Soạn bài Những tình huống hiểm nghèo giúp em hoàn thành hai câu hỏi chuẩn bị đọc, ba câu hỏi trải nghiệm cùng văn bản và sáu câu hỏi suy ngẫm, phản hồi ở trang 36 – 39, Bài 2 (Bài học cuộc sống), sách Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo tập một. Văn bản ghép hai truyện ngụ ngôn nước ngoài: Hai người bạn đồng hành và con gấu của Ê-dốp (Hy Lạp cổ đại) và Chó sói và chiên con của La Phông-ten (Pháp), bản dịch thơ của Tú Mỡ.
Tìm hiểu chung về văn bản Những tình huống hiểm nghèo
Trước khi soạn, em nắm nhanh vài thông tin về tác giả, xuất xứ và thể loại của hai truyện.

- Tác giả: Ê-dốp (khoảng thế kỉ VI trước Công nguyên) là nhà kể chuyện ngụ ngôn nổi tiếng nhất Hy Lạp cổ đại; La Phông-ten (1621 – 1695) là nhà thơ Pháp, tác giả tập Ngụ ngôn lừng danh.
- Xuất xứ: truyện của Ê-dốp rút từ cuốn Truyện ngụ ngôn Ê-dốp, bản dịch Phạm Khải Hoàn; truyện của La Phông-ten rút từ tập Ngụ ngôn chọn lọc La Phông-ten, Tú Mỡ dịch thơ.
- Thể loại: truyện ngụ ngôn – truyện thứ nhất viết bằng văn xuôi, truyện thứ hai là ngụ ngôn bằng thơ.
- Bố cục: hai phần ứng với hai truyện – trước là chuyện hai người bạn gặp gấu, sau là chuyện sói và chiên bên suối.
Soạn bài Những tình huống hiểm nghèo – Chuẩn bị đọc (trang 36)
Hai câu hỏi khởi động gắn với chủ đề của hai truyện: tình bạn và “kẻ mạnh”.
Câu 1: Một người bạn tốt cần có những đức tính gì?
Trả lời:
Em nghĩ rằng một người bạn tốt trước hết phải chân thành, nói thật với mình kể cả khi lời thật khó nghe. Bạn ấy biết lắng nghe, biết vui cùng niềm vui và chia sẻ nỗi buồn của mình. Quan trọng nhất, người bạn tốt không bỏ đi lúc mình gặp khó khăn, nguy hiểm mà sẵn sàng đứng bên, giúp đỡ. Ngoài ra, bạn tốt còn biết tôn trọng sự khác biệt, giữ lời hứa và giữ bí mật cho nhau.
Câu 2: Khi nào một người được xem là “kẻ mạnh”?
Trong trường hợp nào thì một người được xem là “kẻ mạnh”?
Trả lời:
Một người được xem là “kẻ mạnh” khi người đó chiếm ưu thế hơn người khác: có sức vóc lớn hơn, có quyền lực, tiền của, địa vị cao hơn, hoặc đông người ủng hộ hơn. Cũng có người mạnh về trí tuệ, bản lĩnh, ý chí. Tuy nhiên, sức mạnh chỉ đáng quý khi được dùng để bảo vệ lẽ phải và che chở người yếu; nếu dùng để chèn ép người khác thì đó là sức mạnh đáng sợ, đáng lên án.
Soạn bài Những tình huống hiểm nghèo – Trải nghiệm cùng văn bản (trang 37 – 39)
Ba câu hỏi bên lề giúp em theo dõi những chi tiết quan trọng trong lúc đọc.
Câu 1: Sự kiện nào trong truyện làm em bất ngờ? (trang 37)
Trả lời:
Em bất ngờ nhất ở câu trả lời cuối truyện. Khi người bạn trèo cây xuống, cười cợt hỏi con gấu đã thì thầm gì, người nằm dưới đất đáp rằng “không nên tin vào những kẻ bỏ mặc bạn bè trong cơn hoạn nạn”. Con gấu tất nhiên chẳng nói gì cả; đó là cách người bạn nhanh trí mượn lời con vật để nhắc khéo, cũng là lời phán xét kẻ đã bỏ rơi mình. Ngoài ra, việc con gấu ngửi mãi rồi bỏ đi cũng khiến em thót tim và thở phào.
