Phong cách sáng tác của Tố Hữu hình thành từ chính con đường của ông: một người làm thơ đồng thời là người làm cách mạng, viết theo sát từng chặng đường lịch sử của dân tộc. Mỗi tập thơ của ông ứng với một giai đoạn, và cái tôi trữ tình trong đó luôn gắn với lý tưởng chung.
Phong cách sáng tác của Tố Hữu – Văn học đi liền với cách mạng
Phong cách của Tố Hữu thường được tóm lại ở mấy điểm:
- Thơ của ông là thơ trữ tình chính trị: những vấn đề chính trị, những sự kiện lớn của đất nước được nói bằng cảm xúc riêng, bằng tình cảm chân thành của nhà thơ với cách mạng, với nhân dân, với lãnh tụ.
- Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn: thơ ông hướng tới những gì có ý nghĩa lịch sử và tính cộng đồng, nhân vật trữ tình thường là con người đại diện cho dân tộc, thời đại. Cảm hứng ấy đi cùng niềm tin vào tương lai tươi sáng của cách mạng.
- Giọng thơ tâm tình, ngọt ngào: dù viết về chủ đề lớn, ông hay nói bằng giọng thủ thỉ, tha thiết như lời người thân, một phần do ảnh hưởng của những làn điệu dân ca xứ Huế quê ông.
- Tính dân tộc đậm đà: ông dùng nhiều thể thơ truyền thống như lục bát, song thất lục bát, thơ bảy chữ; ngôn ngữ gần với lời ăn tiếng nói của nhân dân; giàu nhạc điệu; mượn cả lối đối đáp mình – ta của ca dao.

Lối đối đáp ca dao ấy làm nên giọng riêng của bài Việt Bắc, viết tháng 10 năm 1954:
Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Bài thơ được học trong sách Ngữ văn 12 Cánh diều, xem soạn bài Việt Bắc.
Một số tác phẩm nổi tiếng phản ánh phong cách thơ của Tố Hữu
Thơ Tố Hữu đi song song với lịch sử. Các tập thơ chính của ông gồm Từ ấy (1937 – 1946), Việt Bắc (1947 – 1954), Gió lộng (1955 – 1961), Ra trận (1962 – 1971), Máu và hoa (1972 – 1977), Một tiếng đờn (1978 – 1992) và Ta với ta (1992 – 1999). Ông còn có tập hồi ký Nhớ lại một thời (2000) và các tập tiểu luận về văn nghệ.

Một số bài thơ tiêu biểu, nhiều bài đã vào sách giáo khoa:
- Từ ấy (1938): niềm vui sướng, say mê của người thanh niên lần đầu bắt gặp lý tưởng cộng sản, “Mặt trời chân lý chói qua tim”.
- Việt Bắc (1954): khúc hát ân tình về mười lăm năm gắn bó giữa cách mạng và chiến khu, viết khi các cơ quan trung ương rời Việt Bắc về Hà Nội.
- Hoan hô chiến sĩ Điện Biên (1954): niềm vui và lời ca ngợi những người lính làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.
- Bài ca xuân 1961 (tập Gió lộng): niềm vui của miền Bắc những năm đầu xây dựng cuộc sống mới.
- Tiếng chổi tre (1960): lời trân trọng dành cho người chị lao công lặng lẽ quét đường Hà Nội trong đêm.
- Bác ơi! (1969): nỗi đau xót khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời.
Đến Một tiếng đờn và Ta với ta, giọng thơ ông trầm lại, nhiều suy ngẫm về đời người. Một tiếng đờn được Giải thưởng Văn học ASEAN năm 1996.
Kết luận
Phong cách sáng tác của Tố Hữu là sự thống nhất giữa trữ tình và chính trị, giữa cái tôi nhà thơ và cái ta cộng đồng, được nói bằng giọng thơ đậm tính dân tộc. Vì thế thơ ông vừa là tiếng hát cổ vũ một thời, vừa là cuốn biên niên bằng thơ về các chặng đường lịch sử dân tộc.
Xem thêm:
- Các tập thơ của Tố Hữu về chủ đề kháng chiến.
- Tố Hữu là nhà thơ như thế nào? Tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của ông.
- Nhà thơ Tố Hữu được mệnh danh là gì? Vì sao ông có biệt danh này.