Soạn bài Vào chùa gặp lại dưới đây hướng dẫn em chuẩn bị bài và trả lời đủ 11 câu hỏi trong khi đọc (trang 62 – 68) cùng 6 câu hỏi sau khi đọc (trang 69) của văn bản đọc thứ hai, Bài 7 (Tùy bút, tản văn, truyện kí), sách Ngữ văn 11 Cánh diều tập hai. Đây là trang truyện kí của Minh Chuyên, ghi lại cuộc gặp gỡ với sư thầy Đàm Thân, nguyên là một nữ quân y Trường Sơn.
Tìm hiểu chung về văn bản Vào chùa gặp lại
Trước khi trả lời câu hỏi, em nắm nhanh vài thông tin về tác giả, xuất xứ, thể loại và cách chia đoạn.

Tác giả Minh Chuyên
Minh Chuyên (tên thật Nguyễn Minh Chuyên) ra đời năm 1948 trên quê lúa Thái Bình. Ông nhập ngũ năm 1967, có khoảng mười năm chiến đấu và công tác ở chiến trường miền Đông Nam Bộ. Sau chiến tranh, ông viết văn, làm báo, làm phim tài liệu và gần như dành trọn ngòi bút cho đề tài hậu chiến. Năm 2024, ông được trao danh hiệu Anh hùng Lao động. Một số tác phẩm: Điểm tựa cuộc đời, Di họa chiến tranh, Những linh hồn da cam, Người lang thang không cô đơn…
Xuất xứ, thể loại, bố cục
- Xuất xứ: theo chú thích của SGK, văn bản in trong tập Người lang thang không cô đơn (truyện kí, NXB Văn học, tái bản lần thứ 3, năm 2018). SGK có lược một số đoạn, đánh dấu […].
- Thể loại: truyện kí, ghi lại người thật, việc thật: nhân vật chính là sư thầy Đàm Thân, tên thật Lương Thị Thân, nữ quân y thuộc Đoàn 559 trên Trường Sơn, từng bị thương và nhiễm chất độc da cam.
- Người kể: nhân vật “tôi” chính là tác giả, nhưng phần lớn câu chuyện được kể lại qua lời của sư Đàm Thân.
- Bố cục (3 phần, theo vị trí các câu hỏi trong SGK): (1) gặp lại ở chùa Đông Am, chuyện chiến trường, lí do xuất gia; (2) quãng đời tu hành, những việc giúp đời; (3) đêm anh Quân tìm đến chùa và kết cục mối tình.
Soạn bài Vào chùa gặp lại – Chuẩn bị (trang 62)
Em đọc lại mục Kiến thức ngữ văn về truyện kí ở đầu Bài 7, sau đó thực hiện các yêu cầu chuẩn bị.
Câu 1: Tìm hiểu hi sinh, mất mát trong kháng chiến và tác giả (trang 62)
Đọc trước văn bản Vào chùa gặp lại, tìm hiểu thêm những hi sinh, mất mát của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và thông tin về tác giả Minh Chuyên.
Trả lời:
- Về tác giả: xem mục tìm hiểu chung phía trên; cần nhớ ông là người lính trở về, viết về hậu chiến như trả món nợ ân tình với đồng đội.
- Về hi sinh, mất mát: hàng triệu người ngã xuống hoặc mang thương tật suốt đời; nhiều cô gái thanh niên xung phong, nữ bộ đội lỡ dở tuổi xuân, khi trở về không lập được gia đình; chất độc da cam để lại di chứng cho chính người lính và cả con cháu họ; nhiều gia đình mất người thân, nhiều đứa trẻ mồ côi.
Câu 2: Những điểm cần chú ý khi đọc truyện kí (trang 62)
Khi đọc văn bản, cần chú ý: tóm tắt văn bản; xác định chi tiết về người thật, việc thật và chi tiết hư cấu, sáng tạo; triết lí nhân sinh của văn bản; liên hệ với trải nghiệm của bản thân.
Trả lời:
- Tóm tắt ngắn: ở chùa Đông Am, tác giả gặp lại cô y sĩ năm xưa, nay là sư Đàm Thân, và nghe sư kể chuyện chiến trường, chuyện đi tu, chuyện người yêu cũ còn sống tìm đến nhưng bị sư từ chối.
- Người thật, việc thật: tên người (Lương Thị Thân, Vũ Thị Bích), địa danh (chùa Đông Am, Kiến Xương, Tiền Hải, dốc Chu Linh), mốc thời gian 12/2/1975, tỉ lệ thương tật 62%.