Câu 2: Lời lẽ của chó sói có thuyết phục không? Vì sao? (trang 38)
Trả lời:
Lời lẽ của sói hoàn toàn không thuyết phục. Sói buộc tội chiên làm đục nước, trong khi chiên đứng phía dưới dòng, cách xa hơn hai chục bước, không thể khuấy đục nước ở phía nguồn trên. Bị cãi lại, sói đổi sang tội nói xấu từ năm ngoái, nhưng khi ấy chiên còn chưa ra đời. Mỗi lần lí lẽ bị bẻ gãy, sói lại bịa ra cớ mới. Những lời ấy không dựa trên sự thật nào, chỉ là cái cớ để nó ăn thịt chiên.
Câu 3: Trong đoạn kết, sói vặn vẹo, hạch sách chiên nhằm mục đích gì? (trang 39)
Trả lời:
Sói cố tình vặn vẹo để khoác cho hành động ăn thịt chiên một vẻ “có lí”: nó muốn biến mình thành kẻ bị hại cần báo thù, còn chiên là kẻ có tội phải bị trừng phạt. Thực chất sói đã định ăn chiên từ đầu vì đang đói; những câu hạch sách chỉ là màn che đậy cho sự tàn bạo của kẻ mạnh.
Soạn bài Những tình huống hiểm nghèo – Suy ngẫm và phản hồi (trang 39)
Sáu câu hỏi cuối bài tập trung vào không gian, tình huống, lời thoại, đề tài và bài học của hai truyện.
Câu 1: Từ ngữ chỉ không gian, thời gian và nhận xét về không gian (trang 39)
Liệt kê một số từ ngữ chỉ không gian và thời gian trong văn bản Hai người bạn đồng hành và con gấu, Chó sói và chiên con theo mẫu. Nhận xét về không gian được miêu tả trong hai văn bản.
Trả lời:
| Tên văn bản | Từ ngữ chỉ không gian | Từ ngữ chỉ thời gian |
|---|---|---|
| Hai người bạn đồng hành và con gấu | trong rừng, cành cây, đám lá, dưới đất, trong cát, trên cây | đương (đang), bấy giờ, cuối cùng |
| Chó sói và chiên con | dòng suối, nơi này, phía nguồn trên, rừng sâu | tức khắc, dứt lời, năm ngoái, lúc chiên chửa ra đời |
Nhận xét: không gian trong cả hai truyện là thiên nhiên hoang dã (rừng, suối), vắng bóng con người. Nơi ấy không có ai để cầu cứu, nên nhân vật phải tự đối mặt với hiểm nguy. Không gian vì thế góp phần tạo nên tình huống “hiểm nghèo” đúng như nhan đề.
Câu 2: Tình huống truyện và tác dụng thể hiện đặc điểm nhân vật (trang 39)
Xác định tình huống truyện trong hai văn bản. Tình huống ấy có tác dụng thế nào trong việc thể hiện đặc điểm nhân vật?
Trả lời:
| Hai người bạn đồng hành và con gấu | Chó sói và chiên con | |
|---|---|---|
| Tình huống | Hai người bạn đang đi giữa rừng thì gấu bất ngờ lao ra vồ. | Chiên đang uống nước ở suối thì gặp con sói đói đi kiếm mồi. |
| Tác dụng | Hiểm nguy làm lộ rõ bản chất: một người chỉ lo thân, bỏ mặc bạn; người kia bình tĩnh, nhanh trí tự cứu mình. | Cuộc chạm trán làm bộc lộ sự ngang ngược, độc ác của sói và sự hiền lành, yếu thế của chiên. |
Nhờ tình huống, bài học của mỗi truyện hiện ra rõ ràng mà không cần giải thích dài dòng.
Câu 3: Tóm tắt truyện Hai người bạn đồng hành và con gấu (trang 39)
Trả lời:
Giữa đường xuyên rừng, hai người bạn bị một con gấu chặn lối. Người đi phía trước nhanh tay bám được cành cây, trốn lên giữa đám lá, mặc kệ bạn. Người còn lại đành nằm úp mặt xuống đất. Gấu lại gần ngửi tai anh hồi lâu rồi bỏ đi – loài gấu vốn không đụng tới xác chết. Người trên cây tụt xuống, cười hỏi gấu đã thì thầm điều gì. Anh bạn đáp: gấu khuyên đừng tin người nào nỡ bỏ bạn lúc hoạn nạn.
