Nguyễn Cảnh Dị, con trai Nguyễn Cảnh Chân, đem quân Thuận Hóa ra Thanh Hóa đón Trần Quý Khoáng, cháu nội vua Nghệ Tông, về Nghệ An lập làm vua, niên hiệu Trùng Quang. Ông được giữ chức Đồng bình chương sự, tức hàng tể tướng. Về sau hai vua Trần còn có lúc hợp sức, Giản Định được tôn làm Thượng hoàng, nhưng Giản Định sớm bị quân Minh bắt.
Quyết định năm 1409 nói khá rõ con người Đặng Dung: thù nhà có thật, nhưng thù nước lớn hơn. Đó cũng chính là ý của câu thơ nổi tiếng nhất ông để lại.
Đêm Sái Già năm 1413
Từ 1410, quân Hậu Trần đánh lúc thắng lúc thua, dần bị đẩy lùi vào phía nam. Năm 1412, ở trận Mô Độ (Nghệ An), Đặng Dung cùng Nguyễn Súy, Nguyễn Cảnh Dị chặn quân Trương Phụ; khi hai tướng kia rút đi, ông thế cô phải vượt biển lui về. Năm 1413 nhà Hậu Trần chỉ còn giữ đất Hóa Châu.
Tháng 9 năm 1413, ở cửa sông Thái Gia (sử thường gọi trận Sái Già), Đặng Dung và Nguyễn Súy đem quân đánh úp doanh trại Trương Phụ ban đêm. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Đặng Dung nhảy được lên thuyền của Trương Phụ định bắt sống, nhưng không biết mặt, nên Phụ kịp nhảy sang thuyền nhỏ chạy thoát; quân Minh vỡ quá nửa, thuyền bè khí giới bị đốt gần hết. Thấy quân Đặng Dung ít, Trương Phụ quay lại phản công, quân Hậu Trần tan.
Sử thần Ngô Sĩ Liên, khi bàn về trận này trong Toàn thư, viết rằng đánh úp doanh trại giặc ban đêm, làm tướng giặc phải chạy, đốt hết thuyền bè khí giới, nếu không thật có tài làm tướng thì sao làm được; cuối cùng vẫn thua là do trời, và ông chốt lại bằng bốn chữ “tuy bại diệc vinh” (tuy thua mà vẫn vẻ vang). Lời bàn ấy giải thích vì sao một trận đánh rốt cuộc vẫn thua lại được sử cũ chép kỹ đến vậy.
Bị bắt và cái chết trên đường giải sang phương Bắc
Sau Sái Già, quân Hậu Trần chỉ còn lẩn trong rừng núi. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng 11 năm 1413 Nguyễn Cảnh Dị và Đặng Dung bị quân Trương Phụ bắt (báo Hà Tĩnh và một số tài liệu khác ghi thời điểm bị bắt là đầu năm 1414). Nguyễn Cảnh Dị chửi mắng Trương Phụ không ngớt nên bị giết. Vua Trùng Quang, Nguyễn Súy rồi cũng bị bắt; đến tháng 4 năm 1414, vua tôi bị giải sang Yên Kinh.
Về cái chết của ông, các nguồn không hoàn toàn khớp nhau. Đại Việt sử ký toàn thư chỉ ghi rõ vua Trùng Quang và Nguyễn Súy nhảy xuống nước tự tận giữa đường. Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim chép sau khi vua nhảy xuống nước, Đặng Dung và các tướng cũng tử tiết; báo Hà Tĩnh và nhiều sách phổ thông kể rõ ông gieo mình xuống sông tuẫn tiết theo vua. Còn Wikipedia tiếng Việt dẫn Minh thực lục (sử nhà Minh) chép anh em Đặng Dung bị giải về kinh đô rồi bị xử chém. Năm mất vì vậy có nơi ghi 1413, có nơi ghi 1414; bài viết theo cách ghi phổ biến trong sách Việt Nam là năm 1414.
Điểm chung của mọi cách chép là ông không đầu hàng. Trong một thời mà nhiều quan lại ra làm việc cho chính quyền đô hộ, chừng ấy đã đủ để tên ông được nhắc cùng những người tuẫn tiết vì nước.
Cảm hoài, bài thơ duy nhất còn lại
Không rõ ông viết bài thơ vào lúc nào; người đời sau thường đặt nó vào những năm cuối của cuộc kháng chiến, khi việc lớn đã thấy khó thành. Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, nguyên văn phiên âm:
Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.
Dịch nghĩa gọn: việc đời dằng dặc mà mình đã già, biết làm sao; trời đất mênh mông, đành say mà hát. Gặp thời thì kẻ bán thịt, người câu cá cũng dễ lập công; lỡ vận thì người anh hùng phải nuốt hận nhiều. Muốn giúp chúa thì có lòng xoay trục đất, muốn rửa giáp binh thì không đường kéo sông trời xuống. Thù nước chưa trả mà đầu đã bạc, bao lần mài gươm Long Tuyền dưới trăng.
Bài thơ được chuộng vì nó không than mà vẫn buồn, không hô hào mà vẫn hùng. Câu thứ ba, thứ tư dùng điển những người hàng thịt, câu cá (Phàn Khoái, Hàn Tín, Lã Vọng) gặp thời mà nên nghiệp; hai câu kết là hình ảnh một người tóc đã bạc vẫn mài gươm. Bài thơ có nhiều bản dịch: bản lưu hành rộng rãi mở đầu bằng câu “Việc đời bối rối tuổi già vay” (thường ghi của Phan Kế Bính), Wikisource chép bản dịch của Tản Đà, còn sách Ngữ văn 12 Kết nối tri thức dùng bản dịch của Nguyễn Khắc Phi. Tên bài cũng có hai cách gọi: Cảm hoài (感懷) hoặc Thuật hoài (述懷), đều có nghĩa là bày tỏ nỗi lòng. Đọc lời dịch đầy đủ và phần đọc hiểu ở trang Cảm hoài (Đặng Dung).
Cảm hoài trong chương trình Ngữ văn 12
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Cảm hoài (Nỗi lòng) | Ngữ văn 12 Kết nối tri thức, tập một, Bài 2: Những thế giới thơ | Đọc hiểu, tác giả – tác phẩm · Phân tích |
Khi học, nên đặt Cảm hoài bên cạnh Tỏ lòng (Thuật hoài) của Phạm Ngũ Lão: cùng là thơ nói chí của võ tướng, nhưng một bài viết lúc hào khí Đông A lên cao nhất, một bài viết lúc triều Trần đã ở chặng cuối. Vẻ đẹp bi tráng của Cảm hoài nằm ở chỗ khoảng cách giữa chí lớn và thời vận được nói thẳng ra, không giấu.
Đền thờ Đặng Tất – Đặng Dung ở quê hương, xã Tùng Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh), được xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa quốc gia từ năm 1991 và đã được trùng tu. Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược nhận xét cha con họ Đặng đều hết lòng giúp nước phò vua, tuy không thành công nhưng lòng trung liệt đủ làm người đời sau tưởng nhớ. Cũng thời ấy, ở một ngả khác, Nguyễn Trãi đang đi tìm minh chủ; mấy năm sau ông gặp Lê Lợi, và cuộc kháng chiến mà Đặng Dung bỏ dở đã được nối lại.