- Chi tiết sáng tạo: cảnh đêm khuya ở chùa với lời thoại, tâm trạng nhân vật được dựng lại sinh động; hình ảnh “hoa của lòng người” ở cuối văn bản.
- Triết lí nhân sinh: nỗi đau chiến tranh còn dai dẳng trong hòa bình, nhưng con người có thể vượt lên bằng lòng vị tha và việc thiện.
Đọc hiểu: câu hỏi trong khi đọc (trang 62 – 68)
Các câu hỏi in ở lề sách, gắn với từng đoạn của văn bản.
Câu 1: Thông tin về người thật, việc thật ở phần 1 (trang 62)
Chú ý các thông tin cụ thể về người thật, việc thật được nêu ở phần 1.
Trả lời:
- Địa điểm: chùa Đông Am, xã Quang Bình, huyện Kiến Xương (Thái Bình); quê của Thân ở Nam Cường – Tiền Hải.
- Con người: sư Đàm Thân (Lương Thị Thân), chị Vũ Thị Bích, người yêu của Thân là Nguyễn Hồng Quân.
- Sự việc, con số: Thân đang nuôi năm em nhỏ tàn tật là con của đồng đội nhiễm chất độc da cam; từng công tác ở binh trạm 31 của đoàn 559, rồi làm bệnh xá phó trung đoàn 8; bị thương ngày 12 tháng 2 năm 1975 trên dốc Chu Linh; về quê, thương tật tới 62%, thuộc diện thương binh hạng 2/4.
Câu 2: Chuyện “một thời đã qua” ở chiến trường (trang 62)
Sư Đàm Thân kể lại chuyện gì về “một thời đã qua” ở chiến trường?
Trả lời: Sư kể quãng đời quân y của mình: được cử ra Bắc học nhưng xin ở lại đến hết chiến dịch; giữa lúc ấy nhận tin anh Hồng Quân hi sinh, đau như mất đi một nửa cuộc sống. Không lâu sau, đoàn xe chở bộ đội của cô bị máy bay địch đánh trên dốc Chu Linh, cô bị thương ở đầu, gối, cột sống. Hai đồng đội đưa cô đi cứu chữa và cho cô máu của mình, rồi họ hi sinh vì pháo địch. Nằm điều trị trong nhà một gia đình theo đạo Phật, ngày ngày nghe tụng kinh, cô dần thấm lời Phật dạy.
Câu 3: Điều đặc biệt trong câu chuyện của nữ quân y (trang 63)
Câu chuyện ở chiến trường hơn hai mươi năm trước của nữ quân y Lương Thị Thân có gì đặc biệt?
Trả lời: Điều đặc biệt là chính những đau thương ở chiến trường đã dẫn Thân đến cửa Phật. Cô sống sót nhờ máu và sự hi sinh của hai đồng đội, mất người yêu, rồi được “cảm hóa” ngay trên giường bệnh khi nghe kinh. Vì vậy, khi hòa bình lập lại và sức khỏe hồi phục, dù có trai làng để ý, cô vẫn chọn đi tu: vừa để giữ vẹn mối tình đầu, vừa để cầu siêu cho ân nhân, đồng đội và người yêu.
Câu 4: Lời nhân vật và lời người kể chuyện ở phần 2 (trang 64)
Chú ý phân biệt lời nhân vật (sư Đàm Thân) và lời người kể chuyện xưng “tôi” trong phần 2.
Trả lời:
- Lời sư Đàm Thân: thường có dấu hiệu dẫn như “Đàm Thân bảo”, gạch đầu dòng hội thoại. Ví dụ: ý kiến cho rằng nghĩ vào chùa là được an nhàn chỉ là ảo vọng, người tu phải rèn cả tâm lẫn việc làm; lời kể về giờ giấc một ngày ở chùa từ ba giờ sáng đến một giờ đêm.
- Lời người kể “tôi”: nhận xét, bình luận và thông tin tác giả tự tìm hiểu, ví dụ: nhận xét con người tu hành cũng cần nghị lực rất lớn; điều tác giả tìm hiểu được từ Ủy ban Mặt trận huyện về lí do chùa Đông Am được công nhận gương mẫu.
Hai lời kể đan xen giúp văn bản vừa chân thực vừa có suy ngẫm.
Câu 5: Những việc làm tốt đời, đẹp đạo (trang 65)
Những việc làm tốt đời, đẹp đạo của sư Đàm Thân là gì?
Trả lời:
- Thời làm chú tiểu ở chùa Đông Chú: chăm nom sư bác Trần Diệu Tánh, người bị liệt toàn thân vì chất độc da cam, đồng thời quét dọn, trồng cấy, chăn nuôi để tự túc.
