Furuike ya / kawazu tobikomu / mizu no oto. Ao cũ, con ếch nhảy vào, tiếng nước. Mười bảy âm tiết, không một tính từ, không một lời bình, vậy mà bài thơ viết năm 1686 này được xem là bài thơ Nhật Bản nổi tiếng nhất mọi thời. Tác giả của nó là Ba-sô. Ba-sô (Matsuo Bashō, 1644 – 1694) là nhà thơ Nhật Bản thời Ê-đô, bậc thầy lớn nhất của thơ hai-cư, người đã biến câu thơ mở đầu của lối liên ca vui đùa thành một thể thơ độc lập, kiệm lời và sâu lắng. Sách Ngữ văn 10 phiên âm tên ông là Mát-chư-ô Ba-sô.
Từ làng quê xứ Iga đến thành Ê-đô

| Tên thật | Matsuo Kinsaku (tên lúc nhỏ), về sau là Matsuo Munefusa |
| Bút hiệu | Sōbō, Tōsei, rồi Bashō (Ba-sô, nghĩa là cây chuối) |
| Năm sinh – năm mất | 1644 – 28/11/1694 |
| Quê | Gần thị trấn Ueno, xứ Iga (nay là thành phố Iga, tỉnh Mie, Nhật Bản) |
| Thời đại | Thời Ê-đô (Mạc phủ Tokugawa) |
| Thể loại | Hai-cư (thời ấy gọi là hokku), liên ca haikai, du ký xen thơ (haibun) |
| Tác phẩm tiêu biểu | Các bài hai-cư “Ao cũ”, “Trên cành khô”; du ký Nozarashi kikō, Oku no hosomichi (Lối lên miền Ô-ku) |
| Trong SGK | Một bài trong Chùm thơ hai-cư Nhật Bản (Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập 1) |
Họ Matsuo tự nhận gốc võ sĩ nhưng thực chất là một gia đình nông dân có danh phận (người Nhật gọi là musokunin: có họ, được đeo kiếm, đãi ngộ gần như võ sĩ). Cha mất khi ông khoảng mười hai tuổi. Khoảng năm 1662, chàng trai Munefusa vào hầu Tōdō Yoshitada, con trai một gia đình võ sĩ có thế lực trong vùng, chỉ hơn ông hai tuổi. Hai người cùng mê thơ haikai, cùng theo học nhà thơ Kitamura Kigin ở Kyoto. Năm 1666, Yoshitada đột ngột qua đời. Mất chỗ dựa, Munefusa rời khỏi nhà Tōdō; mấy năm sau đó trong đời ông gần như không còn dấu vết.
Năm 1672, ông soạn tập thơ đầu tay Kai ōi (Trò chơi vỏ sò) dâng ở đền Thiên Mãn Cung tại Ueno, rồi lên Ê-đô (Tokyo ngày nay) lập nghiệp; có tài liệu ghi ông chỉ định cư hẳn ở Ê-đô từ khoảng năm 1675. Khoảng năm 1677 – 1678 ông thành thầy dạy thơ chuyên nghiệp, nhưng vẫn có một thời gian phải nhận thêm việc sổ sách cho công trình dẫn nước sông Kanda để sống.
Từ Tōsei đến Bashō: cái tên lấy từ một gốc chuối
Ở Ê-đô, ông ký thơ là Tōsei (Đào Thanh, quả đào xanh), có tiếng và có học trò. Nhưng cuối năm 1680, đang lúc thành danh, ông bất ngờ rời trung tâm thành phố, dọn về một căn chòi trông ao cá của người học trò Sanpū ở Fukagawa, bên kia sông Sumida. Thoạt đầu ông đặt tên căn am theo một câu thơ của Đỗ Phủ. Ít lâu sau, một người học trò khác mang đến trồng trước am một gốc chuối. Ở xứ lạnh như Ê-đô, cây chuối không ra quả; lá to, mềm, gió thổi là rách tả tơi. Ông yêu cái cây vô dụng ấy, người ta gọi căn lều là Bashō-an (am Cây chuối), và chủ nhân của nó dần lấy luôn tên cây làm bút hiệu.
Cuối năm 1682 (đã sang đầu năm 1683 theo dương lịch), trận đại hỏa hoạn năm Tenna ở Ê-đô thiêu rụi căn am; ông phải lánh lên vùng núi Yamura ở xứ Kai một thời gian. Năm sau mẹ ông mất; bạn bè, học trò góp tiền dựng lại am mới. Những năm này ông đọc nhiều thơ Trung Quốc, đặc biệt là Đỗ Phủ và sách Trang Tử, và thơ ông chuyển dần từ lối chơi chữ, đùa cợt của haikai đương thời sang một giọng trầm, có chiều sâu.
Hai-cư là gì? Mười bảy âm, một quý ngữ, một chữ ngắt
Thể thơ mà học sinh gọi là hai-cư thời Ba-sô chưa có tên ấy. Khi đó người ta làm liên ca haikai: nhiều người ngồi với nhau, nối nhau làm những câu thơ 5 – 7 – 5 rồi 7 – 7 âm, kéo dài hàng chục câu. Câu mở đầu, gọi là hokku, quan trọng nhất vì phải nêu được mùa và khung cảnh. Ba-sô và học trò làm những câu hokku hay đến mức đứng riêng được thành bài. Dù vậy, chính ông lại coi trọng phần nối câu hơn: theo ghi chép của học trò trong sách Sanzōshi, ông nói câu hokku thì trong đám học trò cũng có người làm được, còn nghề nối câu mới là cốt tủy của ông già này. Mãi đến cuối thế kỷ XIX, nhà thơ Masaoka Shiki mới dùng tên haiku cho những bài thơ độc lập ấy.
| Yếu tố | Nghĩa | Trong bài “Ao cũ” |
|---|---|---|
| 17 âm tiết, chia 5 – 7 – 5 | Hình thức ngắn nhất của thơ truyền thống Nhật | furuike ya (5) / kawazu tobikomu (7) / mizu no oto (5) |
| Quý ngữ (kigo) | Từ báo mùa, cho biết thời điểm của bài thơ | kawazu (con ếch) – quý ngữ mùa xuân |
| Chữ ngắt (kireji) | Chữ chia bài thơ thành hai vế, tạo khoảng lặng | ya sau “furuike” (ao cũ) |
| Hai hình ảnh đặt cạnh nhau | Một cái tĩnh, một cái động, người đọc tự nối nghĩa | ao cũ lặng im – tiếng nước khi ếch nhảy |
Khi dịch sang tiếng Việt, số âm tiết hầu như không giữ được; cái giữ được là cấu trúc hai hình ảnh và khoảng lặng giữa chúng. Đọc thêm về thể thơ này ở bài thơ Haiku.
Những chuyến đi bằng chân và Lối lên miền Ô-ku
Từ năm 1684 đến cuối đời, Ba-sô sống phần lớn trên đường. Ông đi bộ, đội nón lá, mặc áo nhà sư dù không thực sự xuất gia, ghé nhà học trò dọc đường, làm thơ, dạy thơ rồi lại đi. Mỗi chuyến đi để lại một tập du ký viết bằng văn xuôi xen thơ hai-cư, thể văn người Nhật gọi là haibun.
| Năm | Chuyến đi, tập du ký |
|---|---|
| 1684 – 1685 | Về quê Iga, qua Kyoto, Nara: Nozarashi kikō (Ký sự xương phơi đồng nội) |
| 1687 | Đi Kashima ngắm trăng: Kashima kikō |
| 1687 – 1688 | Về phía tây đến Suma, Akashi: Oi no kobumi (Ghi chép trong túi hành lý) |
| 1688 | Lên vùng núi Sarashina ngắm trăng: Sarashina kikō |
| 1689 | Lên các tỉnh phía bắc đảo Honshu cùng học trò Sora: Oku no hosomichi |
Chuyến cuối là chuyến dài nhất. Mùa xuân năm 1689, Ba-sô bán am, cùng người học trò Kawai Sora rời Ê-đô đi về miền Ô-ku, vùng đất phía bắc khi ấy còn xa xôi, hẻo lánh. Hai thầy trò đi khoảng một trăm năm mươi ngày, chừng hai nghìn bốn trăm cây số, qua Nikkō, Matsushima, Hiraizumi, vượt sang bờ biển Nhật Bản rồi kết thúc ở Ōgaki. Ở Hiraizumi, đứng trên bãi cỏ nơi dòng họ Fujiwara từng hưng thịnh, ông nhắc câu “nước mất, núi sông còn” của Đỗ Phủ rồi viết bài hai-cư về cỏ mùa hè, dấu vết giấc mộng của những chiến binh xưa.
Ông còn sửa bản thảo Oku no hosomichi nhiều năm sau chuyến đi; sách chỉ được in năm 1702, sau khi ông mất. Ngày nay đây là tác phẩm văn xuôi cổ điển được đọc nhiều nhất của Nhật Bản, và nhiều người vẫn đi lại con đường của thầy trò Ba-sô.