Câu 4: Tóm tắt cuộc đối thoại trong Chó sói và chiên con và tác dụng của lời thoại (trang 39)
Lời thoại của mỗi nhân vật thường góp phần thể hiện đặc điểm của nhân vật ấy. Hãy tóm tắt cuộc đối thoại giữa hai nhân vật trong Chó sói và chiên con và cho biết lời thoại đã góp phần thể hiện đặc điểm của mỗi nhân vật như thế nào?
Trả lời:
Tóm tắt cuộc đối thoại:
- Sói quát chiên dám làm đục nước của nó, phải chịu tội.
- Chiên lễ phép xin “bệ hạ” bớt giận, giải thích chỗ mình uống ở cách xa, lại thấp hơn, nên chẳng thể khuấy đục chỗ nước của sói.
- Sói đổi giọng: chính chiên đã nói xấu nó năm ngoái.
- Chiên đáp năm ngoái mình còn chưa sinh ra, hiện vẫn đang bú mẹ.
- Sói đổ cho anh của chiên; chiên nói mình không có anh em.
- Sói kết tội cả họ nhà chiên cùng chó và người đều ghét nó, nên nó phải trả thù – rồi tha chiên vào rừng ăn thịt.
Tác dụng của lời thoại:
- Sói: lời lẽ quát nạt, xưng “ta” – “mày”, liên tục thay lí do, cho thấy một kẻ hống hách, gian xảo, độc ác, coi lí lẽ chỉ là cái cớ.
- Chiên: lời lẽ nhã nhặn, xưng “tôi”, gọi sói là “bệ hạ”, “ngài”; lập luận rõ ràng, đúng sự thật. Chiên hiện lên ngây thơ, hiền lành, có lí nhưng yếu thế, không thể chống lại kẻ mạnh.
Câu 5: Đề tài và bài học rút ra từ mỗi văn bản (trang 39)
Trả lời:
| Văn bản | Đề tài | Bài học |
|---|---|---|
| Hai người bạn đồng hành và con gấu | Tình bạn trong hoạn nạn | Bạn bè thật sự phải có mặt lúc khó khăn; đừng tin kẻ chỉ biết lo cho mình. Khi gặp nguy hiểm cần bình tĩnh, nhanh trí. |
| Chó sói và chiên con | Kẻ mạnh và lẽ phải | Trong đời có những kẻ ỷ mạnh, bất chấp lẽ phải để chèn ép người yếu; cần nhận ra, lên án thói ấy và biết tự bảo vệ, tránh xa chốn nguy hiểm. |
Câu 6: Thích văn bản nào hơn và viết đoạn cảm nhận 4 – 5 câu (trang 39)
Trong hai văn bản Chó sói và chiên con, Chó sói và cừu non, em thích văn bản nào hơn? Vì sao? Viết một đoạn văn khoảng 4 đến 5 câu nêu cảm nhận của em về văn bản ấy.
Trả lời:
Em chọn Chó sói và chiên con, bởi câu chuyện được kể bằng thơ, có vần nhịp nên đọc lên rất cuốn hút và dễ nhớ.
Đoạn văn tham khảo: Chó sói và chiên con là câu chuyện ngắn mà khiến em day dứt mãi. Chú chiên nhỏ lễ phép, lập luận rõ ràng, câu nào cũng đúng sự thật, vậy mà vẫn không thoát khỏi nanh vuốt của con sói. Mỗi lần bị cãi lại, sói lại bịa thêm một tội mới, cho thấy với kẻ đã quyết làm điều ác thì lí lẽ chỉ là tấm bình phong. Hai câu thơ mở đầu như lời cảnh báo rằng ở đời, kẻ mạnh thường tự cho mình là đúng. Câu chuyện nhắc em phải biết nhận ra những kẻ ỷ mạnh hiếp yếu và biết cách giữ an toàn cho mình.
Kết luận
Hai truyện trong văn bản Những tình huống hiểm nghèo đều đặt nhân vật trước một mối nguy bất ngờ giữa chốn rừng suối, từ đó soi rõ bản chất con người: người bạn ích kỉ, kẻ mạnh tàn bạo, người tỉnh táo biết tự cứu mình. Khi soạn bài, em chú ý tình huống, lời thoại và bài học mà mỗi truyện gửi gắm.
Xem thêm: