Viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc là kiểu bài Viết của học kì I Ngữ văn 7 ở cả ba bộ sách: Bài 4 Ngữ văn 7 Kết nối tri thức, Bài 4 Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo (luyện tiếp ở Bài 10, tập hai, với đề biểu cảm về con người) và Bài 3 Ngữ văn 7 Cánh diều (viết lại ở Bài 9, tập hai). Trang này gồm bảng yêu cầu của kiểu bài theo từng bộ, dàn ý cho cả hai hướng (về một người, về một sự việc) và 12 bài văn mẫu: một nửa viết về những người rất bình thường quanh em, một nửa viết về những sự việc nhỏ trong nhà, ngoài ngõ, ở trường.

Yêu cầu của kiểu bài biểu cảm về con người hoặc sự việc
Bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc là bài em nói ra điều mình thương, mình quý, mình day dứt về một người hay một việc đã xảy ra mà em còn xúc động khi nhớ lại. Phần kể và tả chỉ là chỗ dựa; điều người đọc cần thấy là em đã cảm thấy gì, vì sao lại cảm thấy như vậy. Dùng bảng dưới đây để tự kiểm tra bài sau khi viết.
| Tiêu chí | Bài viết đạt khi |
|---|---|
| Đối tượng biểu cảm | Là một người cụ thể hoặc một sự việc cụ thể (một lần, một ngày, một biến cố) mà em thật sự có cảm xúc. Tránh chọn quá rộng như “gia đình em” hay “ngày Tết”. |
| Mở bài | Giới thiệu được người hoặc sự việc và nêu ấn tượng, cảm xúc chung của em về đối tượng ấy. |
| Cảm xúc gắn với chi tiết | Mỗi cảm xúc (thương, quý, biết ơn, ân hận, tự hào, tiếc nuối…) đi cùng một đặc điểm, việc làm, lời nói hoặc diễn biến cụ thể khiến em có cảm xúc ấy. |
| Kết hợp tự sự, miêu tả | Kể và tả vừa đủ để làm rõ cảm xúc: một kỉ niệm, một dáng vẻ, một âm thanh. Không kể lan man thành bài văn tự sự. |
| Ngôi kể, giọng văn | Dùng ngôi thứ nhất (tôi, em); tình cảm chân thực, trong sáng, không cường điệu. |
| Mạch cảm xúc | Về con người: cảm xúc đi theo những nét riêng, tính tình và các kỉ niệm của em với người ấy. Về sự việc: đi theo diễn biến trước, trong và sau sự việc, cảm xúc có thể thay đổi theo từng chặng. |
| Kết bài | Khẳng định lại tình cảm của em và rút ra điều đáng nhớ với bản thân. |
| Ngôn ngữ | Sinh động, giàu cảm xúc: từ ngữ biểu cảm, câu cảm, phép so sánh dùng vừa phải; đúng chính tả, câu rõ ràng. |
Đề ở mỗi bộ sách có điểm nhấn hơi khác nhau:
| Bộ sách | Vị trí | Điểm nhấn của đề |
|---|---|---|
| Kết nối tri thức | Tập một, Bài 4 Giai điệu đất nước (Viết, trang 98) | Bốn yêu cầu: giới thiệu đối tượng và ấn tượng ban đầu; nêu đặc điểm nổi bật khiến người, sự việc để lại tình cảm sâu đậm; thể hiện tình cảm, suy nghĩ; lời văn có hình ảnh, giàu sức gợi. Bài viết tham khảo bày tỏ cảm xúc về một người phụ nữ bán hàng ở chợ, cuộc sống không dư dả mà vẫn hết lòng giúp những người khó khăn. Phần tìm ý gồm bốn câu hỏi: người, sự việc ấy là gì; nổi bật ở điểm nào; em nghĩ gì, ấn tượng ra sao; chi tiết nào khiến em không quên. |
| Chân trời sáng tạo | Tập một, Bài 4 Quà tặng của thiên nhiên (Viết, trang 89–92); tập hai, Bài 10 Lắng nghe trái tim mình (Viết, trang 108) | Bài 4: văn bản mẫu bày tỏ niềm thương nhớ về một đêm giao thừa người viết được đón ở quê cha (biểu cảm về sự việc); sách nhấn mạnh tình cảm chân thực, ngôi thứ nhất, kết hợp miêu tả và tự sự, kết bài rút ra điều đáng nhớ. Bài 10: biểu cảm về con người; văn bản mẫu viết về một người bạn cùng bàn, cảm xúc đi từ chỗ chưa ưa đến quý mến. |
| Cánh diều | Tập một, Bài 3 (Viết, trang 75); tập hai, Bài 9 (Viết, trang 67) | Định hướng: xác định đối tượng, tự hỏi người hoặc sự việc ấy gợi cho em cảm xúc, suy nghĩ hay bài học nào, rồi lập dàn ý và viết trung thực. Bài tập thực hành gắn với văn bản đọc: Bài 3 viết về một nhân vật hoặc sự việc gây ấn tượng trong Bạch tuộc; Bài 9 viết về sự hi sinh thầm lặng của dì Bảy trong Người ngồi đợi trước hiên nhà. |
Với đề Cánh diều về nhân vật trong văn bản đã học, dàn ý dưới đây vẫn dùng được: thay kỉ niệm đời thường bằng các chi tiết trong văn bản (hành động, lời nói, hoàn cảnh của nhân vật) và không thêm chi tiết mà văn bản không có. Bài mẫu cho đề Bài 9 có ở trang biểu cảm về sự hi sinh thầm lặng của dì Bảy.
Dàn ý bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc
1. Mở bài
– Giới thiệu người (là ai, quan hệ thế nào với em) hoặc sự việc (xảy ra khi nào, ở đâu).
– Nêu ấn tượng, cảm xúc chung của em.
– Có thể mở từ một đồ vật, một âm thanh, một câu nói hoặc từ hiện tại nhớ lại.
2. Thân bài
a. Nếu biểu cảm về một người
+ Vài nét ngoại hình, công việc thật nổi bật, đi kèm cảm xúc của em (chỉ chọn nét gắn với tính cách hoặc kỉ niệm).