- Khi trụ trì chùa Đông Am: cùng mọi người tu sửa, mở mang ngôi chùa cổ đang hoang tàn thành nơi khang trang, hương khói đều đặn; chùa liên tục được công nhận “bốn gương mẫu”.
- Giữ cửa chùa trong sạch: không cho tạp giáo, mê tín chen vào, như văn bản ghi rõ: “Không lợi thế cửa Phật để làm những điều nhảm nhí, mê tín, đồng bóng, xóc thẻ, yểm bùa, đốt mã, gọi hồn”.
- Nuôi dưỡng năm em nhỏ tàn tật, mồ côi, con của đồng đội nhiễm chất độc da cam.
Câu 6: Tình huống bất ngờ (trang 66)
Tình huống bất ngờ ở đây là gì?
Trả lời: Một đêm khuya, khi Thân xách đèn ra sân chùa, cô thấy một người đàn ông đứng cạnh gốc đại có gương mặt giống hệt Hồng Quân. Cô tưởng vong linh anh hiện về nên chắp tay khấn cầu cho anh siêu thoát. Bất ngờ là người ấy bước ra và nói mình chính là Quân, anh vẫn còn sống.
Câu 7: Chuyện Hồng Quân kể lại (trang 66)
Nhân vật Hồng Quân đã kể lại chuyện gì?
Trả lời: Quân kể vì sao anh thoát chết: đơn vị anh tập kích địch ở sườn núi Bà Đen thì bị lộ, máy bay đến bắn phá; anh bị thương nặng, bị sức ép bom hất vào khe đá, đơn vị tưởng anh đã hi sinh và làm lễ truy điệu. Đến ngày thứ tư, người đi rừng phát hiện, dân bản Tà Keo cứu chữa rồi giao anh cho đội điều trị. Tỉnh lại, anh lại nghe báo Thân đã ngã xuống ở Lao Bảo nên sau giải phóng ở lại chữa vết thương, không về quê cô. Mãi đến khi sang thăm bố mẹ Thân, anh mới biết cô còn sống và đang tu ở chùa, nên tìm đến đón cô về.
Câu 8: Tình cảm, thái độ của Thân sau khi nghe Quân kể (trang 67)
Hình dung về tình cảm và thái độ của nhân vật Thân sau khi nghe Quân kể.
Trả lời: Thân xúc động đến nghẹn ngào, lòng ngổn ngang hai cảm xúc trái ngược. Cô mừng vì người mình yêu vẫn sống, nhưng cũng xót xa vì biết mình không thể ở bên chăm sóc anh nữa. Thái độ của cô dịu dàng mà dứt khoát: cô thành thật nói rằng nếu chưa đi tu thì chắc chắn cô đã về bên anh, nhưng nay đã theo đạo Phật, mong anh thông cảm.
Câu 9: Vì sao Thân từ chối lời cầu khẩn của Quân? (trang 67)
Trả lời: Có hai lí do:
- Thân đã phát nguyện tu hành, muốn giữ trọn con đường mình chọn, dù Quân gợi ý cô hoàn tục.
- Lí do sâu xa mà cô chưa nói với ai: vết thương cột sống cùng di chứng da cam khiến nửa người dưới của cô thường tê dại, bác sĩ kết luận cô không còn khả năng làm mẹ. Cô biết mình không thể mang lại hạnh phúc trọn vẹn cho Quân, nên từ chối để anh có cơ hội xây dựng cuộc sống mới.
Lời từ chối ấy xuất phát từ tình yêu và lòng vị tha chứ không phải vì đã hết thương.
Câu 10: Hành động bất ngờ của Quân (trang 68)
Hành động nào của Quân khiến người đọc bất ngờ?
Trả lời: Sau đêm chia tay, tưởng Quân sẽ lập gia đình như mong ước của Thân, nhưng khi đến chùa Bình Dương dự lễ Phật Đản, Thân gặp lại anh trong dáng một người tu hành: đầu cạo trọc, chít khăn nâu, mặc đồ nhà chùa. Anh cũng bị phơi nhiễm đi-ô-xin, sợ con cái sau này dị tật, vợ con phải khổ, nên không muốn lấy vợ; lại thấy Thân ở chùa vẫn giúp được bao người, anh cũng chọn xuất gia.