Wabi, sabi và chữ “nhẹ” của những năm cuối
Người ta hay dùng mấy khái niệm của mỹ học Nhật để nói về thơ Ba-sô. Wabi là vẻ đẹp của sự đơn sơ, thiếu thốn; sabi là vẻ đẹp của cái cũ, cái cô tịch, cái phai nhạt theo thời gian; cả hai gắn với tinh thần Thiền. Một con quạ trên cành khô chiều thu, một cái ao cũ, một bãi cỏ hoang: những cảnh tưởng nghèo nàn ấy lại là chỗ thơ ông lắng sâu nhất.
Những năm cuối đời, ông đề cao karumi, tức sự “nhẹ”: bỏ bớt điển cố, chữ nghĩa cầu kỳ, viết về đời thường bằng lời giản dị. Không phải học trò nào cũng theo kịp sự chuyển hướng này, nhưng chính nó làm cho thơ hai-cư đến gần người bình thường.
Bài thơ của Ba-sô trong Chùm thơ hai-cư Nhật Bản (SGK Ngữ văn 10)
Sách Ngữ văn 10 Kết nối tri thức đặt ba bài hai-cư của Ba-sô, Chi-ô và Ít-sa ở đầu Bài 2 (Vẻ đẹp của thơ ca), học cùng Thu hứng của Đỗ Phủ. Bài của Ba-sô là bài về con quạ:
| Nguyên tác | Phiên âm | Dịch nghĩa (tự dịch) |
|---|---|---|
| 枯朶に烏のとまりけり秋の暮 | kareeda ni / karasu no tomarikeri / aki no kure | trên cành khô / một con quạ đã đậu / chiều cuối thu |
Bài thơ thường được xếp vào khoảng năm 1680, thời ông vừa dọn về Fukagawa. Chỉ ba hình ảnh: cành trụi lá, con quạ đen, buổi chiều thu. Nhà thơ không nói mình buồn, nhưng cái cô tịch lan ra từ cảnh vật; bài thơ có một bản thảo sớm hơn với câu chữ hơi khác, cho thấy ông sửa đi sửa lại đến khi chỉ còn lại những gì cần thiết. Sách dùng bản dịch của Nhật Chiêu, in trong cuốn Ba-sô và thơ hai-cư (1994). Bản dịch ấy chưa hết thời hạn bảo hộ nên ở đây chỉ dẫn nguyên tác; lời giải chi tiết có ở các bài dưới đây.
- Soạn bài, phân tích Chùm thơ hai-cư Nhật Bản
- Chùm thơ hai-cư Nhật Bản: tác giả, tác phẩm, bố cục
- Tóm tắt Chùm thơ hai-cư Nhật Bản
- Các bài phân tích thơ hai-cư
Giấc mơ lang thang trên cánh đồng khô
Mùa thu năm 1694, trên đường đi về phía tây, Ba-sô đổ bệnh ở Ô-xa-ca. Bốn ngày trước khi mất, ông đọc cho học trò chép một bài thơ làm trong cơn bệnh; bài ấy về sau thường được coi là bài thơ từ biệt cõi đời của ông:
Tabi ni yande
yume wa kareno wo
kakemeguru
(Ốm giữa chuyến đi, giấc mơ còn lang thang khắp cánh đồng khô.) Ông mất chiều ngày 28/11/1694, tức ngày 12 tháng 10 năm Genroku thứ 7 theo âm lịch, trong một gian phòng trọ ở Ô-xa-ca, năm năm mươi tuổi (năm mươi mốt tuổi theo cách tính tuổi mụ). Theo ý nguyện, học trò đưa thi hài ông về chôn ở chùa Gichū-ji bên hồ Biwa, thành phố Ōtsu.
Hơn ba trăm năm sau, ở quận Kōtō (Tokyo), gần chỗ căn am Cây chuối ngày xưa, có Bảo tàng Kỷ niệm Ba-sô; ở quê ông tại Iga cũng có nhà tưởng niệm. Bài thơ ao cũ đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng, mỗi bản một khác, vì chẳng bản dịch nào giữ nổi tiếng nước khẽ khàng của nguyên tác. Còn học trò khắp nơi, kể cả ở Việt Nam, vẫn tập làm những bài thơ ba dòng để học một điều Ba-sô dạy cả đời: nói ít, để người đọc nghe thấy phần còn lại.