+ Tính cách, việc làm của người ấy qua một hai kỉ niệm cụ thể; mỗi kỉ niệm nói rõ em đã cảm thấy gì.
+ Cảm xúc thay đổi (nếu có): trước đây em nghĩ thế nào, điều gì khiến em hiểu khác đi.
+ Điều người ấy để lại trong em.
b. Nếu biểu cảm về một sự việc
+ Hoàn cảnh xảy ra sự việc.
+ Diễn biến theo các chặng trước, trong và sau; mỗi chặng gắn với cảm xúc của em lúc ấy.
+ Chi tiết, khoảnh khắc làm em xúc động nhất, tả kĩ hơn các chi tiết khác.
+ Ý nghĩa của sự việc với em: em hiểu thêm điều gì, thay đổi ra sao.
⇒ Mỗi đoạn thân bài nên có cả câu kể, tả và câu bộc lộ cảm xúc.
3. Kết bài
– Nói lại tình cảm của em bằng lời khác với mở bài.
– Nêu điều đáng nhớ với bản thân; có thể kết bằng một hình ảnh, một việc làm cụ thể hoặc một câu hỏi gợi suy nghĩ.
Mẹo tìm ý: trước khi viết, ghi ra nháp ba chi tiết thật về người hoặc sự việc ấy mà người khác khó nghĩ ra (một thói quen, một câu nói, một âm thanh, một đồ vật). Bài văn biểu cảm hay thường được dựng quanh những chi tiết như vậy, chứ không phải quanh những lời khen chung.
Biểu cảm về người thân và người quanh em
Mẫu 1: Ông nội và chiếc kính lúp sửa đồng hồ
Trên bàn học của tôi có một chiếc kính lúp nhỏ, gọng nhựa đen đã bạc màu, loại kính chỉ kẹp vào một mắt. Đó là chiếc kính ông nội dùng suốt bốn mươi năm làm thợ sửa đồng hồ. Hôm ông thôi làm, ông đặt nó vào tay tôi và dặn cháu giữ lấy mà soi cho kĩ mọi thứ. Mỗi lần cầm chiếc kính lên, tôi lại thấy thương ông và tự hào về ông theo một cách rất riêng.
Tiệm của ông chỉ là một cái tủ kính rộng hơn bàn học một chút, kê dưới gốc sấu đầu phố. Mặt tủ dán tờ giấy viết tay: sửa đồng hồ, thay pin, lau dầu. Sáng nào ông cũng mở tiệm lúc sáu giờ rưỡi, trải tấm vải nỉ xanh, bày tua vít, nhíp, lọ dầu thẳng hàng như người ta bày quân cờ. Tôi thích nhất lúc ông kẹp kính lúp vào mắt. Cả gương mặt ông như dồn về một điểm, nếp nhăn ở đuôi mắt xô lại, môi mím chặt, hơi thở chậm hẳn. Lúc ấy xe tải có chạy qua rầm rầm, ông cũng không ngẩng lên.
Hồi bé, tôi tưởng sửa đồng hồ là việc dễ, chỉ cần vặn vài con ốc. Năm lớp bốn, tôi lén tháo chiếc đồng hồ báo thức hỏng của bố, định sửa xong để khoe. Tháo ra thì dễ, lắp lại thì thừa ba cái bánh răng và một sợi lò xo mảnh như sợi tóc. Tôi ôm cả nắm linh kiện ra tiệm, mặt đỏ bừng. Ông không mắng. Ông bảo tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu rồi lắp lại từng chi tiết trước mặt tôi, vừa lắp vừa gọi tên từng thứ: bánh xe giây, bánh xe phút, cái búa nhỏ gõ chuông. Gần một tiếng sau, chiếc đồng hồ kêu tích tắc. Tôi vẫn nhớ cảm giác đứng cạnh ông khi ấy, vừa phục vừa thấy mình được tin tưởng.
Điều làm tôi quý ông nhất lại không phải đôi tay khéo. Nhiều lần tôi thấy khách mang đến những chiếc đồng hồ cũ chẳng còn đáng bao nhiêu tiền: một chiếc đồng hồ đeo tay mặt ố vàng của người chồng đã mất, một chiếc đồng hồ treo tường người ta mang theo từ quê ra. Thợ khác khuyên bỏ đi mua cái mới cho rẻ. Ông thì nhận, tìm linh kiện cả tuần, có khi tự mài lại một chiếc bánh răng. Tiền công ông lấy rất ít. Ông bảo đồng hồ của người ta chứa cả thời gian của người ta, mình sửa được là giữ lại cho họ một phần. Câu ấy tôi chưa hiểu hết, nhưng tôi hiểu ông làm nghề bằng sự tôn trọng.
Năm ngoái, mắt ông kém đi. Có buổi ông ngồi cả sáng mà không gắp nổi một con ốc nhỏ, bàn tay run run trên tấm nỉ. Ông cười, bảo đồng hồ của ông cũng đến lúc phải lau dầu rồi. Cả nhà khuyên mãi ông mới chịu nghỉ. Hôm dọn tủ kính, tôi thấy ông vuốt mặt kính rất lâu, như vuốt lưng một người bạn cũ. Tôi đứng phía sau, không dám nói gì, cổ họng nghèn nghẹn.
Giờ ông ở nhà, sáng sáng vẫn lên dây chiếc đồng hồ quả lắc trong phòng khách. Tiếng tích tắc ấy làm tôi yên lòng, như biết ông vẫn đang ở đó. Tôi đã xin ông một việc: hè này ông dạy tôi tháo rồi lắp lại chiếc đồng hồ báo thức của bố, lần này cho đúng, không thừa một bánh răng nào.
Mẫu 2: Bố, người lái xe khách đường dài
Bốn giờ sáng, tiếng xe máy của bố nổ khẽ ở đầu ngõ. Bố bao giờ cũng dắt xe ra tận đó mới nổ máy, sợ cả nhà thức giấc. Nhưng tôi thường thức, nằm nghe tiếng xe xa dần và biết phải ba ngày nữa bố mới về. Bố tôi lái xe khách tuyến Hà Nội – Điện Biên đã mười hai năm.