Câu 11: Hình dung về sư Đàm Thân qua lời kể của tác giả (trang 68)
Trả lời: Qua những gì tác giả kể, sư Đàm Thân hiện lên là người phụ nữ mang dấu tích chiến tranh trên thân thể (dáng đi hơi lệch, bước tập tễnh trong bộ áo nâu sẫm) nhưng tâm hồn thanh thản, sống điềm tĩnh, nhân hậu. Sư thủy chung trong tình yêu, giàu đức hi sinh, tận tụy với việc đạo, việc đời. Người kể dành cho sư sự kính trọng: ông coi sư như vị “bồ tát” nhân từ, và ở cuối văn bản liên tưởng đến hình ảnh “hoa của lòng người”.
Đọc hiểu: câu hỏi sau khi đọc (trang 69)
Sau khi đọc xong toàn bộ văn bản, em trả lời 6 câu hỏi dưới đây.
Câu 1: Các nhân vật và nhân vật chính (trang 69)
Văn bản trên có những nhân vật nào? Nhân vật chính là ai?
Trả lời:
- Các nhân vật: nhân vật “tôi” (tác giả), sư Đàm Thân (Lương Thị Thân), chị Vũ Thị Bích, anh Nguyễn Hồng Quân; ngoài ra còn những nhân vật được nhắc tới như bố mẹ Thân, sư bác Trần Diệu Tánh.
- Nhân vật chính: sư thầy Đàm Thân (Lương Thị Thân).
Câu 2: Tình huống gặp lại người nữ quân y và ý nghĩa (trang 69)
Nhân vật “tôi” gặp lại người nữ quân y trong tình huống nào? Ý nghĩa của tình huống ấy là gì?
Trả lời:
- Tình huống: đi qua gần chục ngôi chùa, tác giả ghé chùa Đông Am và bất ngờ nhận ra vị sư trụ trì chính là người y sĩ ông từng gặp ở binh trạm 31 cách đây hơn hai mươi năm. Hai người gặp lại ở một nơi rất khác: không phải chiến trường mà là cửa chùa.
- Ý nghĩa: tình huống tạo sự bất ngờ, gợi tò mò, mở ra lời kể hồi tưởng của nhân vật về chiến tranh. Nó cũng đặt quá khứ cạnh hiện tại: cô gái trẻ ra trận năm xưa nay khoác áo nâu, cho thấy chiến tranh đã thay đổi số phận con người ra sao. Đồng thời, cuộc gặp làm nổi bật sự trân trọng mà tác giả dành cho nhân vật.
Câu 3: Hình tượng nhân vật Đàm Thân và thái độ của tác giả (trang 69)
Phân tích hình tượng nhân vật Đàm Thân. Tác giả thể hiện thái độ, tình cảm như thế nào đối với nhân vật này? Dẫn ra một số câu văn chứng tỏ điều đó.
Trả lời:
a. Hình tượng nhân vật Đàm Thân
- Người nữ quân y dũng cảm: xin ở lại phục vụ đến hết chiến dịch thay vì ra Bắc học; nén đau mất người yêu để tiếp tục nhiệm vụ; bị thương nặng ở đầu, gối, cột sống.
- Người thủy chung, giàu tình nghĩa: vào chùa một phần để giữ vẹn mối tình đầu, một phần để cầu siêu cho đồng đội và hai ân nhân đã hiến máu cứu mình.
- Người có ý chí, bản lĩnh: trốn nhà đi tu, kiên trì thuyết phục cha mẹ; những năm đầu ở chùa làm việc từ sớm tinh mơ đến khuya, vừa học chữ Nho vừa tu luyện.
- Người nhân hậu, vị tha: chăm sóc sư bác bị liệt, nuôi năm em nhỏ tàn tật; từ chối Quân vì không muốn anh khổ, còn cầu chúc anh có cuộc sống mới tốt lành.
- Nạn nhân thầm lặng của chiến tranh: mất người yêu, mất khả năng làm mẹ, mang 62% thương tật và di chứng da cam.
b. Thái độ, tình cảm của tác giả: trân trọng, cảm phục, thương xót. Tác giả gọi nhân vật là vị “bồ tát” nhân từ, nhận xét việc tu hành cần nghị lực lớn, ghi lại cảm xúc nghẹn ngào của nhân vật bằng giọng kể cảm thông. Có thể dẫn:
- “Đi đâu, tới chùa nào Thân cũng được mọi người mến mộ, kính nể.”
- “Chiến tranh đã cướp mất tình yêu.”
- “Nhìn bóng Đàm Thân khuất sau cánh cửa Tam bảo, tôi chợt nhớ lời nhà sư nói về sự linh ứng của kinh Pháp hoa, và cứ mường tượng như thể mình đã nhìn thấy hoa của lòng người.”