Hồi nhỏ, tôi tự hào về nghề của bố lắm. Bố lái chiếc xe to nhất mà tôi từng thấy, có hai tầng giường nằm, cửa kính dán dòng chữ đỏ tên nhà xe. Đến hè năm lớp năm, lần duy nhất được theo bố một chuyến, tôi mới biết đằng sau vẻ oai vệ ấy là gì. Xe chạy qua những con đèo một bên là vách núi, một bên là vực mờ sương. Bố ngồi thẳng lưng, hai tay giữ vô lăng, mắt không rời mặt đường suốt mấy tiếng liền. Đến khúc cua gấp, bố về số, xe gầm lên rồi chậm chạp bò qua. Hành khách ngủ say cả. Chỉ có bố là không được ngủ. Ngồi ở ghế phụ, lần đầu tôi thấy lưng áo bố ướt đẫm trong khi điều hòa vẫn chạy.
Bữa trưa ở quán ven đường, bố ăn rất nhanh rồi đi một vòng quanh xe, cúi xuống xem lốp, gõ gõ vào vành. Tôi hỏi sao bố không nghỉ thêm. Bố bảo trên xe có mấy chục người, ai cũng có người nhà đang đợi, bố phải đưa họ về cho đủ.
Từ chuyến đi ấy, tôi bắt đầu áy náy về nhiều chuyện. Có lần bố về đến nhà lúc nửa đêm, mắt đỏ quạch, vậy mà sáng ra vẫn chở tôi đi học chỉ vì tôi nằng nặc không chịu đạp xe. Có lần bố lỡ buổi họp phụ huynh, tôi giận dỗi cả tuần, bố gọi điện cũng không nghe. Tôi đã từng nghĩ bố ít quan tâm đến mình. Giờ tôi hiểu bố quan tâm theo kiểu của người cầm lái: lặng lẽ, chăm chăm nhìn về phía trước, không dám lơ là phút nào.
Bây giờ, tối nào bố đi xa, tôi cũng nhắn một tin hỏi bố đến đâu rồi. Bố trả lời rất cụt: Pha Đin. Tuần Giáo. Đến bến. Vậy mà đọc mấy chữ ấy tôi mới yên tâm đi ngủ. Mỗi lần nhìn bàn tay chai sần của bố cầm đũa trong bữa cơm hiếm hoi cả nhà đông đủ, tôi lại thương bố hơn. Chỉ có điều tôi chưa biết nói với bố những điều ấy thế nào. Liệu một hôm nào đó bố về, tôi có đủ can đảm ra tận đầu ngõ đón bố và nói rằng con hiểu rồi không?
Mẫu 3: Cô lao công và tiếng chổi tre lúc sớm
Xoẹt… xoẹt… Sáng nào đến trường sớm, tôi cũng nghe thấy âm thanh ấy trước khi nhìn thấy cổng. Đó là tiếng chổi tre của cô Hạnh, cô lao công của trường tôi. Gần hai năm học ở đây, chưa một lần tôi đến trường trước cô.
Cô Hạnh nhỏ người, lúc nào cũng mặc bộ quần áo xanh bạc màu, đội chiếc nón lá có quai là sợi dây chun. Cái chổi tre trong tay cô dài gần bằng người cô. Cô quét theo một nhịp đều đều, từ góc nhà xe sang dãy lớp học, gom lá thành từng đống nhỏ rồi xúc lên chiếc xe cút kít. Mùa lá rụng, có hôm cô vừa quét xong, quay lại đã thấy lá phủ kín chỗ cũ. Cô chỉ lắc đầu cười rồi quét lại từ đầu.
Trước kia, tôi đi qua cô như đi qua một cái cây trong sân. Tôi không biết tên cô, cũng chưa bao giờ chào. Cho đến một buổi chiều lớp tôi về muộn. Tôi quay lại lấy chiếc áo khoác bỏ quên và thấy cô đang cúi dưới gầm bàn lớp tôi, nhặt từng vỏ hộp sữa, từng mẩu giấy vo tròn. Cô nhặt cả mấy vỏ kẹo mà sáng hôm ấy chính tôi nhét vào ngăn bàn. Tôi đứng ở cửa, nóng bừng hai má. Cô ngẩng lên, không trách, chỉ hỏi cháu quên đồ à, rồi chỉ chiếc áo cô đã gấp gọn đặt trên bàn giáo viên.
Hôm ấy tôi mới để ý đôi bàn tay cô: các khớp ngón to, móng cắt ngắn sát, mu bàn tay có một vết sẹo cũ. Tôi nghĩ đến những sáng mùa đông, khi tôi còn cuộn trong chăn thì cô đã đứng giữa sân lạnh. Tôi nghĩ đến bao lần cả lớp chê nhà vệ sinh có mùi mà chưa ai tự hỏi người phải dọn là ai. Tôi thấy thương cô, và xấu hổ vì sự vô tâm của mình.
Từ đó, sáng nào tôi cũng chào cô. Cô đáp lại bằng một cái gật đầu và nụ cười để lộ chiếc răng khểnh. Nhóm bạn tôi nhắc nhau bỏ vỏ hộp sữa vào thùng rác, không nhét gầm bàn nữa. Việc nhỏ ấy chẳng làm cô bớt vất vả bao nhiêu, nhưng tôi mong cô biết rằng đã có người nhìn thấy mình.
Sáng nay, gió thổi một vỏ hộp sữa lăn đến chân tôi giữa sân. Tôi cúi xuống nhặt, bỏ vào thùng, và ở cuối sân, cô Hạnh dừng chổi, giơ tay vẫy tôi một cái.
Mẫu 4: Tiết nhạc cuối cùng của cô Trang
Phím đô của cây đàn phím trong phòng nhạc kêu lệch đã hai năm nay. Bấm vào là nó phát ra một âm khàn khàn, như người bị cảm. Thứ năm tuần trước, trong tiết nhạc cuối cùng trước khi nghỉ hưu, cô Trang bấm phím ấy ba lần rồi bật cười, bảo cái đàn cũng biết hôm nay là ngày gì. Cả lớp cười theo, còn tôi thấy mắt mình cay cay.
Cô Trang dạy nhạc ở trường tôi hơn ba mươi năm. Bố tôi ngày xưa cũng là học trò của cô. Trong tấm ảnh cuối cấp của bố, cô đứng ở hàng đầu, tóc dài buộc thấp. Giờ tóc cô bạc gần hết, cô vẫn buộc thấp như thế. Giọng cô không to nhưng rất ấm, và cô có một thói quen mà học trò nào cũng nhắc: khi lớp hát sai, cô không gõ thước mà nhắm mắt lại, nghiêng đầu, như đang tìm xem nốt nào đi lạc.
Tôi vốn sợ giờ nhạc. Giọng tôi khàn, lên cao là vỡ, bị bạn bè trêu là giọng vịt đực. Năm lớp sáu, đến lượt hát kiểm tra, tôi đứng lên mà không mở nổi miệng. Cô không cho tôi điểm kém. Cô bảo tôi ở lại sau giờ, ngồi cạnh cô bên cây đàn. Cô đánh thật chậm từng nốt, bảo tôi hát nhỏ thôi, nhỏ như đang hát cho chính mình nghe. Tôi hát được hết bài, run nhưng đúng. Cô nói giọng nào cũng có chỗ đứng, chỉ cần đứng đúng chỗ. Từ hôm ấy, tôi không còn sợ giờ nhạc nữa, còn xin vào hàng bè trầm của đội hợp xướng trường.
Ở cô có một sự kiên nhẫn mà tôi ít gặp. Lâm, bạn ngồi bàn trên, học hai năm vẫn không đọc được nốt nhạc. Cô vẽ cho cậu ấy một khuông nhạc lên tấm bìa cứng, dán năm hạt đậu đỏ làm nốt, cho cậu mang về nhà tự xếp. Nửa học kì sau, Lâm đọc trơn được bài tập đọc nhạc đầu tiên, mặt đỏ lên vì sung sướng. Cô còn vui hơn cả cậu ấy.
Tôi thương cô ở chỗ cô chưa bao giờ coi môn của mình là môn phụ, và chưa bao giờ coi đứa học trò nào là không có năng khiếu. Ba mươi năm, cô dạy hàng nghìn đứa trẻ hát, mà có lẽ phần lớn trong số ấy sẽ không thành ca sĩ. Cô dạy chúng tôi điều khác: dám cất tiếng, và biết lắng nghe người hát bên cạnh.
Tiết cuối, cô không dạy bài mới. Cô cho lớp chọn một bài hát mình thích nhất trong các bài đã học, và cả lớp chọn một bài hát về mái trường mà chúng tôi thuộc từ hồi tiểu học. Chuông hết tiết reo khi bài hát còn dở. Không ai đứng dậy. Cô bỏ tay khỏi phím đàn, để chúng tôi hát nốt đoạn cuối không có nhạc đệm, còn cô ngồi đó, mắt nhắm, đầu hơi nghiêng, như mọi lần đi tìm nốt lạc. Lần này, tôi biết, không có nốt nào lạc cả.
Mẫu 5: Bà Lựu ở bên kia hàng rào
Hồi lớp năm, người tôi sợ nhất khu tập thể là bà Lựu nhà bên cạnh. Bà sống một mình, tóc bạc trắng búi gọn, ít cười, hay mắng bọn trẻ con đá bóng vào hàng rào nhà bà. Có lần quả bóng của tôi rơi trúng chậu ớt, bà giữ đến tận tối mới trả. Từ đó, sau lưng bà, tôi gọi bà là bà Khó Tính.
Tôi đã nghĩ về bà như thế suốt hai năm, cho đến một buổi chiều tháng Mười năm ngoái. Hôm ấy đi học về, tôi nghe tiếng gọi yếu ớt bên kia hàng rào. Bà Lựu ngồi bệt dưới chân cầu thang, một chân duỗi thẳng, xô nước đổ lênh láng. Bà trượt ngã khi xách nước tưới cây. Tôi chạy sang, đỡ không nổi, đành gọi mẹ. Mẹ và chú hàng xóm đưa bà đi viện. Trước khi lên xe, bà nắm tay tôi, bàn tay lạnh và gầy đến mức tôi cảm thấy rõ từng đốt xương, dặn tôi tưới giúp bà mấy chậu cây.
Tuần bà nằm viện, ngày nào tôi cũng sang tưới cây. Lần đầu bước vào nhà bà, tôi đứng sững. Trên tường treo kín ảnh: một người đàn ông mặc quân phục, một cô bé buộc tóc hai bên, cả một tấm giấy khen giáo viên dạy giỏi đã ố vàng. Mẹ kể bà từng dạy cấp một, chồng mất sớm, con gái định cư ở nước ngoài, mấy năm mới về một lần. Tôi nhìn chiếc bàn ăn chỉ có một cái ghế, một đôi đũa, và bỗng hiểu vì sao bà hay mắng bọn tôi. Có lẽ những buổi chiều ra hàng rào quát trẻ con là những lúc hiếm hoi bà được nói chuyện với ai đó.
Tôi xấu hổ vì cái tên bà Khó Tính. Tôi đã giận một người chỉ vì chưa bao giờ chịu nhìn kĩ người ấy.
Bà về nhà, chân còn bó bột. Tôi sang nhiều hơn, khi mang bát canh mẹ nấu, khi ngồi nghe bà kể chuyện những năm bà đi dạy, lớp học có những chiếc ghế ghép bằng ván. Hóa ra bà rất hay cười, chỉ là trước kia không có ai để cười cùng. Bà dạy tôi bấm ngọn ớt cho cây ra nhiều nhánh, còn tôi dạy bà gọi video cho con gái. Lần đầu thấy mặt đứa cháu ngoại trên màn hình, bà lấy vạt áo chấm mắt mãi.
Bây giờ quả bóng có rơi vào chậu ớt, bà trả ngay, kèm một nắm ớt chín đỏ gửi mẹ tôi. Tôi đã hứa với bà một việc nhỏ: chiều thứ bảy nào cũng sang đọc báo cho bà nghe, vì chữ in nhỏ bà không còn nhìn rõ.
Biểu cảm về một sự việc
Mẫu 6: Ngày em trai tôi vào lớp Một
Đêm trước buổi học đầu tiên, thằng Đạt em tôi lay tôi dậy lúc gần mười một giờ. Nó hỏi lớp Một có được ngủ trưa không. Chưa đợi tôi trả lời, nó hỏi tiếp, nếu em chưa biết đọc thì cô có đuổi về không. Tôi bật cười, nhưng nhìn đôi mắt mở to của nó trong bóng tối, tôi biết em tôi đang sợ thật.
Sáng hôm sau, mẹ phải đi làm sớm, việc đưa em đến trường được giao cho tôi. Tôi thấy mình quan trọng hẳn lên. Chiếc cặp mới của Đạt màu xanh dương, in hình khủng long, to đến mức đeo lên gần chạm khoeo chân. Nó đi lạch bạch như chú chim cánh cụt, chốc chốc lại sờ ra sau xem hộp bút còn không. Dọc đường, nó nắm tay tôi chặt hơn mọi ngày, lòng bàn tay rịn mồ hôi. Tôi chợt nhớ ra mới mấy năm trước, chính tôi cũng nắm tay mẹ như thế, cũng hỏi mẹ những câu ngây ngô như thế.
Đến cổng trường tiểu học, Đạt khựng lại. Sân trường đông nghịt, tiếng loa, tiếng trẻ con khóc, tiếng người lớn dỗ dành. Nó nép sau lưng tôi. Tôi ngồi xuống cho ngang tầm mắt nó, chỉnh lại cổ áo và nói điều tôi đã nghĩ suốt đêm: cô giáo ở đó là để dạy em đọc, không ai đuổi em vì chưa biết đọc cả; chiều nay chị đón, em kể chị nghe hôm nay học gì. Nó gật đầu, mím môi thật chặt như đang dồn hết can đảm vào đấy.
Cô giáo lớp 1A ra đón, dắt nó vào hàng. Đạt đi được mấy bước thì ngoái lại. Tôi giơ ngón cái lên. Nó cũng giơ ngón cái, hơi run. Khoảnh khắc ấy, tôi vừa buồn cười vừa muốn khóc. Tôi thương cái dáng bé xíu đeo chiếc cặp quá khổ, và thấy mình bỗng lớn thêm một chút.
Tôi đứng ngoài cổng đến khi các lớp vào hết mới đi. Suốt buổi học của mình, tôi cứ thấp thỏm không biết thằng bé có khóc không, có tìm được nhà vệ sinh không. Chiều đón em, nó chạy ào ra, khoe được cô thưởng một bông hoa đỏ vì ngồi ngay ngắn, rồi đòi tôi cõng về.
Đến giờ, mỗi sáng đưa em đi học, tôi vẫn đứng lại ở cổng chờ nó vào lớp. Qua ô cửa sổ tầng một, một bàn tay nhỏ lại vẫy ra, lần nào cũng vậy, như một lời chào đã thành nếp của hai chị em.
Mẫu 7: Cây bàng già trong sân trường bị hạ
Tôi đang đứng cạnh gốc cây bàng ở góc sân trường. Nói đúng hơn là cái gốc còn lại, cao ngang đầu gối, mặt cắt tròn với những vòng gỗ sẫm dần vào trong, và ở chính giữa là một lỗ rỗng đen sì to bằng cái chậu. Mới tuần trước, ở đây còn là cây bàng mà các thầy cô bảo có từ ngày trường mới xây.
Cây bàng ấy to đến mức ba đứa chúng tôi nắm tay nhau mới ôm hết. Tán bàng xòe rộng che gần nửa sân. Mùa hè, nó cho cả khối bảy một khoảng bóng mát để đá cầu. Cuối thu, lá chuyển đỏ rồi rụng, bọn con gái nhặt về ép vào vở. Đầu xuân, những chồi non nhú lên xanh như ngọc. Toàn, bạn thân của tôi, từng khắc tên hai đứa lên thân cây và bị thầy tổng phụ trách phạt chép nội quy. Có những thứ mình cứ tưởng sẽ ở đó mãi, như cây bàng.
Cuối tháng trước, sau một trận mưa to, một cành lớn bất ngờ gãy, rơi xuống ngay cạnh hàng ghế đá. May mà lúc ấy đang giờ học, sân không có ai. Nhà trường mời cán bộ công ty cây xanh đến kiểm tra. Họ gõ vào thân, khoan thử một lỗ nhỏ, rồi kết luận thân cây đã rỗng gần hết, rễ mục, có thể đổ bất cứ lúc nào. Thầy hiệu trưởng thông báo dưới cờ rằng cây phải hạ để giữ an toàn cho học sinh.
Sáng thứ bảy, mấy đứa chúng tôi đến xem. Tiếng cưa máy rú lên chói tai đến lạnh người. Từng cành lớn được buộc dây, hạ xuống từ từ. Mùn cưa bay vàng một góc sân, mùi nhựa cây hăng hắc. Lúc thân chính đổ xuống, mặt đất rung nhẹ dưới chân. Không ai nói gì. Toàn đứng cạnh tôi, hai tay đút túi quần, nhìn chằm chằm vào khúc thân có tên hai đứa. Tôi chưa từng nghĩ mình có thể buồn vì một cái cây đến vậy.
Nhưng nhìn cái lỗ rỗng giữa gốc, tôi cũng hiểu. Cây đã già và đau từ bên trong từ lâu, chỉ có chúng tôi là không biết. Nó vẫn xanh, vẫn che mát cho đến mùa cuối cùng. Nghĩ đến cành bàng rơi cạnh ghế đá, tôi rùng mình, và thấy biết ơn những người lớn đã quyết định đúng, dù quyết định ấy làm chúng tôi buồn.
Chiều hôm ấy, sân trường chói nắng một cách lạ lùng. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy bức tường rêu phía sau, thấy cả mái ngói nhà dân bên kia. Mọi thứ trống trải như căn phòng vừa bị khiêng đi một chiếc tủ quen.
Tuần này, lớp tôi xin nhà trường được trồng một cây bàng non cạnh gốc cũ. Cây con cao hơn tôi một chút, thân bằng ngón tay cái, buộc vào hai cọc tre. Toàn nhận việc tưới cây vào giờ ra chơi. Tôi đo thử, phải ba sải tay mới đi hết vòng gốc cũ. Bao giờ cây non kia mới đủ bóng cho một lớp học trò ngồi chơi, và đến lúc ấy, còn ai nhớ nơi này từng có một cây bàng khác không?
Mẫu 8: Thùng sách gửi các bạn vùng lũ
Ở góc lớp 7A3 từng có một thùng các-tông đựng mì tôm, bốn mặt dán giấy màu, trên nắp viết bằng bút dạ: Sách vở gửi các bạn vùng lũ. Cái thùng ấy nằm đó đúng mười ngày hồi đầu năm học. Mười ngày ấy dạy tôi nhiều hơn cả một chương sách.
Mọi chuyện bắt đầu từ bức ảnh cô chủ nhiệm chiếu lên màn hình: một lớp học ở một xã miền núi sau trận lũ, bàn ghế phủ bùn, những cuốn vở trương phồng phơi kín trên dây thép. Một cậu bé đứng giữa đống ấy, ôm chiếc cặp ướt sũng. Cả lớp im lặng rất lâu. Vy, lớp trưởng, đề nghị lớp góp sách giáo khoa và vở mới. Ai cũng giơ tay.
Thú thật, tối hôm ấy tôi gom một chồng sách cũ dưới gầm giường. Có quyển rách bìa, có quyển tôi viết chì chi chít, có quyển vở đã dùng mất mấy trang đầu. Tôi nghĩ đằng nào cũng là cho, có còn hơn không. Sáng hôm sau đến lớp, tôi thấy Vy ngồi tẩy từng vết bút chì trong một cuốn sách Toán, rồi bọc lại bìa, dán nhãn ghi tên môn. Cậu ấy bảo muốn bạn ở trên ấy nhận được một quyển sách giống như quyển mình muốn có. Tôi nhìn túi sách nhàu nhĩ của mình, mặt nóng ran.
Tối đó, tôi bỏ lại mấy quyển rách nát. Tôi lấy tiền tiết kiệm mua năm quyển vở mới, rồi ngồi cả buổi tẩy sạch hai cuốn sách lớp sáu, bọc bìa cẩn thận. Lúc dán nhãn, tôi bỗng hình dung một bạn nào đó trên núi sẽ mở cuốn sách này, đọc những bài tôi từng đọc, có khi cũng gạch chân đúng những câu tôi từng gạch. Ý nghĩ ấy làm tôi vui một cách lạ lùng.
Mười ngày, thùng các-tông đầy rồi tràn, lớp phải xin thêm hai thùng nữa. Có bạn góp bộ bút màu, có bạn góp chiếc cặp mới tinh, một bạn lớp bên còn mang sang chiếc máy tính cầm tay đã dùng hồi tiểu học. Ngày gửi hàng, cả lớp đứng thành hàng chuyền tay nhau từng thùng ra xe của hội cha mẹ học sinh, ai cũng lấm tấm mồ hôi mà cười nói rộn ràng.
Hơn một tháng sau, cô chủ nhiệm đọc cho lớp nghe một lá thư gửi về từ xã ấy. Nét chữ nghiêng nghiêng, hơi run, kí tên Sơn, học sinh lớp sáu. Bạn kể đã nhận được cuốn sách Ngữ văn bọc bìa xanh, trang nào cũng sạch, và bạn sẽ giữ cẩn thận để năm sau chuyển lại cho em. Tôi không biết cuốn sách ấy có phải của mình không. Nhưng hôm ấy tôi hiểu: cho đi cũng cần sự chu đáo, như thể người nhận đang đứng ngay trước mặt mình.
Lá thư giờ được dán trên bảng tin của lớp, đúng chỗ cái thùng các-tông ngày trước, và tờ giấy đã hơi quăn mép vì có quá nhiều người đọc lại.
Mẫu 9: Ông bà ngoại lên thành phố ở cùng nhà em
Bố đặt đũa xuống, nhìn cả nhà rồi nói tháng sau ông bà ngoại sẽ lên ở hẳn với nhà mình. Mẹ cúi mặt, gắp thức ăn vào bát tôi. Còn tôi, ý nghĩ đầu tiên bật ra không phải là vui, mà là: thế phòng của con thì sao?
Đó là ý nghĩ tôi thấy xấu hổ nhất mỗi lần nhớ lại.
Ông bà ngoại ở dưới quê. Đầu năm ông bị ngã, đi lại phải chống gậy; bà thì mắt mờ, hai ông bà già ở với nhau không ai trông nom. Nhà tôi là căn hộ hai phòng ngủ ở tầng chín. Phòng tôi nhỏ nhất, có cửa sổ nhìn ra hồ, có giá sách tôi tự xếp. Mẹ bảo tôi sẽ ngủ ở phòng khách, trên chiếc giường gấp. Tôi không cãi, nhưng cả tuần liền đi học về là đóng sầm cửa.
Ngày ông bà lên, chuyện đầu tiên làm cả nhà vừa buồn cười vừa thương là cái thang máy. Bà đứng trước cửa thang mãi không dám bước vào, tay bám chặt túi đồ. Thang vừa chuyển động, bà níu lấy tay tôi, miệng lẩm bẩm niệm Phật. Ông thì không chịu ngồi yên, cứ ra ban công nhìn xuống, chép miệng bảo ở trên này cao quá, chẳng thấy đất đâu. Tối đầu tiên, ông đi tìm cái chổi rơm để quét nhà, tìm mãi không có, đành cầm cái máy hút bụi lên ngắm nghía như ngắm một con vật lạ.
Mấy tuần đầu, tôi khó chịu đủ đường. Bà dậy từ bốn giờ sáng, lục đục dưới bếp. Ông mở đài to, toàn tin thời tiết với lịch thời vụ. Bà hay bật đèn phòng khách lúc tôi đang học khuya, chỉ để hỏi cháu đã ăn gì chưa. Có lần tôi đã to tiếng với bà vì chuyện đó.
Rồi một tối, đi học thêm về muộn, tôi thấy ông đứng một mình ngoài ban công, đang tưới mấy cái thùng xốp ông xin ở siêu thị về trồng cải, trồng mồng tơi. Tôi hỏi sao ông chưa đi nghỉ. Ông bảo ở quê, giờ này ông đang ngồi ngoài sân nghe ếch kêu, lên đây không có tiếng gì quen, ông không ngủ được. Ông nói rất bình thản, mà tôi thấy tim mình thắt lại. Tôi chỉ mất một căn phòng. Ông bà thì để lại cả mảnh vườn, cái ao, những người hàng xóm mấy chục năm, để lên sống ở một nơi không nhìn thấy đất.
Từ hôm ấy, tôi nhìn mọi thứ khác đi. Tiếng lục đục lúc bốn giờ là tiếng bà nấu nồi cháo cho ông uống thuốc. Câu hỏi cháu ăn gì chưa là cách bà thương tôi, vì bà không biết nói bằng cách nào khác. Tôi dạy bà bấm thang máy, dán một miếng giấy đỏ lên nút số chín cho bà dễ nhìn. Cuối tuần, tôi đưa ông xuống khu vườn dưới chân tòa nhà, nơi có mấy cụ ông ngồi đánh cờ tướng. Bây giờ ông có hẳn một hội bạn già.
Ban công nhà tôi giờ xanh mướt rau. Sáng sáng đứng đánh răng, tôi nhìn ra thấy ông cúi xuống bắt sâu từng lá cải, bà ngồi trên chiếc ghế nhựa nhặt rau bên cạnh. Căn hộ chật hơn trước, vậy mà tôi chưa bao giờ thấy nó ấm như bây giờ.
Mẫu 10: Ngày con Mực già ra đi
Sợi xích của con Mực vẫn treo trên cái đinh ở hiên nhà. Không ai nỡ cất đi. Đi học về, tôi vẫn quen miệng gọi một tiếng trước khi mở cổng, rồi mới nhớ ra không còn ai chạy ra đón mình nữa.
Mực về nhà tôi từ trước khi tôi ra đời. Nó là con chó ta lông đen tuyền, chỉ có một vệt trắng ở ngực như ai vô tình quệt vôi vào. Mẹ kể hồi tôi tập đi, Mực cứ lẽo đẽo bên cạnh, tôi ngã là nó sủa ầm lên gọi người lớn. Lớn hơn một chút, tôi trèo lên lưng nó, kéo tai nó, nó chỉ khịt mũi rồi nằm im chịu trận.
Hai năm gần đây, Mực già hẳn. Mõm nó bạc trắng, mắt có một lớp màng mờ như sương. Nó không chạy ra cổng được nữa, chỉ nằm ở bậc hiên, nghe tiếng xe đạp của tôi thì đập đập cái đuôi xuống nền gạch. Đi học về, tôi hay ngồi xuống cạnh nó, xoa cái đầu đã thưa lông, kể chuyện ở lớp. Nó không hiểu, tôi biết. Nhưng nó gác cằm lên đầu gối tôi, thở ra một hơi dài, như thể nó hiểu hết.
Mực mất vào một sáng đầu thu, lúc tôi đang ở trường. Bố bảo nó đi rất nhẹ, nằm ở đúng chỗ quen, như đang ngủ. Chiều ấy, bố và tôi chôn nó dưới gốc mít sau vườn. Tôi đặt bên cạnh nó chiếc khăn mặt cũ nó vẫn thích ngoạm. Tôi không khóc to, chỉ thấy trong ngực có một khoảng trống, cứ hụt đi mỗi lần bước qua bậc hiên.
Mực chỉ là một con chó. Nhưng nó là người bạn đầu tiên của tôi, người bạn chưa giận tôi lần nào, dù tôi từng quên cho nó ăn, từng quát nó vì nó sủa đúng lúc tôi đang ngủ. Nghĩ lại những lần ấy, tôi thấy ân hận.
Cái bát nhôm của nó, bố đã rửa sạch, úp trên bậc hiên ngay dưới sợi xích. Thỉnh thoảng có chiếc lá mít rơi xuống nằm trên đáy bát, và tôi lại cúi xuống nhặt đi.
Bài văn mẫu ngắn
Mẫu 11: Bác Tư bánh mì đầu ngõ
Có ai thuộc giờ giấc của ngõ tôi hơn bác Tư bán bánh mì không? Năm giờ rưỡi sáng, bác đẩy chiếc xe kính ra đầu ngõ. Sáu giờ, mẻ bánh đầu tiên giòn rụm trên bếp than. Sáu giờ bốn lăm, bác biết đứa nào sắp muộn học để gói sẵn bánh chờ.
Bác Tư người gầy, nói to, cười thì cả ngõ nghe thấy. Bác nhớ hết khẩu vị của khách: thằng cu nhà số 7 không ăn hành, cô giáo ở tầng ba lấy ít tương ớt, còn tôi thì nhiều pa-tê. Tôi chưa bao giờ phải dặn bác đến lần thứ hai.
Có một chuyện tôi chưa kể với ai. Năm lớp sáu, có hôm tôi đánh rơi tiền ăn sáng. Tôi đứng trước xe bánh mì, lục mãi túi quần không thấy. Bác nhìn tôi, đưa luôn cái bánh, bảo cứ ăn đi, mai trả, bác ghi sổ. Hôm sau tôi mang tiền ra, bác xua tay bảo quên mất rồi, sổ nào mà ghi. Đến giờ tôi vẫn ngờ là bác chẳng có cuốn sổ nào cả.
Tôi quý bác Tư vì cái cách bác tốt với người khác mà làm như chẳng có gì. Bác không khá giả, chiếc xe kính đã tróc sơn, mùa đông bác chỉ có một chiếc áo bông cũ. Vậy mà chưa có đứa trẻ nào trong ngõ phải đói bụng đến trường khi bác còn đứng bán.
Sáng nào đi học, tôi cũng thấy bếp than đỏ hồng của bác ở đầu ngõ, sáng lên giữa làn sương sớm như một ngọn đèn nhỏ mà cả ngõ đều nhìn thấy.
Mẫu 12: Buổi chia tay cô giáo thực tập
Các em có biết hôm đầu tiên lên lớp, cô sợ nhất điều gì không? Cô sợ các em không cười. Cô Nhi nói câu ấy trong buổi chia tay chiều thứ sáu, và cả lớp 7A cười ồ, đúng như ngày đầu cô đứng lớp.