Câu 4: Yếu tố hư cấu và phi hư cấu (trang 69)
Chỉ ra một số chi tiết cho thấy sự kết hợp giữa yếu tố hư cấu và phi hư cấu trong văn bản Vào chùa gặp lại. Phân tích tác dụng của sự kết hợp đó đối với việc thể hiện nội dung, ý nghĩa của văn bản.
Trả lời:
| Yếu tố phi hư cấu (người thật, việc thật) | Yếu tố hư cấu (sáng tạo của nhà văn) |
|---|---|
| Tên thật của nhân vật: Lương Thị Thân, Vũ Thị Bích; địa danh có thật: chùa Đông Am (Quang Bình, Kiến Xương), Nam Cường – Tiền Hải, Lao Bảo, dốc Chu Linh, núi Bà Đen. | Cảnh đêm khuya ở chùa được dựng lại như một trường đoạn truyện: tiếng mõ, ngọn đèn bão, bóng người bên gốc đại, Thân tưởng gặp vong hồn. |
| Mốc thời gian, số liệu: ngày 12/2/1975, binh trạm 31 đoàn 559, trung đoàn 8, 62% thương tật, thương binh 2/4. | Lời thoại dài, chi tiết giữa Thân và Quân, giữa Thân và Bích; diễn biến tâm trạng “vừa mê, vừa tỉnh” của nhân vật. |
| Sự việc có thật: nuôi năm trẻ tàn tật, chùa đạt danh hiệu “bốn gương mẫu”, thông tin tác giả hỏi từ Ủy ban Mặt trận huyện. | Hình ảnh liên tưởng ở cuối văn bản: nhìn bóng nhà sư mà như thấy “hoa của lòng người”. |
Tác dụng: yếu tố phi hư cấu làm văn bản có sức thuyết phục của một tư liệu, khiến người đọc tin rằng những hi sinh ấy là có thật. Yếu tố hư cấu giúp câu chuyện sinh động, có kịch tính, đi sâu được vào nội tâm nhân vật và gợi cảm xúc. Nhờ kết hợp hai yếu tố, văn bản vừa phản ánh chân thực hậu quả chiến tranh, vừa tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ từng ra trận.
Câu 5: Suy nghĩ về những hi sinh cao cả của nhân dân (trang 69)
Từ câu chuyện của các nhân vật trong văn bản, em suy nghĩ gì về những hi sinh cao cả của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc?
Trả lời: Câu chuyện của Thân, Quân và hai người chiến sĩ hiến máu cho em hiểu rằng cái giá của hòa bình không chỉ đo bằng những người đã ngã xuống. Có những hi sinh kéo dài sau ngày chiến thắng: một cô gái mất khả năng làm mẹ, một đôi lứa không thể thành vợ chồng dù cả hai còn sống, những đứa trẻ sinh ra đã tàn tật vì chất độc da cam. Họ hiến dâng tuổi trẻ, tình yêu, sức khỏe mà không đòi hỏi gì. Thế hệ hôm nay cần biết ơn, trân trọng và chung tay chăm lo cho những thương binh, nạn nhân chiến tranh còn đang sống quanh ta.
Câu 6: Thông điệp nhân sinh và ý nghĩa hôm nay (trang 69)
Theo em, câu chuyện muốn truyền đạt tới người đọc thông điệp nhân sinh gì? Điều đó còn có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống hôm nay?
Trả lời:
- Thông điệp: chiến tranh để lại nỗi đau dai dẳng, cướp đi cả những hạnh phúc giản dị nhất của con người; nhưng con người có thể vượt lên bi kịch bằng tình yêu thương, sự bao dung và việc làm có ích cho đời.
- Ý nghĩa hôm nay: nhắc chúng ta trân trọng hòa bình, biết ơn lớp người đi trước, quan tâm tới nạn nhân chất độc da cam và thương binh. Gặp mất mát, hãy biến nỗi đau thành sức mạnh để sống tử tế.
Kết luận
Soạn bài Vào chùa gặp lại giúp em nắm được đặc trưng của truyện kí: ghi lại người thật, việc thật nhưng vẫn có sáng tạo trong cách dựng cảnh, lời thoại và miêu tả tâm trạng. Khi ôn tập, em nhớ ba phần, hai cuộc gặp lại và hình ảnh khép lại văn bản.
Xem thêm:
- Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường), văn bản thực hành đọc hiểu cùng Bài 7
- Soạn bài Ai đã đặt tên cho dòng sông?
- Mục lục Ngữ văn 11 Cánh diều