Cô Nhi là sinh viên năm cuối trường sư phạm, về thực tập ở lớp tôi sáu tuần. Hôm đầu tiên, cô run đến mức làm rơi cả hộp phấn, phấn lăn khắp bục giảng. Bọn tôi cười, cô đỏ mặt cười theo. Từ hôm đó, cả lớp quý cô như quý một người chị.
Cô dạy chúng tôi môn Ngữ văn. Cô không bắt chép dàn ý mà phát cho mỗi đứa một tờ giấy nhớ để viết điều mình nghĩ, dán kín cả bảng. Giờ ra chơi, cô ngồi lại đọc từng tờ, ghi nhận xét bằng bút xanh ở mặt sau. Tờ của tôi, cô viết rằng câu này hay, em viết thêm đi. Chỉ một dòng ngắn mà tôi kẹp trong vở đến tận bây giờ.
Buổi chia tay, lớp tặng cô một cuốn sổ, mỗi bạn viết một trang. Cô mở ra đọc ngay tại lớp, đọc đến trang thứ mấy thì không đọc nổi nữa, phải quay lưng về phía bảng. Lần đầu tôi thấy một cô giáo khóc trước học trò, và thấy cô gần gũi hơn bao giờ hết.
Cô hẹn ra trường sẽ xin về dạy ở một trường gần đây. Tôi đã hứa với cô: cuối năm, dù thi học sinh giỏi Văn cấp quận có đạt hay không, tôi cũng sẽ viết thư kể cô nghe.
Lỗi thường gặp và mẹo đạt điểm cao
| Lỗi hay gặp | Sửa thế nào |
|---|---|
| Kể quá dài, cảm xúc chỉ xuất hiện ở câu cuối, bài thành văn tự sự. | Kể, tả vừa đủ; sau mỗi đoạn kể hoặc tả thêm một hai câu nói rõ lúc ấy em cảm thấy gì (xem cách làm ở Mẫu 3, Mẫu 7). |
| Cảm xúc sáo, ai viết cũng giống: em rất yêu, rất biết ơn, rất kính trọng. | Gắn cảm xúc vào một chi tiết riêng: đôi bàn tay, một câu nói, một âm thanh, một đồ vật. Người đọc tin cảm xúc khi thấy chi tiết. |
| Liệt kê phẩm chất như bản nhận xét: hiền, chăm chỉ, tốt bụng, thương con. | Chọn một hai kỉ niệm chứng tỏ phẩm chất ấy và để kỉ niệm tự nói (Mẫu 11 không cần chữ “tốt bụng” vẫn cho thấy bác Tư tốt). |
| Chọn đối tượng quá rộng: gia đình em, ngày Tết, mái trường. | Thu hẹp lại: một người, một lần, một buổi, một khoảnh khắc. |
| Tả ngoại hình từ đầu đến chân, dài mà không gắn với cảm xúc. | Chỉ giữ nét gắn với tính cách, công việc hoặc kỉ niệm (chiếc kính lúp của ông, nón lá của cô lao công). |
| Biểu cảm về sự việc mà cảm xúc đứng yên từ đầu đến cuối. | Đi theo diễn biến trước, trong, sau; cho thấy cảm xúc đổi thay (Mẫu 9: từ khó chịu đến thương). |
| Kết bài hứa hẹn chung chung: em sẽ học thật giỏi để không phụ lòng. | Kết bằng một việc làm cụ thể, một hình ảnh hoặc một câu hỏi gợi suy nghĩ. |
| Đề về nhân vật văn học (Cánh diều) nhưng thêm thắt chi tiết không có trong văn bản. | Bám vào hành động, lời nói, hoàn cảnh nhân vật trong văn bản; cảm xúc của em đi kèm từng chi tiết ấy. |
Mẹo nhỏ khi sửa bài: lấy bút màu đánh dấu các câu bộc lộ cảm xúc, như bảng chỉnh sửa của sách Kết nối tri thức gợi ý. Đoạn nào không có câu được đánh dấu là đoạn đang kể suông, cần thêm cảm xúc; đoạn nào toàn câu được đánh dấu mà không có chi tiết thì cần thêm một việc, một hình ảnh cụ thể.
Chọn mẫu nào để luyện viết?
Đề Kết nối tri thức cho chọn người hoặc sự việc: Mẫu 1 đến Mẫu 5 là bài về con người, Mẫu 6 đến Mẫu 10 là bài về sự việc. Văn bản mẫu của Chân trời sáng tạo Bài 4 là biểu cảm về một sự việc, nên đọc thêm Mẫu 6, Mẫu 7 và Mẫu 12; đề Bài 10 (biểu cảm về con người) hợp với Mẫu 4 và Mẫu 5, hai bài có cảm xúc thay đổi giống văn bản mẫu trong sách. Với Cánh diều, em dùng dàn ý chung, học cách gắn cảm xúc với chi tiết ở Mẫu 8 rồi áp vào nhân vật, sự việc trong văn bản đã học. Cần luyện viết trong một tiết thì bắt đầu từ Mẫu 11, Mẫu 12. Hãy học cách các bài chọn chi tiết, còn người và việc để viết thì nên lấy từ chính cuộc sống của em.
Xem thêm:
- Soạn bài Mùa xuân nho nhỏ, Soạn bài Gò Me, Soạn bài Bài thơ Đường núi của Nguyễn Đình Thi, Chiều biên giới (Bài 4, Kết nối tri thức 7)
- Soạn bài Cốm Vòng, Soạn bài Mùa phơi sân trước, Soạn bài Mùa thu về Trùng Khánh nghe hạt dẻ hát, Soạn bài Thu sang (Bài 4, Chân trời sáng tạo 7)
- Soạn bài Đợi mẹ, Soạn bài Mẹ (Đỗ Trung Lai), Soạn bài Một con mèo nằm ngủ trên ngực tôi (Bài 10, Chân trời sáng tạo 7, học cùng đề viết biểu cảm về con người)
- Soạn bài Bạch tuộc và Soạn bài Chất làm gỉ (Bài 3, Cánh diều 7)
- Soạn bài Người ngồi đợi trước hiên nhà và Biểu cảm về sự hi sinh thầm lặng của dì Bảy (Bài 9, Cánh diều 7)
- Kể lại một trải nghiệm của em (lớp 6) và Nghị luận về một vấn đề trong đời sống lớp 7